Tổng quan luận án

Tình trạng chống người thi hành công vụ tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường, đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn biến phức tạp, tác động tiêu cực đến an ninh trật tự và kỷ cương quản lý nhà nước. Hành vi phạm tội không chỉ cản trở quá trình thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan công quyền, làm giảm sút hiệu lực quản lý nhà nước mà còn trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự của người thi hành công vụ, nhiều trường hợp tạo thành các điểm nóng phức tạp về an ninh trật tự xã hội. Thống kê của Tòa án nhân dân tối cao xác định tội chống người thi hành công vụ là một trong 17 tội danh có mức độ phạm tội cao nhất trong thực tế xét xử tại Việt Nam (thuộc nhóm 17/162 tội danh có đời sống thực tế).

Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận ở phạm vi địa bàn hẹp (như từng tỉnh, thành phố cụ thể: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Bắc Ninh) hoặc chỉ tập trung vào một lĩnh vực quản lý chuyên biệt (như trật tự an toàn giao thông đường bộ, công tác giải phóng mặt bằng, chống lại lực lượng Cảnh sát nhân dân), chưa có công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và đa chiều dưới góc độ tội phạm học trên phạm vi toàn quốc trong một chuỗi thời gian dài 11 năm.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung cụ thể:

  1. Phân tích, đánh giá toàn diện tình hình tội chống người thi hành công vụ ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2015 trên cả hai phương diện thực trạng (mức độ, tính chất) và diễn biến (động thái).
  2. Xác định, phân tích và luận giải các nhân tố là nguyên nhân và điều kiện của tội chống người thi hành công vụ ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2015 (bao gồm nguyên nhân từ phía xã hội, từ cơ quan quản lý, từ người thi hành công vụ và từ chính người phạm tội).
  3. Đưa ra các dự báo khoa học về tình hình tội phạm này đến năm 2020 và đề xuất hệ thống các giải pháp phòng ngừa tội chống người thi hành công vụ mang tính đồng bộ, khả thi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tội chống người thi hành công vụ, nguyên nhân của tội chống người thi hành công vụ và các biện pháp phòng ngừa tội phạm này tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tiếp cận dưới góc độ tội phạm học đối với tội chống người thi hành công vụ theo quy định tại Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999. Không gian nghiên cứu thực hiện trên phạm vi toàn quốc, kết hợp nghiên cứu chuyên sâu tại 42 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Thời gian nghiên cứu số liệu thực chứng kéo dài trong 11 năm, từ năm 2005 đến năm 2015, đồng thời có sự so sánh, đối chiếu với giai đoạn 11 năm trước đó (1994 - 2004).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu cho thấy các công trình liên quan đến tội phạm học và phòng ngừa tội phạm tại Việt Nam đã hình thành các nhóm tài liệu cơ bản:

Nhóm các công trình lý thuyết nền tảng về tội phạm học trong nước:

  • Sách chuyên khảo "Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam" (Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, NXB Chính trị quốc gia, 1994).
  • Sách chuyên khảo "Tội phạm học Việt Nam — Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, NXB Công an nhân dân, 2000).
  • Sách chuyên khảo "Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm" của GS. Nguyễn Xuân Yêm (NXB Công an nhân dân, 2001).
  • Sách chuyên khảo "Tội phạm và cấu thành tội phạm" của GS. Nguyễn Ngọc Hòa (NXB Công an nhân dân, 2006).
  • Sách chuyên khảo "Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam" của TS. Phạm Văn Tỉnh (NXB Tư pháp, 2007).
  • Sách chuyên khảo "Tội phạm học đương đại" của PGS. TS. Dương Tuyết Miên (NXB Chính trị - Hành chính, 2013).
  • Hệ thống giáo trình Tội phạm học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Huế.

