CHƯƠNG 1. NHŨNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG VÈ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT 1. Khái quát về quản trị công ty niêm yết 1,1,1, Khái niệm và đặc điểm của công ty niêm yết ỉ. Khái niêm công ty niêm yết Trước đây, theo quy định cùa Luật chứng khoán năm 2006, công ty đại chúng là công ty cố phần thuộc một trong ba loại hình sau: (i) Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng, (ii) Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán, (iii) Công ty có cồ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên.
Trong ba loại hình này, công ty đại chúng thuộc loại hình (ii) sẽ được gọi là công ty niêm yết. Nội dung này được thể hiện tại Điểm b, Khoản 1 Điều 2 Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán/trung tâm giao dịch chứng khoán (ban hành kèm theo Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính): “Công ty niêm yết là công ty cỏ phần được chấp thuận niêm yết cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm Giao dịch chứng khoán trên lãnh thô Việt Nam \ Tuy vậy, trong các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật chứng khoán ban hành sau đó đều không có định nghĩa trực tiếp về công ty niêm yết nhưng vẫn sử dụng thuật ngữ này, ví dụ như: Thông tư 121/2012/TT-BTC quy định về Quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng dành hẳn một Chương VII quy định về Công ty đại chúng quy mô lớn và công ty niêm yết; Nghị định 71/2017/NĐ-CP của Chính phủ Hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng và Thông tư 95/2017/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Nghị định 71/2017/NĐ-CP đều có đề cập một số quy định riêng áp dụng cho công ty niêm yết đề phân biệt với các công ty đại chúng chưa niêm yết;. Tương tư như vậy, mặc dù Luật chứng khoán năm 2019 không sử dụng thuật ngữ “Công ty niêm yết” nhưng tại Nghị định 155/2020/NĐ-CP Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Thông tư 116/2020/TT-BTC hướng 6 dẫn một số điều về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng tại Nghị định số 155/2020/NĐ-CP vẫn xuất hiện các thuật ngữ này. Thực tế, mặc dù Luật chứng khoán năm 2019 không đưa ra khái niệm về công ty niêm yết nhưng đã đưa ra giải thích về niêm yết chứng khoán: “Niêm yết chứng khoán là việc đưa chứng khoán có đủ điều kiện niêm yết vào giao dịch trên hệ thống giao dịch cho chứng khoán niêm yết” (Khoản 24 Điều 4).
Bên cạnh đó, Luật này cũng đưa ra khái niệm về “Tô chức niêm yết, tô chức đăng kỷ giao dịch là tô chức có chứng khoán phát hành hoặc đăng kỷ giao dịch trên hệ thống giao dịch chứng khoán” (Khoản 48 Điều 4 Luật chứng khoán năm 2019). Thuật ngũ’ “tổ chức niêm yết” có sự mở rộng hơn so với “công ty niêm yết” trước đây. Bởi theo định nghĩa về niêm yết chứng khoán nêu trên thì một công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có thể niêm yết chứng khoán, trường hợp công ty này đưa trái phiếu vào giao dịch trên thị trường chứng khoán có tồ chức. Như vậy tồ chức niêm yết không chỉ có các công ty cổ phần mà còn gồm các tổ chức khác có chứng khoán được phát hành.
Tuy vậy, theo cách hiếu thông thường, khái niệm “listed company” - công ty niêm yết thường được gắn với loại hình CTCP do hoạt động niêm yết chứng khoán chủ yếu được thực hiện bởi CTCP, còn các chù thể niêm yết chứng khoán khác sẽ được gọi là tổ chức niêm yết. Ngoài ra, các quốc gia đều ghi nhận các điều kiện để công ty có thể tham gia niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán. Mặc dù có các tiêu chuẩn riêng khác nhau nhưng điều kiện niêm yết thường được gắn cho CTCP khi liên quan tới tình hình cổ phiếu đang lưu hành, vốn thị trường, số lượng cổ phần nắm giữ và giá cổ phiếu cùa công ty [12]. Ngoài ra, nếu chỉ xem xét đến vẩn đề QTCT, có thể thấy CTCP là loại hình doanh nghiệp được quan tâm nhiều hơn.
