Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư gắn liền với sự phát triển của công nghệ số đã làm xuất hiện nhiều mô hình kinh tế mới, trong đó kinh tế chia sẻ (KTCS) là mô hình phát triển nhanh chóng và tạo ra những biến chuyển sâu sắc trong quản lý kinh doanh cũng như hoạch định chính sách kinh tế - xã hội. Xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX nhưng chỉ thực sự bùng nổ trên thế giới sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, KTCS đã tạo ra phương thức kết nối trực tiếp giữa chủ sở hữu nguồn lực dư thừa và người có nhu cầu thông qua các nền tảng công nghệ số. Tại Việt Nam, Điều 33 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Sự gia nhập và phát triển mạnh mẽ của mô hình KTCS đòi hỏi quyền tự do kinh doanh của các bên tham gia phải được nhìn nhận, tôn trọng và bảo đảm thực thi trong một môi trường pháp lý tương thích. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Thái Vân Anh đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về quyền tự do kinh doanh trong nền kinh tế chia sẻ” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Kinh tế tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Viết Tý).

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Thông qua việc phân tích các quy định pháp luật Việt Nam về quyền tự do kinh doanh trong nền KTCS, làm rõ cơ sở bảo đảm quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và thực hiện trong lĩnh vực kinh tế số.
  2. Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật điều chỉnh quyền tự do kinh doanh trong mô hình KTCS tại Việt Nam (có đối chiếu với kinh nghiệm của một số quốc gia) nhằm nhận diện thành tựu cùng những vướng mắc, bất cập phát sinh.
  3. Đề xuất các kết luận, kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi nhằm tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng và bảo hộ quyền tự do kinh doanh trong nền KTCS.

Nhiệm vụ nghiên cứu được triển khai theo 3 nội dung trọng tâm:

  1. Nghiên cứu hệ thống vấn đề lý luận về mô hình KTCS, bản chất, nội dung và đặc trưng của quyền tự do kinh doanh trong nền KTCS.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng các văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn thi hành quyền tự do kinh doanh đối với các mô hình KTCS tại Việt Nam.
  3. Luận giải nguyên nhân của các tồn tại pháp lý và kiến nghị định hướng sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật cùng các biện pháp hỗ trợ từ phía cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nền tảng và người dân.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh quyền tự do kinh doanh trong nền KTCS, bao gồm các quy chuẩn pháp lý về gia nhập thị trường, hợp đồng, cạnh tranh, huy động vốn và các quyền tự do liên quan.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu vào hệ thống pháp luật và thực tiễn thị trường Việt Nam; đồng thời tham chiếu quy định, chính sách quản lý mô hình KTCS tại một số khu vực và quốc gia trên thế giới như Liên minh Châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Trung Quốc, Singapore.
  • Phạm vi thời gian và văn bản: Khai thác các văn bản pháp luật hiện hành và các số liệu thực tiễn tính đến năm 2023, trọng tâm là Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Đầu tư 2020, Luật Thương mại 2005, Luật Cạnh tranh 2018, Luật Giao dịch điện tử 2005/2023, Nghị định 52/2013/NĐ-CP, cùng các định hướng thể chế như Quyết định số 999/QĐ-TTg ngày 12/8/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ và Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các khái niệm học thuật và khung lý thuyết pháp lý - kinh tế:

