Xây Dựng và Hoàn Thiện Pháp Luật Kinh Tế Đảm Bảo Quyền Tự Do Kinh Doanh Tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Luật Học

2001

218
15
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: QUYỀN TỰ DO KINH DOANH VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT KINH TẾ TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO KINH DOANH

1.1. Những vấn đề lý luận về quyền tự do kinh doanh

1.1.1. Vai trò của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUYỀN TỰ DO KINH DOANH TRONG PHÁP LUẬT KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1. Quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sản

2.2. Quyền tự do thành lập doanh nghiệp

2.3. Quyền tự do hợp đồng

2.4. Quyền tự do cạnh tranh lành mạnh

2.5. Quyền tự do định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KINH TẾ NHẰM ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO KINH DOANH Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1. Những căn cứ cho việc hình thành những định hướng và giải pháp

3.2. Một số định hướng chủ yếu của việc hoàn thiện pháp luật kinh tế đảm bảo quyền tự do kinh doanh

3.3. Những giải pháp cụ thể xây dựng, hoàn thiện pháp luật kinh tế đảm bảo quyền tự do kinh doanh

KẾT LUẬN

NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Pháp Luật Kinh Tế và Quyền Tự Do Kinh Doanh

Trong bất cứ nền kinh tế hàng hóa nào, nhu cầu tự do kinh doanh là yếu tố then chốt. Mức độ đảm bảo quyền này thay đổi theo từng xã hội và thời kỳ lịch sử, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó pháp luật kinh tế đóng vai trò quan trọng. Lý luận và thực tiễn chứng minh rằng hệ thống pháp luật hiệu quả là yếu tố quyết định để đảm bảo quyền tự do kinh doanh. Sự khác biệt về tính hoàn thiện và hiệu quả của hệ thống pháp luật tác động trực tiếp đến khả năng khơi dậy nguồn lực kinh doanh, thu hút đầu tư, và thúc đẩy phát triển kinh tế. Ví dụ, Điều 57 của Hiến pháp năm 1992 quy định: "Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật".

1.1. Khái niệm và bản chất của quyền tự do kinh doanh

Quyền tự do kinh doanh là quyền của công dân được tự do lựa chọn hình thức, quy mô, ngành nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm. Quyền này bao gồm quyền tự chủ trong việc quyết định phương thức kinh doanh, lựa chọn đối tác và tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, quyền này không phải là tuyệt đối và phải tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo trật tự xã hội và bảo vệ quyền lợi của người khác. Việc giới hạn quyền tự do kinh doanh phải dựa trên cơ sở pháp lý rõ ràng và hợp lý.

1.2. Mối quan hệ giữa pháp luật kinh tế và quyền tự do kinh doanh

Pháp luật kinh tế tạo ra khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh, bao gồm các quy định về thành lập doanh nghiệp, hợp đồng, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ và giải quyết tranh chấp. Một hệ thống pháp luật kinh tế minh bạch, công bằng và hiệu quả là điều kiện tiên quyết để đảm bảo quyền tự do kinh doanh. Đồng thời, pháp luật kinh tế cũng cần phải linh hoạt để thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

II. Thực Trạng Pháp Luật Kinh Tế Việt Nam Đảm Bảo Tự Do Kinh Doanh

Trước đổi mới, cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp đã hạn chế tự do kinh doanh. Sau Đại hội Đảng VI, tự do kinh doanh chính thức được công nhận là quyền pháp định. Điều 4 Luật Công ty (1990) quy định về quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên, quyền này còn mới mẻ và cần được thể chế hóa đầy đủ. Pháp luật kinh tế đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo tự do kinh doanh. Cần nghiên cứu để đưa ra luận cứ khoa học và giải pháp cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế.

2.1. Đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về thành lập doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp hiện hành đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thành lập doanh nghiệp so với trước đây. Tuy nhiên, thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp và tốn kém, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu chi phí và thời gian thành lập doanh nghiệp để khuyến khích khởi nghiệp và thu hút đầu tư.

