đặt vấn đề xem xét quá trình thay đổi chính sách cần có thời gian hàng thập kỷ. Quá trình chính sách thƣờng tập trung hay diễn ra ở những hệ thống chính sách nhỏ (subsystems), với sự tƣơng tác giữa các chủ thể khác nhau có ảnh hƣởng đến từng chủ đề, lĩnh vực chính sách cụ thể, trong mối liên hệ với những sự kiện bên trong và bên ngoài hệ thống. Đề xuất chính sách cũng xuất hiện ở rất nhiều thời điểm khác nhau và không phải tất cả những chủ thể làm chính sách đều tham gia vào các hệ thống chính sách nhỏ này. Các chủ thể chính sách có thể tạo thành những liên minh ngắn hạn, hoặc ổn định, dài hạn để chia sẻ niềm tin, giá trị cũng nhƣ sự vận động, ảnh hƣởng đến từng lĩnh vực chính sách, trong các ràng buộc thể chế nhất định; 6 luan an + Lý thuyết đa dòng chảy và cửa sổ cơ hội: lý thuyết tiếp cận đa dòng chảy (The Multiple Streams Approach) về quá trình chính sách của Kingdon đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải thích sự “mơ hồ”, không rõ ràng khi một đề xuất chính sách có thể trở thành chính sách, trong khi các đề xuất khác thì không.
Lý thuyết này có các giả thuyết nhƣ các nhà hoạch định chính sách hoạt động dƣới sự ràng buộc khắt khe về thời gian, dẫn tới những hạn chế về số lƣợng các đề xuất chính sách có thể đƣợc chú ý đến; hệ thống hoạt động trong một thể chế bao gồm các dòng chảy tƣơng đối độc lập với nhau, gồm dòng vấn đề, dòng chính sách và dòng chính trị. Trải qua việc lập nghị trình với những tƣơng tác giữa các chủ thể tham gia, có thể xuất hiện “cửa sổ cơ hội” khi các dòng chảy gặp gỡ, kết hợp với nhau tại một thời điểm, để một số đề xuất chính sách đƣợc lựa chọn đƣa vào nghị trình, trong khi một số khác thì rất lâu, hoặc không có cơ hội; + Lý thuyết phân tích thể chế và phát triển: khung phân tích thể chế và phát triển (Institutional Analysis and Development (IAD) Framework) đƣợc phát triển từ những năm 1970 bởi Vincent và Elinor Ostrom khi nghiên cứu về các thỏa thuận thể chế, quản lý nguồn lực công và lựa chọn công. IAD xem xét phân tích những vấn đề công trong một bối cảnh xã hội, phạm vi hành động, điều kiện ràng buộc về thể chế – “luật chơi” chi phối các chủ thể chính sách. Trong thể chế đó, các chủ thể này tƣơng tác lẫn nhau trong các tình huống hành động nhằm xác lập các mô hình giải quyết vấn đề công.
Khung khổ này đã đề ra các mục tiêu dự kiến cần đạt đƣợc, cũng nhƣ các tiêu chí cụ thể để đánh giá kết quả. Điểm lƣu ý là IAD đƣa ra những giả thuyết nghiên cứu, có thể áp dụng nhiều lý thuyết khác nhau của kinh tế học, chính trị học và chú trọng vào các thể chế công, trong đó đòi hỏi trách nhiệm giải trình cao của các chủ thể, nhƣ chính trị gia hay công chức hành chính, trong nỗ lực đạt đƣợc các cấp độ mục tiêu chính sách khác nhau, có thể nghiên cứu ứng dụng cho nhiều nƣớc đang phát triển hiện nay. 7 luan an Ngoài ra, còn một số lý thuyết đáng chú ý khác nhƣ: Khung phản hồi chính sách, Tƣờng thuật chính sách. Việc nhiều học giả tìm kiếm sự thay thế cho Lý thuyết các giai đoạn, dẫn đến hình thành nhiều lý thuyết mới về chính sách công, và kéo theo những tranh luận về vai trò, vị trí của các lý thuyết này.
Tuy nhiên, trên thực tế, các lý thuyết không phủ định nhau, mà bổ sung cho nhau để làm rõ hơn bức tranh đa chiều của quá trình chính sách. Mặc dù có một số hạn chế và không phải lý thuyết tổng quát về quá trình chính sách, các giai đoạn chính trong chu trình chính sách vẫn đƣợc coi là chuẩn tắc trong hoạch định, phân tích, nghiên cứu chính sách [27]. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về chính sách pháp luật bảo vệ ANQG sẽ được tiến hành dựa trên sự vận dụng các lý thuyết này về chính sách công, trong đó, lý thuyết các giai đoạn của chu trình chính sách là lý thuyết quan trọng, cơ bản mà nghiên cứu sinh sử dụng để tiếp cận và xây dựng khung nghiên cứu. - Lý thuyết hệ thống xã hội Lý thuyết hệ thống (system theory) đƣợc nhiều ngành khoa học khác nhau vận dụng, trong đó có khoa học xã hội.
Hệ thống là tổng hoà các thành tố, các thành phần bộ phận và các mối quan hệ giữa chúng với nhau theo một kiểu nào đó, tạo thành một cơ cấu toàn vẹn, hoàn chỉnh. Hệ thống xã hội có đặc trƣng so với các hệ thống khác ở chỗ nó mang tính mở, vận động liên tục dƣới tác động của môi trƣờng xung quanh. Theo quan điểm tiếp cận hệ thống xã hội, mỗi sự kiện, quá trình xã hội của chủ thể xã hội, phải đƣợc xem xét đa diện, nhiều chiều, biện chứng, thống nhất, mọi thành phần của hệ thống đều có sự phụ thuộc lẫn nhau một cách chặt chẽ và tƣơng tác với môi trƣờng xung quanh. Theo lý thuyết hệ thống xã hội, khi nghiên cứu một hệ thống xã hội, khoa học xã hội cần xem xét hai mặt cơ bản là: thăng bằng hay ổn định và mất ổn định.