  • Khái niệm và bản chất kinh tế chia sẻ: KTCS (sharing economy) được tiếp cận đồng quy với các thuật ngữ như kinh tế cộng tác (collaborative economy), kinh tế theo yêu cầu (on-demand economy), kinh tế nền tảng (platform economy), hay kinh tế truy cập (access economy). Mô hình vận hành trên mạng lưới ngang hàng (peer-to-peer network), lấy việc tối ưu hóa và tái phân phối quyền sử dụng nguồn lực dư thừa làm trọng tâm thay vì chuyển giao quyền sở hữu tài sản. Khóa luận tiếp thu Thông báo năm 2016 của Ủy ban Châu Âu để xác lập cấu trúc 3 chủ thể trong nền kinh tế hợp tác: (1) Nhà cung cấp dịch vụ chia sẻ tài sản, thời gian, kỹ năng; (2) Người sử dụng dịch vụ; (3) Bên trung gian cung cấp nền tảng kết nối trực tuyến. Đồng thời, công trình trích dẫn phân loại của J. Wallenstein và U. Sheth (2017) chia KTCS thành 3 mô hình vận hành: Nền tảng tập trung, Nền tảng phi tập trung và Nền tảng hỗn hợp.
  • Khái niệm và đặc điểm quyền tự do kinh doanh: Được tiếp cận từ nguồn gốc nhân quyền phổ quát theo Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1966. Tại Việt Nam, quyền này mang tính hiến định qua Điều 14, Điều 33 Hiến pháp 2013 và các nghiên cứu lý luận của PGS.TS. Ngô Huy Cương, PGS.TS. Bùi Ngọc Cường. Quyền tự do kinh doanh trong KTCS được định nghĩa là quyền của mọi cá nhân, tổ chức được tự do tiến hành các hoạt động kinh doanh mà pháp luật không cấm, thông qua các nền tảng công nghệ số nhằm khai thác và chia sẻ nguồn lực dư thừa.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp phân tích: Áp dụng để mổ xẻ các định nghĩa, đặc điểm của KTCS, nội hàm quyền tự do kinh doanh và từng điều khoản quy định cụ thể của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Bộ luật Dân sự, Luật Cạnh tranh.
  • Phương pháp tổng hợp: Sử dụng để đánh giá có hệ thống những thành tựu kinh tế, số liệu thị trường cũng như những vướng mắc, khoảng trống pháp lý phát sinh trong thực tiễn điều chỉnh các giao dịch nền tảng số.
  • Phương pháp lịch sử cụ thể và phương pháp đối chiếu xã hội: Làm rõ sự thay đổi tư duy quản lý nhà nước qua các mốc phát triển công nghệ, đồng thời đối chiếu giữa khung khổ văn bản pháp lý với thực trạng xã hội để đề xuất giải pháp thích ứng.

Nguồn dữ liệu trong khóa luận bao gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam; các báo cáo và số liệu thực chứng từ Báo cáo khảo sát người tiêu dùng của Nielsen (2020), Báo cáo Homesharing Vietnam Insight của Outbox Consulting (2015–2019), Báo cáo thị trường Fintech Việt Nam của Nextrans (2021, 2022); dữ liệu từ Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Sở Giao thông Vận tải TP. Hồ Chí Minh; cùng các nghiên cứu chuyên khảo đăng tải trên Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Tài chính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền tự do kinh doanh trong nền kinh tế chia sẻ

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về KTCS và quyền tự do kinh doanh trong môi trường công nghệ số:

  • Bản chất và các yếu tố vận hành KTCS: Mô hình hoạt động dựa trên 3 yếu tố quyết định gồm: (1) Nhu cầu trải nghiệm, sử dụng tài sản thay vì sở hữu của người tiêu dùng; (2) Sự bùng nổ của khoa học công nghệ (Internet, ứng dụng di động, dữ liệu lớn); (3) Mạng lưới liên kết người dùng quy mô lớn. Doanh nghiệp công nghệ giữ vai trò trung gian kết nối và tạo lập hạ tầng mà không sở hữu tài sản trực tiếp (như trường hợp sàn thương mại Shopee kết nối người bán và người mua).
  • Vai trò và tiềm năng tại Việt Nam: KTCS góp phần tối ưu hóa nguồn lực dư thừa, giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch thông qua hệ thống đánh giá/phản hồi trực tuyến, tạo việc làm và thúc đẩy bảo vệ môi trường nhờ giảm lãng phí tài nguyên. Về tiềm năng, số liệu khảo sát của Nielsen (2020) cho thấy 75% người Việt Nam thích ý tưởng mô hình kinh doanh KTCS (cao hơn mức trung bình toàn cầu là 66%), và 76% người được hỏi sẵn sàng tận dụng sản phẩm/dịch vụ chia sẻ.
  • Nhận diện quyền tự do kinh doanh trong KTCS: Khóa luận xác lập 2 đặc điểm cốt lõi: Đây là quyền cơ bản của con người mang tính hiến định, nhưng đồng thời là quyền có điều kiện (chỉ được thực hiện trong phạm vi ngành nghề pháp luật không cấm, không xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và đạo đức xã hội). Cấu trúc quyền tự do kinh doanh trong KTCS được làm rõ qua 6 nhóm nội dung:
    1. Quyền tự do thành lập doanh nghiệp (lựa chọn tên gọi, trụ sở, vốn điều lệ, mô hình);
    2. Quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh;
    3. Quyền tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp và quy mô kinh doanh;
    4. Quyền tự do lựa chọn hình thức, cách thức huy động vốn (bao gồm các phương thức phi truyền thống như cho vay ngang hàng - P2P Lending, công nghệ tài chính - Fintech);
    5. Quyền tự do hợp đồng (giao kết hợp đồng điện tử 3 bên: Bên cung cấp dịch vụ - Nền tảng kết nối - Người sử dụng dịch vụ);
    6. Quyền tự do cạnh tranh lành mạnh và các quyền tự do kinh doanh khác mà pháp luật không cấm (tự do đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ).

Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về quyền tự do trong nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy định pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng đối với từng cấu phần của quyền tự do kinh doanh:

  • Quy định pháp luật hiện hành:
    • Về chủ thể và ngành nghề: Hiến pháp 2013 (Điều 33), Luật Doanh nghiệp 2020 (Điều 7), Luật Đầu tư 2020 (Điều 5) trao quyền tự do kinh doanh cho mọi chủ thể trong các lĩnh vực pháp luật không cấm. Đối với các hành vi đầu tư kinh doanh vào ngành nghề bị cấm, Khoản 3, 4 Điều 16 Nghị định 122/2021/NĐ-CP quy định mức phạt tiền từ 20 đến 300 triệu đồng đối với tổ chức (cá nhân bằng 1/2), đồng thời áp dụng biện pháp buộc chấm dứt hoạt động và nộp lại số lợi bất hợp pháp. Quyết định 999/QĐ-TTg và Nghị quyết 52-NQ/TW đã mở ra cơ chế thí điểm (regulatory sandbox) cho các mô hình kinh doanh mới từ CMCN 4.0.
    • Về loại hình doanh nghiệp và quy mô: Khoản 2 Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2020 bảo đảm quyền tự chủ lựa chọn hình thức tổ chức (doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh) và chủ động điều chỉnh quy mô kinh doanh.
    • Về huy động vốn: Doanh nghiệp được phát hành cổ phiếu (theo Luật Chứng khoán 2019), phát hành trái phiếu (theo Nghị định 153/2020/NĐ-CP và Nghị định 65/2022/NĐ-CP), vay ngân hàng hoặc tiếp cận vốn qua mô hình công nghệ P2P Lending.
    • Về hợp đồng điện tử: Xác lập quan hệ hợp đồng 3 bên được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 116 về giao dịch dân sự, Điều 385 về hợp đồng, Điều 386 về đề nghị giao kết, Điều 398 về nội dung hợp đồng); Luật Giao dịch điện tử 2005 (Điều 33, 35) và Luật Giao dịch điện tử 2023 (Điều 34 về hợp đồng điện tử qua hệ thống thông tin tự động); cùng Nghị định 52/2013/NĐ-CP (Điều 18 quy định cơ chế rà soát, xác nhận nội dung đơn hàng, Điều 26 về nguyên tắc giao kết hợp đồng thương mại điện tử).
    • Về cạnh tranh lành mạnh: Điều 5 và Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 kiểm soát 7 nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh; giải quyết bài toán cạnh tranh bình đẳng giữa mô hình KTCS và kinh tế truyền thống theo định hướng của Quyết định 999/QĐ-TTg.
  • Thực tiễn áp dụng và số liệu phát triển: Khóa luận tổng hợp các số liệu phản ánh sự phát triển của các mô hình KTCS tại Việt Nam:
Lĩnh vực Đơn vị / Doanh nghiệp tiêu biểu Số liệu thực chứng được ghi nhận trong văn bản
Vận tải trực tuyến Grab, Gojek, Be, FastGo, Vato... - Năm 2017: Cả nước có 366 đơn vị vận tải với 6.809 xe thí điểm. TP.HCM có 506 đơn vị, 3 nền tảng, 21.600 xe; Hà Nội có 354 đơn vị, 7 nền tảng, 15.046 xe. Tỷ lệ tăng trưởng xe hợp đồng điện tử tại TP.HCM năm 2017 đạt 38,2% so với 2016.
- Năm 2021: Grab có khoảng 200.000 lái xe tại 60 tỉnh/thành phố; Gojek đạt 200.000 đối tác tài xế xe 2 bánh; Be có hơn 100.000 tài xế (đầu 2021).
- Tác động cạnh tranh: Sau 5 năm thâm nhập (từ 2014), sự phát triển của Grab/Uber đã làm 40 hãng taxi truyền thống biến mất khỏi thị trường.
Lưu trú chia sẻ Airbnb, Luxstay, Agoda, Traveloka... - Năm 2017: Có 6.500 cơ sở tham gia Airbnb tại Việt Nam với hơn 16.000 phòng tại Hà Nội và TP.HCM. Luxstay xây dựng mạng lưới gần 10.000 chỗ ở trên cả nước (85% phản hồi tích cực).
- Giai đoạn 2015–2019 (Outbox Consulting): Số lượng phòng Airbnb tăng hơn 40 lần, từ 1.000 phòng (2015) lên 40.804 cơ sở vào đầu năm 2019.
Tài chính - Ngân hàng (Fintech & P2P Lending) Tima, Trust Circle, Lendbiz, Vaymuon... - Quy mô thị trường Fintech: Dự báo đạt 18 tỷ USD năm 2024 (tăng từ 4,5 tỷ USD năm 2016); 93% vốn mạo hiểm tập trung vào ví điện tử và thanh toán.
- Số lượng công ty Fintech tăng nhanh: Từ 39 công ty (cuối 2015) lên hơn 154 công ty (cuối 2021) và hơn 260 công ty (cuối 2022).
- Cho vay ngang hàng: Khoảng 100 công ty P2P Lending đang hoạt động hoặc thử nghiệm.
Bán lẻ, thương mại qua mạng xã hội Doanh nghiệp nhỏ trên Facebook - 77% doanh nghiệp nhỏ tại Việt Nam sử dụng nền tảng Facebook để tăng doanh số bán hàng.
  • Vướng mắc, bất cập và nguyên nhân: Văn bản pháp luật điều chỉnh KTCS chưa có hệ thống văn bản riêng mà chủ yếu áp dụng tương tự các quy định kinh tế truyền thống; thiếu quy chế pháp lý minh định cho P2P Lending dẫn tới nguy cơ lách luật; cơ chế quản lý điều kiện kinh doanh và bảo vệ quyền lợi người lao động/tài xế nền tảng còn khoảng trống; quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) triển khai chậm so với tốc độ đổi mới sáng tạo thực tế.

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền tự do kinh doanh trong nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam

Trên cơ sở nhận diện các rào cản pháp lý, Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Cụ thể hóa khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) theo tinh thần Nghị quyết số 52-NQ/TW và Quyết định 999/QĐ-TTg, giới hạn rõ về không gian và thời gian thử nghiệm cho các nền tảng công nghệ số mới.
    • Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng điện tử 3 bên, làm rõ trách nhiệm pháp lý và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của bên cung cấp nền tảng công nghệ số đối với người tiêu dùng và nhà cung cấp dịch vụ trực tiếp.
    • Ban hành khung pháp lý rõ ràng cho mô hình tài chính công nghệ mới, đặc biệt là hoạt động cho vay ngang hàng (P2P Lending), tránh tình trạng hoạt động tín dụng đen núp bóng công nghệ.
    • Sửa đổi các quy định về cạnh tranh và thuế, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, công bằng giữa các doanh nghiệp cung cấp nền tảng KTCS trong nước, ngoài nước và doanh nghiệp kinh doanh truyền thống.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật:
    • Đối với Nhà nước: Đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy trình đăng ký kinh doanh và cấp phép đối với doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; thực hiện các gói hỗ trợ tài chính, tạo điều kiện tiếp cận vốn cho các bên tham gia KTCS; nâng cao hiệu lực kiểm tra, kiểm soát an ninh dữ liệu, bảo vệ thông tin cá nhân và quản lý thuế.
    • Đối với doanh nghiệp cung cấp nền tảng công nghệ số: Minh bạch hóa các điều khoản hợp đồng mẫu và cơ chế định giá; tăng cường các biện pháp kỹ thuật bảo mật dữ liệu người dùng; phối hợp đầy đủ với cơ quan quản lý trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế và bảo đảm quyền lợi các bên tham gia mạng lưới.
    • Đối với người dân: Nâng cao nhận thức pháp lý về quyền và nghĩa vụ khi tham gia giao dịch nền tảng; thận trọng trong việc giao kết các hợp đồng điện tử và bảo vệ thông tin cá nhân trên môi trường trực tuyến.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả và đóng góp học thuật cụ thể:

  • Kết quả thực chứng: Tổng hợp hệ thống dữ liệu toàn diện về sự phát triển của các mô hình KTCS tại Việt Nam từ năm 2014 đến 2022-2023, ghi nhận bước tăng trưởng nhảy vọt trong các ngành vận tải (trên 200.000 tài xế Grab, 200.000 đối tác Gojek, 100.000 đối tác Be), lưu trú (Airbnb tăng hơn 40 lần từ 1.000 phòng lên 40.804 cơ sở sau 4 năm), và Fintech (tăng từ 39 công ty năm 2015 lên hơn 260 công ty năm 2022).