2.2. Phân tích quy định về quyền sở hữu trí tuệ và cạnh tranh

Các quy định về quyền sở hữu trí tuệcạnh tranh đã được ban hành, nhưng hiệu quả thực thi còn hạn chế. Tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và cạnh tranh không lành mạnh vẫn diễn ra phổ biến, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính và ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh nói chung. Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

2.3. Những hạn chế và bất cập trong khung pháp lý kinh tế hiện nay

Khung pháp lý kinh tế hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập, đặc biệt là trong các lĩnh vực như đầu tư, thương mạigiải quyết tranh chấp. Các quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ và chưa phù hợp với thực tiễn kinh doanh. Cần rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật để tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và ổn định.

III. Giải Pháp Xây Dựng và Hoàn Thiện Pháp Luật Kinh Tế Đảm Bảo Tự Do

Để hoàn thiện pháp luật kinh tế cần đảm bảo tính đồng bộ, minh bạch và hiệu quả. Cần chú trọng đến việc bảo vệ quyền sở hữu, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Luật pháp cần đơn giản, dễ hiểu và dễ thực thi. Cần nâng cao năng lực của các cơ quan nhà nước trong việc thực thi pháp luật. Cần xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, nhanh chóng và công bằng.

3.1. Hoàn thiện quy định về quyền tự do hợp đồng và giải quyết tranh chấp

Cần hoàn thiện các quy định về quyền tự do hợp đồng để đảm bảo các bên có quyền tự do thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng, miễn là không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, nhanh chóng và công bằng thông qua các phương thức như tòa án, trọng tài và hòa giải.

3.2. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế

Cần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế thông qua việc cải cách thủ tục hành chính, tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Đồng thời, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh.

3.3. Tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và tuân thủ các cam kết quốc tế

Cần tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và tuân thủ các cam kết quốc tế để tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh và hấp dẫn. Đồng thời, cần chủ động tham gia vào việc xây dựng các quy tắc và chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực kinh tế để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam.

IV. Nghiên Cứu Ứng Dụng Tác Động Của Pháp Luật Đến Quyền Tự Do Kinh Doanh

Nghiên cứu chỉ ra rằng các quy định pháp luật rõ ràng, minh bạch và dễ tiếp cận có tác động tích cực đến quyền tự do kinh doanh. Các doanh nghiệp cảm thấy an tâm hơn khi đầu tư và mở rộng hoạt động. Các quy định pháp luật phức tạp, chồng chéo và khó hiểu lại gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh và làm giảm quyền tự do kinh doanh. Cần có những nghiên cứu sâu rộng hơn về tác động của pháp luật để có những điều chỉnh phù hợp.

4.1. Phân tích tác động của Luật Doanh nghiệp đến sự phát triển của doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp có tác động lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp tại Việt Nam. Luật đã tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho việc thành lập doanh nghiệp, giảm thiểu các rào cản và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, vẫn còn những vấn đề cần được giải quyết, chẳng hạn như thủ tục hành chính còn phức tạp và khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn.

4.2. So sánh pháp luật kinh tế Việt Nam với các nước trong khu vực

So sánh pháp luật kinh tế Việt Nam với các nước trong khu vực cho thấy Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật, nhưng vẫn còn отставать so với một số nước trong các lĩnh vực như bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnhgiải quyết tranh chấp.

V. Triển Vọng và Định Hướng Hoàn Thiện Pháp Luật Kinh Tế Tới Năm 2030

Đến năm 2030, pháp luật kinh tế Việt Nam cần đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Cần tập trung vào việc hoàn thiện các quy định về tự do kinh doanh, sở hữu trí tuệ, cạnh tranhgiải quyết tranh chấp. Cần xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch, công bằng và hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế bền vững. Cần chú trọng đến việc đào tạo nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập.

5.1. Dự báo xu hướng phát triển của pháp luật kinh tế trong bối cảnh hội nhập

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, pháp luật kinh tế Việt Nam sẽ phải tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của các hiệp định thương mại tự do và các cam kết quốc tế khác. Các quy định pháp luật cần phải phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

5.2. Đề xuất các giải pháp đột phá để thúc đẩy tự do kinh doanh

Để thúc đẩy tự do kinh doanh, cần có những giải pháp đột phá như cắt giảm mạnh các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận nguồn vốn và thị trường, và tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, cần khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong kinh doanh và tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh và minh bạch.