Cần đi sâu phân tích các trạng thái ấy: Thăng bằng hay ổn định: ổn định động, ổn định tĩnh là sự ổn định có sức ỳ cao không tạo điều kiện cho 8 luan an sự phát triển; Mất ổn định: tích cực - báo hiệu sự thay đổi hệ thống bằng một hệ thống mới tốt đẹp hơn, tiêu cực - dẫn đến suy yếu và đổ vỡ hệ thống, khi các bộ phận hoạt động nhịp nhàng theo một mục tiêu thống nhất thì có sự đồng bộ, sự phát triển quá sớm hay sự duy trì tình trạng lạc hậu quá độ ở một bộ phận nào đó có nguy cơ dẫn đến lệch pha; Tích hợp (integration) và thích nghi (adaptation): tích hợp là sự thống nhất nội bộ do những nội lực phát sinh bên trong hệ thống, thích nghi là quá trình quan hệ thích ứng của hệ thống với các hệ thống xung quanh. Để đảm bảo sự thích nghi cần thiết với môi trƣờng, hệ thống xã hội phải là một hệ thống mở. Chính sách pháp luật bảo vệ ANQG cần được tiếp cận nghiên cứu như tiếp cận với một hệ thống xã hội để đánh giá mối quan hệ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và hiệu quả thực hiện của nó, để dự đoán về sự thay đổi và đề ra các biện pháp điều chỉnh trong tương lai cho phù hợp với tình hình mới. Khung phân tích để làm rõ lý thuyết: Cụ thể: Các câu hỏi nghiên cứu chung: 1) Lý luận chính sách pháp luật bảo vệ ANQG là gì? 2) Thực trạng chính sách pháp luật bảo vệ ANQG hiện nay nhƣ thế nào? 3) Giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam hiện nay là gì? Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể và giả thuyết nghiên cứu: Chính sách trong đề tài này đƣợc hiểu là chính sách công.
Có nhiều cách tiếp cận để đƣa ra quan niệm về chính sách công, nhƣng theo quan điểm của tác giả chúng cần có những nội hàm sau: là phƣơng thức/ hành động ứng xử của Nhà nƣớc trƣớc các vấn đề chính sách, đƣợc đảm bảo thực hiện bởi tập hợp các quyết định chính trị có liên quan với nhau, có mục tiêu, giải pháp và công cụ rõ ràng. Chính sách công là một chu trình với nhiều giai đoạn, từ việc hoạch định, xây dựng, ban hành, thực thi đến giám sát, đánh giá chính sách. 9 luan an Chính sách pháp luật bảo vệ ANQG là kết quả ý chí chính trị của hệ thống chính trị, cốt lõi là Đảng chính trị, đƣợc thực hiện bới quyền lực Nhà nƣớc đƣợc thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, trong đó bao hàm mục tiêu bảo vệ ANQG và hệ thống các giải pháp, công cụ chính sách ANQG để bảo đảm mục tiêu ANQG đề ra đƣợc hiện thực hoá. Để làm rõ thực trạng xây dựng, ban hành thể chế chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam Giả thuyết nghiên cứu đƣợc xây dựng nhƣ sau: Chính sách pháp luật bảo vệ ANQG đƣợc xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung tƣơng đối tích cực, kịp thời, tạo cơ sở cho công tác bảo vệ ANQG.
Hệ thống văn bản chính sách khá đồng bộ đƣợc ban hành bởi các chủ thể là các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế nhất định nhƣ việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp chính sách mới còn thiếu kịp thời, một số nội dung chính sách chậm đƣợc cụ thể hóa, hƣớng dẫn thi hành. Để làm rõ nội dung hiện hành của chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam Giả thuyết nghiên cứu đƣợc xây dựng nhƣ sau: Nội dung hiện hành của chính sách pháp luật bảo vệ ANQG đƣợc phân tích theo 3 trục nội dung: vấn đề chính sách, mục tiêu chính sách, các giải pháp và công cụ chính sách pháp luật bảo vệ ANQG ở Việt Nam. Trong đó: Vấn đề chính sách pháp luật bảo vệ ANQG là các đối tƣợng chống đối trong nƣớc và thế lực thù địch có âm mƣu, hoạt động chống phá Việt Nam hòng xâm phạm sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Mục tiêu của chính sách là đảm bảo sự ổn định và an toàn tuyệt đối của toàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam; Các nhóm giải pháp hiện nay gồm: nhóm giải pháp phòng ngừa, nhóm giải pháp phát hiện, đấu tranh hành vi xâm phạm ANQG; Các công cụ chính sách pháp luật bảo vệ ANQG bao gồm: Pháp luật, cơ quan chuyên trách, 10 luan an tuyên truyền giáo dục.
Các nội dung của chính sách pháp luật bảo vệ ANQG hiện nay khá toàn diện, phù hợp với thực tế. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế nhất định nhƣ chƣa cập nhật đƣợc tình hình tội phạm, nhất là tội phạm phi truyền thống, quy định cụ thể nhƣng thiếu, công cụ chƣa đủ quyết liệt. Để làm rõ những yếu tố tác động đến chính sách pháp luật bảo vệ ANQG thời gian tiếp theo. Giả thuyết nghiên cứu đƣợc xây dựng nhƣ sau: Yếu tố tác động tích cực: Trên phạm vi quốc tế và khu vực, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn.
Trong nƣớc, thành tựu 30 năm đổi mới đã làm thế và lực nƣớc ta lớn mạnh lên nhiều so với trƣớc.