  • Kết quả lý luận: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ bản chất của quyền tự do kinh doanh dưới tác động của công nghệ số, chỉ ra sự dịch chuyển từ cấu trúc hợp đồng song phương truyền thống sang quan hệ hợp đồng điện tử 3 bên mang tính đặc thù trong KTCS.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khác với các công trình trước đây chỉ dừng lại ở việc tiếp cận KTCS dưới góc độ kinh tế học thuần túy hoặc nghiên cứu chung về quyền tự do kinh doanh (như nghiên cứu của PGS.TS. Bùi Ngọc Cường, GS.TS. Mai Hồng Quỳ), khóa luận của tác giả Thái Vân Anh đã đi sâu trực tiếp vào phân tích hệ thống quy định pháp luật thực định điều chỉnh quyền tự do kinh doanh gắn liền với bản chất của mô hình KTCS tại Việt Nam, mang lại góc nhìn pháp lý có tính cập nhật cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích hệ thống pháp luật thực định của Việt Nam, phần so sánh pháp luật quốc tế chỉ dừng ở mức độ điểm lược khái quát kinh nghiệm chung mà chưa đi sâu đối chiếu chi tiết từng điều khoản lập pháp của các quốc gia cụ thể. Về mặt thực tiễn, số liệu và mô hình khảo sát mới chỉ tập trung sâu vào 3 lĩnh vực nổi bật (vận tải, lưu trú, Fintech/P2P Lending), chưa bao quát toàn diện các ngành chia sẻ tiềm năng khác như dịch vụ việc làm, chia sẻ không gian làm việc (coworking space) hay thiết bị chuyên dụng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục đánh giá tác động thực tế của Luật Giao dịch điện tử 2023 khi chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024; theo dõi việc thể chế hóa khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho hoạt động Fintech và cho vay ngang hàng; hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến phát sinh từ giao dịch 3 bên trong nền kinh tế số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Quản trị kinh doanh và Kinh tế số nghiên cứu về các khía cạnh pháp lý của kinh tế nền tảng.
  • Các cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ, cung cấp góc nhìn toàn diện về quyền hạn, nghĩa vụ pháp lý, quy chế hợp đồng điện tử và điều kiện gia nhập thị trường.
  • Các nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách trong quá trình tham khảo hoàn thiện khung thể chế thử nghiệm (sandbox) và điều tiết quan hệ cạnh tranh giữa mô hình kinh tế mới và mô hình kinh tế truyền thống.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất là Mục 2.1 (Chương 2) với việc rà soát, đối chiếu chi tiết 6 nhóm quyền tự do kinh doanh trong các văn bản luật thực định, và hệ thống số liệu thực tiễn tại Mục 2.2 phản ánh sự phát triển của các doanh nghiệp nền tảng tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Quyết định số 999/QĐ-TTg ngày 12/8/2019 của Thủ tướng Chính phủ, mô hình kinh tế chia sẻ bao gồm những chủ thể nào?
Trả lời: Điều 1 Quyết định số 999/QĐ-TTg xác định mô hình kinh tế chia sẻ có sự tham gia của 3 nhóm chủ thể cơ bản: (1) Người cung cấp dịch vụ (chủ sở hữu tài sản, nguồn lực); (2) Người sử dụng dịch vụ (khách hàng tiêu dùng); và (3) Doanh nghiệp cung cấp nền tảng công nghệ số kết nối hai bên.