VI. Kết Luận Pháp Luật Kinh Tế Chìa Khóa Quyền Tự Do Kinh Doanh

Việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế là chìa khóa để đảm bảo quyền tự do kinh doanh tại Việt Nam. Một hệ thống pháp luật tốt sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và hiệu quả, thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của người dân. Cần tiếp tục nỗ lực để xây dựng một hệ thống pháp luật kinh tế hiện đại, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập và phát triển đất nước.

6.1. Tóm tắt những kết quả nghiên cứu chính

Nghiên cứu đã làm sáng tỏ tầm quan trọng của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh, phân tích thực trạng của pháp luật kinh tế Việt Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc hoàn thiện pháp luật kinh tế là một quá trình liên tục và cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.

6.2. Khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách

Các nhà hoạch định chính sách cần quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế để tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp. Cần lắng nghe ý kiến của các doanh nghiệp và các chuyên gia pháp lý để xây dựng các quy định pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ luật học xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I QUYỀN TỰ DO KINH DOANH VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT KINH TẾ TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO KINH DOANH 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH 1. Khái niệm kinh doanh và quyền tu do kinh doanh 1. Khái niệm kinh doanh Dưới góc độ kinh tế, kinh doanh là một phạm trù gắn liền với sản xuất hàng hóa, là tổng thể các hình thức, phương pháp và biện pháp nhằm tổ chức các hoạt động kinh tế, phản ánh quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm mục đích thu về mot giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu.

Hoạt động kinh doanh gắn liền với quan hệ sở hữu và bị quan hệ sở hữu chi phối. Trong "Tu ban", C.Mác đã phân biệt rõ hai loại tu ban: tư bản sở hữu và tư ban chức nang. Tư bản sở hữu là tư bản "chết", nằm yên; tư bản chức năng là tư bản hoạt động, tư bản kinh doanh, làm cho tư bản “chết” thành tư bản "sống". Tùy thuộc vào tính chất của chế độ sở hữu sẽ có một chế độ kinh doanh nhất định.

Mặt khác, quan hệ kinh doanh có tác động trở lại quan hệ sở hữu. Quan hệ sở hữu quyết định bản chất xã hội của quan hệ kinh doanh, mục đích và xu hướng vận động của nó. Nhưng tự nó, quan hệ sở hữu không tạo ra và không làm tăng thêm sản phẩm và giá trị. Nó chỉ là điều kiện cơ bản và tiên quyết của kinh doanh.

Muốn làm được điều đó quan hệ sở hữu phải được thực hiện thông qua quan hệ kinh doanh. Nhờ có quan hệ kinh doanh mà quan hệ sở hữu được thực hiện về mặt kinh tế, kinh doanh càng có hiệu quả thì mức độ thực hiện sở hữu về mặt kinh tế càng cao. Kinh doanh bao giờ cũng phục vụ cho chê độ sở hữu, là hành động tiếp theo của sở hữu. Do đó, kinh doanh đóng vai trò làm cho sở hữu từ chỗ tồn tại về mặt hình thức trở thành tồn tại hiện thực.

Với quan niệm đó, kinh doanh được chia thành nhiều kiểu, chế độ, lĩnh vực khác nhau, như kinh doanh trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường; kinh doanh tư bản chủ nghĩa, kinh doanh xã hội chủ nghĩa; kinh doanh trong công nghiệp, kinh doanh trong nông nghiệp, kinh doanh trong thương nghiệp, kinh doanh trong vận tải. Tuy nhiên, dù phân chia như thế nào thì mục đích cuối cùng của kinh doanh là làm tăng thêm giá trị vật chất cho xã hội và đối với từng nhà kinh doanh thì đó chính là lợi nhuận. Ở nước ta, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trước đây đã có quan niệm không đầy đủ, không đúng về kinh doanh. Kinh doanh được hiểu theo nghĩa rất hẹp, kinh doanh được coi là một phần của quá trình tái sản xuất, cụ thể là chỉ gắn với hoạt động lưu thông, trao đổi, là buôn bán.

