Chương I QUYỀN TỰ DO KINH DOANH VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT KINH TẾ TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO KINH DOANH 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH 1. Khái niệm kinh doanh và quyền tu do kinh doanh 1. Khái niệm kinh doanh Dưới góc độ kinh tế, kinh doanh là một phạm trù gắn liền với sản xuất hàng hóa, là tổng thể các hình thức, phương pháp và biện pháp nhằm tổ chức các hoạt động kinh tế, phản ánh quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm mục đích thu về mot giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu.
Hoạt động kinh doanh gắn liền với quan hệ sở hữu và bị quan hệ sở hữu chi phối. Trong "Tu ban", C.Mác đã phân biệt rõ hai loại tu ban: tư bản sở hữu và tư ban chức nang. Tư bản sở hữu là tư bản "chết", nằm yên; tư bản chức năng là tư bản hoạt động, tư bản kinh doanh, làm cho tư bản “chết” thành tư bản "sống". Tùy thuộc vào tính chất của chế độ sở hữu sẽ có một chế độ kinh doanh nhất định.
Mặt khác, quan hệ kinh doanh có tác động trở lại quan hệ sở hữu. Quan hệ sở hữu quyết định bản chất xã hội của quan hệ kinh doanh, mục đích và xu hướng vận động của nó. Nhưng tự nó, quan hệ sở hữu không tạo ra và không làm tăng thêm sản phẩm và giá trị. Nó chỉ là điều kiện cơ bản và tiên quyết của kinh doanh.
Muốn làm được điều đó quan hệ sở hữu phải được thực hiện thông qua quan hệ kinh doanh. Nhờ có quan hệ kinh doanh mà quan hệ sở hữu được thực hiện về mặt kinh tế, kinh doanh càng có hiệu quả thì mức độ thực hiện sở hữu về mặt kinh tế càng cao. Kinh doanh bao giờ cũng phục vụ cho chê độ sở hữu, là hành động tiếp theo của sở hữu. Do đó, kinh doanh đóng vai trò làm cho sở hữu từ chỗ tồn tại về mặt hình thức trở thành tồn tại hiện thực.
Với quan niệm đó, kinh doanh được chia thành nhiều kiểu, chế độ, lĩnh vực khác nhau, như kinh doanh trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường; kinh doanh tư bản chủ nghĩa, kinh doanh xã hội chủ nghĩa; kinh doanh trong công nghiệp, kinh doanh trong nông nghiệp, kinh doanh trong thương nghiệp, kinh doanh trong vận tải. Tuy nhiên, dù phân chia như thế nào thì mục đích cuối cùng của kinh doanh là làm tăng thêm giá trị vật chất cho xã hội và đối với từng nhà kinh doanh thì đó chính là lợi nhuận. Ở nước ta, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trước đây đã có quan niệm không đầy đủ, không đúng về kinh doanh. Kinh doanh được hiểu theo nghĩa rất hẹp, kinh doanh được coi là một phần của quá trình tái sản xuất, cụ thể là chỉ gắn với hoạt động lưu thông, trao đổi, là buôn bán.
Thậm chí, có người còn ác cảm với kinh doanh, coi kinh doanh là con đường dẫn tới bóc lột. Do vậy, chỉ có các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể) mới được phép kinh doanh, còn các thành phần kinh tế khác thì bị hạn chế và cấm đoán. Thực ra, kinh doanh như đã trình bày ở trên luôn gắn với quan hệ hàng hóa - tiền tệ và quy luật giá trị. Trong bất cứ phương thức sản xuất nào, còn sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị tồn tại khách quan thì còn kinh doanh với tính cách là phương thức hoạt động kinh tế của con người.
Ở nước ta, khái niệm kinh doanh được định nghĩa trong Luật Công ty (1990). Theo quy định tại Điều 3 của đạo luật này thì: "Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi". Khái niệm kinh doanh được khẳng định lại trong Luật Doanh nghiệp (1999) (khoản 2 Điều 3). Với khái niệm trên, kinh doanh đã được hiểu một cách day đủ, đúng dan bao gồm tất cả các hoạt động như: đầu tư, sản xuất, trao đổi, dịch vụ nếu các hoạt động này nhằm mục đích sinh lợi.
Hoạt động này không nhất thiết phải bao gồm tất cả các công đoạn để đạt đến kết quả cuối cùng mà chỉ cần một trong các hoạt động nói trên là đủ, miễn sao hoạt động đó có mục đích sinh lợi. Với khái niệm này, kinh doanh có nội dung rất rộng và ở mức độ khái quát có thể đưa ra những dấu hiệu đặc trưng sau: - Kinh doanh là hoạt động mang tính nghề nghiệp. Điều đó có nghĩa là trong xã hội đã có những người, nhóm người, tổ chức mà nghề nghiệp chính của họ là kinh doanh, sống bằng nghề kinh doanh. Kinh doanh mang tính thường xuyên, liên tục, ổn định và lâu dài.
- Kinh doanh là hành vi diễn ra trên thị trường. Cụ thể, hoạt động kinh doanh phản ánh mối quan hệ giữa các nhà kinh doanh với nhau, với xã hội nói chung thông qua các quan hệ mua bán, trao đổi, tiêu dùng. Những quan hệ này tự nó phản ánh quan hệ hàng hóa- tiền tệ. - Mục đích của kinh doanh là lợi nhuận.