2. Giai đoạn 2015–2019, số lượng cơ sở lưu trú của mô hình Airbnb tại Việt Nam tăng trưởng như thế nào?
Trả lời: Theo Báo cáo “Homesharing Vietnam Insight” của Outbox Consulting được trích dẫn trong khóa luận, số lượng phòng Airbnb tại Việt Nam đã tăng hơn 40 lần chỉ sau 4 năm, từ con số 1.000 phòng vào năm 2015 lên tới 40.804 cơ sở vào đầu năm 2019.

3. Khác biệt căn bản trong quan hệ hợp đồng của nền kinh tế chia sẻ so với mô hình kinh tế truyền thống là gì?
Trả lời: Trong nền kinh tế truyền thống, hợp đồng thường chỉ được xác lập giữa hai bên (bên bán và bên mua). Trong mô hình kinh tế chia sẻ, xuất hiện quan hệ hợp đồng 3 bên với 3 mối quan hệ cơ bản: quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ với doanh nghiệp nền tảng công nghệ, quan hệ giữa doanh nghiệp nền tảng với khách hàng sử dụng, và quan hệ trực tiếp giữa khách hàng với người cung cấp dịch vụ; các giao dịch này chủ yếu được thực hiện dưới hình thức hợp đồng điện tử thông qua ứng dụng di động hoặc website trung gian.

4. Hành vi kinh doanh ngành nghề bị pháp luật cấm trong quá trình thực hiện quyền tự do kinh doanh bị xử lý ra sao theo pháp luật Việt Nam?
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 16 Nghị định số 122/2021/NĐ-CP, tổ chức thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề cấm kinh doanh bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng; đồng thời bị buộc chấm dứt hoạt động đầu tư kinh doanh và nộp lại số lợi bất hợp pháp có được. Mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

5. Sự xuất hiện của các hãng xe công nghệ (Grab, Uber) từ năm 2014 đã tác động như thế nào đến thị phần của các hãng xe taxi truyền thống tại Việt Nam?
Trả lời: Khóa luận ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của các ứng dụng gọi xe công nghệ đã tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt đối với loại hình vận tải truyền thống, dẫn đến hệ quả chỉ sau 5 năm thâm nhập thị trường Việt Nam (kể từ năm 2014), đã có tới 40 hãng xe taxi truyền thống biến mất khỏi thị trường.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Thái Vân Anh đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý về quyền tự do kinh doanh trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế chia sẻ tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực trạng các quy định hiện hành và minh chứng bằng số liệu thực tiễn trên các lĩnh vực vận tải, lưu trú và tài chính công nghệ, công trình đã chỉ rõ những điểm nghẽn về thể chế cùng thách thức trong công tác quản lý nhà nước. Các kiến nghị và giải pháp được đề xuất trong khóa luận mang giá trị thực tiễn, đóng góp định hướng hữu ích cho việc hoàn thiện khung pháp lý về cơ chế thử nghiệm và bảo đảm quyền tự do kinh doanh gắn với trật tự kinh tế số bình đẳng, minh bạch.