Thậm chí, có người còn ác cảm với kinh doanh, coi kinh doanh là con đường dẫn tới bóc lột. Do vậy, chỉ có các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể) mới được phép kinh doanh, còn các thành phần kinh tế khác thì bị hạn chế và cấm đoán. Thực ra, kinh doanh như đã trình bày ở trên luôn gắn với quan hệ hàng hóa - tiền tệ và quy luật giá trị. Trong bất cứ phương thức sản xuất nào, còn sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị tồn tại khách quan thì còn kinh doanh với tính cách là phương thức hoạt động kinh tế của con người.

Ở nước ta, khái niệm kinh doanh được định nghĩa trong Luật Công ty (1990). Theo quy định tại Điều 3 của đạo luật này thì: "Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi". Khái niệm kinh doanh được khẳng định lại trong Luật Doanh nghiệp (1999) (khoản 2 Điều 3). Với khái niệm trên, kinh doanh đã được hiểu một cách day đủ, đúng dan bao gồm tất cả các hoạt động như: đầu tư, sản xuất, trao đổi, dịch vụ nếu các hoạt động này nhằm mục đích sinh lợi.

Hoạt động này không nhất thiết phải bao gồm tất cả các công đoạn để đạt đến kết quả cuối cùng mà chỉ cần một trong các hoạt động nói trên là đủ, miễn sao hoạt động đó có mục đích sinh lợi. Với khái niệm này, kinh doanh có nội dung rất rộng và ở mức độ khái quát có thể đưa ra những dấu hiệu đặc trưng sau: - Kinh doanh là hoạt động mang tính nghề nghiệp. Điều đó có nghĩa là trong xã hội đã có những người, nhóm người, tổ chức mà nghề nghiệp chính của họ là kinh doanh, sống bằng nghề kinh doanh. Kinh doanh mang tính thường xuyên, liên tục, ổn định và lâu dài.

- Kinh doanh là hành vi diễn ra trên thị trường. Cụ thể, hoạt động kinh doanh phản ánh mối quan hệ giữa các nhà kinh doanh với nhau, với xã hội nói chung thông qua các quan hệ mua bán, trao đổi, tiêu dùng. Những quan hệ này tự nó phản ánh quan hệ hàng hóa- tiền tệ. - Mục đích của kinh doanh là lợi nhuận.

Kinh doanh đã trở thành một nghề trong xã hội (và là nghề quan trọng vì nó tạo ra của cải vật chất, tinh than để xã hội tồn tại và phát triển), do đó nó có những đòi hỏi riêng về chủ thể cũng như điều kiện để hoạt động kinh doanh. Một trong những đòi hỏi mang tính quy luật của nền kinh tế thị trường là phải bảo đảm quyền tự do kinh doanh cho con người. Vấn đề này bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường là sự tồn tại những hình thức sở hữu khác nhau, của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh. Đồng thời nó cũng phù hợp với xu thế vận động phát triển của xã hội trong thế giới văn minh hiện đại.

Khái niệm quyền tự do kinh doanh Quyền tự do kinh doanh là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các quyền tự do của công dân. Để có quan niệm đúng đắn về nó, trước hết cần tìm LO hiểu để nhận thức đầy đủ nội ham các khái niệm quyền con người, quyền công dân nói chung dưới góc độ lịch sử, nguồn gốc và bản chất. Quyền con người (nhân quyền), quyền công dân (dân quyền) luôn là mối quan tâm của nhân loại ở mọi thời kỳ lịch sử. Mỗi bước phát triển của lịch sử xã hội loài người đều gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội nhằm giải phóng con người.

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại có các quan niệm khác nhau về sự ra đời, bản chất của quyền con người. Trước khi học thuyết "pháp luật tự nhiên” ra đời, trong lịch sử nhân loại đã từng có quan niệm (tuy còn ít và rời rạc) cho rằng con người mang thuộc tính tự nhiên, con người ra đời đương nhiên có quyền tự do. Quyền tự do của con người không do ai ban phát. Quyền con người xuất hiện trước khi có Nhà nước, pháp luật.