Điều này xuất phát từ sự phức tạp trong cơ cấu chủ sở hữu cũng như cơ cấu tổ chức quản lý cúa CTCP khi các cố đông là những người trực tiếp bỏ vốn vào công ty nhưng lại không có quyền quản lý, điều hành hoạt động của công ty mà phải thông qua HĐQT - cơ quan đại diện, thay mặt cho ĐHĐCĐ quản lý các hoạt động của công ty. Sau đó, HĐỌT lại tiếp tục bầu ra GĐ/TGĐ để trực 7 tiếp điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Chính từ sự tách bạch giữa vấn đề sở hữu và vấn đề quản trị trong CTCP, nội dung QTCT thường được gắn với loại hình CTCP chứ không phải là loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn. Quan điểm và cách hiểu này cũng được thống nhất thông qua cách sử dụng thuật ngừ “listed company” trước hết được hiểu là CTCP trong rất nhiều tác phẩm, nghiên cứu về QTCT của OECD (2011) hay CFA ĩnstitue (2018) và một số các tác giả ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Chính vì lẽ đó, theo thông lệ quốc tế, khi xây dựng các văn bản pháp luật và các bộ quy chế về QTCT đối với công ty niêm yết, các tồ chức quốc tế cũng như các quốc gia chỉ tập trung hoàn thiện mô hình CTCP và nâng cao vai trò của HĐQT - cơ quan đặc trưng của CTCP. Xuất phát từ cách hiểu này, tất cả các quy chế QTCT, các điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trong các văn bản pháp lý sau này ở Việt Nam đều đưa ra các yêu cầu về QTCT chỉ áp dụng đối với loại hình CTCP [12]. Đối chiếu với các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam, quy định tố chức niêm yết (bao gồm cả CTCP và các tổ chức khác) tại Luật Chứng khoán hiện nay được sử dụng để phân biệt với thuật ngữ công ty niêm yết (chỉ là các CTCP) tại Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC cùa Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán/trung tâm giao dịch chứng khoán. Từ những lý do trên, trong phạm vi đề tài này, tác giả giới hạn việc nghiên cứu vào đối tượng nghiên cứu là CTCP có cố phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán.
Đặc điểm công ty niêm yết Như đã phân tích ở trên, công ty niêm yết là CTCP, do đó, sẽ có đầy đủ các đặc điểm của một CTCP. Tuy vậy, công ty niêm yết có một số đặc trưng so với CTCP thông thường như sau: Thứ nhất, công ty niêm yết có cố phiếu được niêm yết giao dịch trên các Sở giao dịch chứng khoán. Trong đó, việc niêm yết chứng khoán cần tuân thủ quy định tại điều 48 Luật chứng khoán năm 2019 và Nghị định 155/2020/NĐ-CP Quy định chi 8 tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán; Sở giao dịch chứng khoán có vai trò tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán cho chứng khoán đủ điều kiện niêm yết (Điều 42 Luật chứng khoán năm 2019). Thứ hai, công ty niêm yết có cơ cấu tô chức nội bộ phức tạp hơn so với CTCP thông thường.
Ớ CTCP có sự tách biệt giữa việc sở hữu và việc quản lý công ty. cổ đông sẽ lựa chọn những người đại diện cho họ vào một tồ chức trong cơ cấu của công ty để cùng xem xét những vấn đề quan trọng liên quan đến vốn liếng, tổ chức và hoạt động của công ty, gọi là HĐQT, thay vì việc cổ đông trực tiếp kiểm soát hoạt động hàng ngày của công ty. Vì số lượng cổ đông lớn nên cổ đông từ bỏ quyền quyết định trên tất cả các vấn đề, trừ các vấn đề quan trọng mà công ty phải đương đầu để công ty có thế hoạt động với hiệu quả cao nhất. Cơ chế quản lý này càng được tập trung cao hơn ở công ty niêm yết khi số lượng cổ đông đặc biệt nhiều, khi nhu cầu của cổ đông nói chung cũng như của cổ đông thiểu số cần phải được đảm bảo, vấn đề trung thành, trung thực, công khai thông tin của những người quản lỷ được quan tâm nhiều hơn.
Đây chính là lý do khi CTCP phát triển trở thành công ty niêm yết thì công ty đó bắt buộc phải áp dụng quy chế QTCT chặt chẽ hơn so với công ty thông thường. Thứ ha, công ty niêm yết chịu sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp và pháp luật chứng khoán. Công ty niêm yết trước hết là CTCP, một loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc thành lập, tồ chức và hoạt động của công ty niêm yết trước hết phải đảm bảo các yêu cầu của pháp luật doanh nghiệp.
Tiếp đó, khi tiến hành việc niêm yết, giao dịch chứng khoán, CTCP phải đáp ứng được những điều kiện nhất định theo quy định pháp luật chứng khoán. Ngoài ra, công ty niêm yết cũng phải tuân thủ các quy định riêng về QTCT áp dụng đối với công ty đại chúng có cổ phiếu niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán do Bộ Tài chính ban hành. Thứ tư, công ty niêm yết chịu sự quản lý của Sở giao dịch chứng khoán và ủy ban chứng khoán nhà nước. Khác với các doanh nghiệp khác, ngoài chịu sự quản lý của Sở Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan quản lý chuyên ngành (như Bộ Công thương, Bộ Tài chính.), các công ty niêm yết còn phải chịu sự quản lý của Sở giao dịch chứng khoán và ủy ban chứng khoán nhà nước trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty niêm yết như là: phát hành, đăng ký, lưu ký chứng khoán; báo cáo và công bố thông tin.
Trong trường hợp phát hiện những vi phạm của công ty niêm yết, tuỳ theo mức độ, công ty niêm yết có thể bị áp dụng các chế tài như: đưa chứng khoán vào diện kiểm soát, ngừng giao dịch, huỷ niêm yết hoặc chịu xử phạt vi phạm hành chính từ phía Sở giao dịch chứng khoán và ủy ban chứng khoán nhà nước. Bởi những đặc trưng này nên vấn đề quản trị công ty tại công ty niêm yết được đặt ra nhiều hơn với các doanh nghiệp là công ty cồ phần thông thường.