Kinh doanh đã trở thành một nghề trong xã hội (và là nghề quan trọng vì nó tạo ra của cải vật chất, tinh than để xã hội tồn tại và phát triển), do đó nó có những đòi hỏi riêng về chủ thể cũng như điều kiện để hoạt động kinh doanh. Một trong những đòi hỏi mang tính quy luật của nền kinh tế thị trường là phải bảo đảm quyền tự do kinh doanh cho con người. Vấn đề này bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường là sự tồn tại những hình thức sở hữu khác nhau, của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh. Đồng thời nó cũng phù hợp với xu thế vận động phát triển của xã hội trong thế giới văn minh hiện đại.
Khái niệm quyền tự do kinh doanh Quyền tự do kinh doanh là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các quyền tự do của công dân. Để có quan niệm đúng đắn về nó, trước hết cần tìm LO hiểu để nhận thức đầy đủ nội ham các khái niệm quyền con người, quyền công dân nói chung dưới góc độ lịch sử, nguồn gốc và bản chất. Quyền con người (nhân quyền), quyền công dân (dân quyền) luôn là mối quan tâm của nhân loại ở mọi thời kỳ lịch sử. Mỗi bước phát triển của lịch sử xã hội loài người đều gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội nhằm giải phóng con người.
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại có các quan niệm khác nhau về sự ra đời, bản chất của quyền con người. Trước khi học thuyết "pháp luật tự nhiên” ra đời, trong lịch sử nhân loại đã từng có quan niệm (tuy còn ít và rời rạc) cho rằng con người mang thuộc tính tự nhiên, con người ra đời đương nhiên có quyền tự do. Quyền tự do của con người không do ai ban phát. Quyền con người xuất hiện trước khi có Nhà nước, pháp luật.
Trong điều kiện lịch sử cụ thể đó, quan niệm này thể hiện khát vọng của con người, khi mà các quyền tự do của họ bị chà đạp, nhu cầu về quyền tự do đã trở nên bức xúc. Lúc đó người ta thường tìm đến tính chất tự nhiên "tạo hóa", "bam sinh" các quyền tự do của con người. Nhận xét về quan niệm này, GS.TS Hoàng Văn Hảo viết: "Quan niệm này thể hiện tính triết học nhân bản, nhưng khó tránh khỏi tính trừu tượng phi lịch sử, khó tránh khỏi tính chất ảo tưởng khi xác định nội dung các quyền con người, quyền công dân trong đời sống thực tiễn” [11, tr. Đến thế ky XVII, XVIII các nhà tư tưởng, nhà cai cách lỗi lạc như Locke, Rousseau.
đã đưa ra học thuyết "pháp luật tự nhiên nhân”. Theo quan niệm của thuyết "pháp luật tự nhiên nhân" thì quyền con người là đặc quyền tu nhiên, quyền tự nhiên, "pháp luật tự nhiên" đứng trên, cao hơn pháp luật Nha nước. Locke cho rằng các quyền cơ bản, tự nhiên của con người bao gồm: quyền sống, quyền được tự do và quyền có tài sản. Thuyết pháp luật tự nhiên ra đời có nguyên nhân lịch sử của nó.
Ở thời kỳ đó, xã hội phong kiến châu Âu đang thống trị bởi hai thứ quyền lực là "Vương quyền" - quyền lực của Nhà nước và "Than quyền" - quyền lực của chúa trời. Thế ky thứ XVII, XVIII, chế độ quân chủ đã được thiết lập ở hầu hết các nước phong kiến châu Âu và đạt đến đỉnh cao của sự tha hóa, nô dịch. Đó cũng là thời kỳ các Vua coi Chúa, Thánh thần là đồng minh để hợp pháp hóa uy quyền của họ. Sự liên minh quyền lực giữa "Vương quyền” và "Than quyền" đã chà dap thô bạo các quyền con người.
Vì lẽ đó, thuyết "pháp luật tự nhiên" ra đời nhằm thể hiện nhu cầu tự do của con người, khẳng định quyền con người là tự nhiên vốn có. Thuyết pháp luật tự nhiên ra đời để chống lại, phủ nhận quyền lực, pháp luật của Nhà nước (Vương quyền), quyền lực, luật lệ của Nhà thờ thiên chúa giáo (Thần quyền). Xét về mặt lịch sử, thuyết pháp luật tự nhiên mang giá trị nhân bản, nhân đạo về con người. Nó đưa ra những tư tưởng, nguyên tắc để bảo vệ quyền cá nhân con người trước quyền lực nhà nước.
Những giá trị đó về sau đã được thấm nhuần, được tiếp thu trong khoa học chính trị, pháp lý ở các nước tư sản. Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 coi quyền con người là quyền sống, quyền tu do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Tuyên ngôn về quyền con người của Liên Hợp Quốc 1948 đã đề ra 30 điều có tính nguyên tắc về quyền con người. Các Công ước của Liên Hợp Quốc khẳng định lại và cụ thể hóa thêm những nguyên tắc đó thành các quyền trong các lĩnh vực: chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn đặt con người cũng như quyền con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Quyền tự do của con người là khái niệm mang tỉnh lịch sử, hình thành và phát triển trong cuộc đấu tranh giai cấp vì sự tiến bộ xã hội.