Trong điều kiện lịch sử cụ thể đó, quan niệm này thể hiện khát vọng của con người, khi mà các quyền tự do của họ bị chà đạp, nhu cầu về quyền tự do đã trở nên bức xúc. Lúc đó người ta thường tìm đến tính chất tự nhiên "tạo hóa", "bam sinh" các quyền tự do của con người. Nhận xét về quan niệm này, GS.TS Hoàng Văn Hảo viết: "Quan niệm này thể hiện tính triết học nhân bản, nhưng khó tránh khỏi tính trừu tượng phi lịch sử, khó tránh khỏi tính chất ảo tưởng khi xác định nội dung các quyền con người, quyền công dân trong đời sống thực tiễn” [11, tr. Đến thế ky XVII, XVIII các nhà tư tưởng, nhà cai cách lỗi lạc như Locke, Rousseau.

đã đưa ra học thuyết "pháp luật tự nhiên nhân”. Theo quan niệm của thuyết "pháp luật tự nhiên nhân" thì quyền con người là đặc quyền tu nhiên, quyền tự nhiên, "pháp luật tự nhiên" đứng trên, cao hơn pháp luật Nha nước. Locke cho rằng các quyền cơ bản, tự nhiên của con người bao gồm: quyền sống, quyền được tự do và quyền có tài sản. Thuyết pháp luật tự nhiên ra đời có nguyên nhân lịch sử của nó.

Ở thời kỳ đó, xã hội phong kiến châu Âu đang thống trị bởi hai thứ quyền lực là "Vương quyền" - quyền lực của Nhà nước và "Than quyền" - quyền lực của chúa trời. Thế ky thứ XVII, XVIII, chế độ quân chủ đã được thiết lập ở hầu hết các nước phong kiến châu Âu và đạt đến đỉnh cao của sự tha hóa, nô dịch. Đó cũng là thời kỳ các Vua coi Chúa, Thánh thần là đồng minh để hợp pháp hóa uy quyền của họ. Sự liên minh quyền lực giữa "Vương quyền” và "Than quyền" đã chà dap thô bạo các quyền con người.

Vì lẽ đó, thuyết "pháp luật tự nhiên" ra đời nhằm thể hiện nhu cầu tự do của con người, khẳng định quyền con người là tự nhiên vốn có. Thuyết pháp luật tự nhiên ra đời để chống lại, phủ nhận quyền lực, pháp luật của Nhà nước (Vương quyền), quyền lực, luật lệ của Nhà thờ thiên chúa giáo (Thần quyền). Xét về mặt lịch sử, thuyết pháp luật tự nhiên mang giá trị nhân bản, nhân đạo về con người. Nó đưa ra những tư tưởng, nguyên tắc để bảo vệ quyền cá nhân con người trước quyền lực nhà nước.

Những giá trị đó về sau đã được thấm nhuần, được tiếp thu trong khoa học chính trị, pháp lý ở các nước tư sản. Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 coi quyền con người là quyền sống, quyền tu do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Tuyên ngôn về quyền con người của Liên Hợp Quốc 1948 đã đề ra 30 điều có tính nguyên tắc về quyền con người. Các Công ước của Liên Hợp Quốc khẳng định lại và cụ thể hóa thêm những nguyên tắc đó thành các quyền trong các lĩnh vực: chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn đặt con người cũng như quyền con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Quyền tự do của con người là khái niệm mang tỉnh lịch sử, hình thành và phát triển trong cuộc đấu tranh giai cấp vì sự tiến bộ xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Xây Dựng và Hoàn Thiện Pháp Luật Kinh Tế Đảm Bảo Quyền Tự Do Kinh Doanh Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế nhằm bảo vệ quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức tại Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một khung pháp lý rõ ràng và minh bạch, giúp tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ luật học pháp luật về quyền gia nhập thị trường lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quyền gia nhập thị trường trong bối cảnh pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án tiến sĩ chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong kinh doanh. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay cũng là một tài liệu hữu ích để tìm hiểu về mối liên hệ giữa an ninh quốc gia và hoạt động kinh doanh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh pháp lý liên quan đến kinh doanh tại Việt Nam.