Nhóm các công trình nghiên cứu chuyên sâu liên quan trực tiếp đến đề tài:

  • Sách chuyên khảo "Đấu tranh với tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ ở nước ta hiện nay - Một mô hình nghiên cứu tội phạm học chuyên ngành" của TS. Phạm Văn Tỉnh và Đào Bá Sơn (2009), nghiên cứu tình hình tội phạm giai đoạn 2002 - 2007 dựa trên kết quả luận văn thạc sĩ của Đào Bá Sơn (2009).
  • Đề tài khoa học cấp cơ sở "Tội chống người thi hành công vụ trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn của lực lượng Cảnh sát giao thông" do Nguyễn Văn Chức chủ nhiệm (Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, 2010).
  • Kỷ yếu hội thảo khoa học "Chống người thi hành công vụ trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự của lực lượng Công an nhân dân - Thực trạng và giải pháp" do Bộ Công an tổ chức (2008), tập hợp 82 bài viết với quy mô 377 trang, phân tích 09 nhóm vấn đề thực tiễn.
  • Luận văn thạc sĩ "Tội chống người thi hành công vụ - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp" của Nguyễn Hoàng Yến (1996), nghiên cứu giai đoạn 1986 - 1996 trên cơ sở Bộ luật Hình sự năm 1985.
  • Luận văn thạc sĩ "Đấu tranh phòng chống tội chống người thi hành công vụ trong giải phóng mặt bằng của lực lượng Cảnh sát nhân dân trên địa bàn Hải Dương" của Trần Anh Ngọc (2005), nghiên cứu số liệu giai đoạn 2001 - tháng 6/2005.
  • Luận văn thạc sĩ "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống tội chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực giải phóng mặt bằng của lực lượng Cảnh sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh" của Nguyễn Minh Chiêu (2007), khảo sát giai đoạn 2002 - tháng 6/2007.
  • Luận văn thạc sĩ "Thực trạng tội chống người thi hành công vụ đối với cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các giải pháp phòng chống" của Trần Đức Trung (2007), khảo sát giai đoạn 2002 - 2006.
  • Các giáo trình tội phạm học quốc tế như: Mike Maguire (The Oxford Handbook of Criminology, 2012), James Treadwell (Criminology: The Essentials, 2012), Chris Hale & Keith Hayward (Criminology, 2013), Eamonn Carrabine & Pamela Cox (Criminology: A Sociological Introduction, 2014).

Khoảng trống học thuật luận án giải quyết: Các công trình trước đây chưa giải quyết đầy đủ việc nghiên cứu tình hình tội chống người thi hành công vụ trên phạm vi cả nước với tính đại diện cao; chưa kết hợp đánh giá song song giữa tội phạm rõ và tội phạm ẩn; chưa khảo sát chi tiết cơ cấu tính chất tội phạm qua hồ sơ bản án xét xử thực tế; các nguyên nhân chưa được phân loại theo cơ chế phát sinh hành vi phạm tội và các giải pháp phòng ngừa còn mang tính chất nghiệp vụ ngành đơn lẻ hoặc mang tính khẩu hiệu. Luận án này định vị việc nghiên cứu tổng thể, liên ngành tội phạm học với mẫu dữ liệu mở rộng trên toàn quốc giai đoạn 2005 - 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp hệ thống lý luận tội phạm học về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, nạn nhân học và phòng ngừa tội phạm. Tình hình tội phạm được tiếp cận như một hiện tượng xã hội tiêu cực, có tính lịch sử, phản ánh trạng thái và xu thế vận động của tội phạm trong không gian và thời gian xác định, cấu thành bởi hai mặt: thực trạng (tĩnh) và diễn biến (động).

Về chức năng nghiên cứu, luận án kết hợp bốn loại hình nghiên cứu: nghiên cứu mô tả (mô tả tình hình tội phạm 2005 - 2015), nghiên cứu giải thích (luận giải các nguyên nhân xã hội và cá nhân), nghiên cứu dự báo (dự báo xu hướng tội phạm đến năm 2020) và nghiên cứu giải pháp (xây dựng hệ thống biện pháp phòng ngừa).

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu: Khai thác, xử lý nguồn số liệu thống kê hình sự chính thức của Tòa án nhân dân tối cao (số liệu xét xử sơ thẩm), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (số liệu truy tố), Bộ Công an (số liệu khởi tố và tin báo tội phạm) từ năm 2005 đến năm 2015; kết hợp dữ liệu dân số của Tổng cục Thống kê để tính toán các chỉ số tội phạm. Bên cạnh đó, tác giả tiến hành khảo sát và phân tích ngẫu nhiên 458 bản án hình sự sơ thẩm đã xét xử về tội chống người thi hành công vụ tại 42 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Dương, Bắc Ninh, Nghệ An, Đắk Lắk, An Giang, Cà Mau...) nhằm xác định cơ cấu tính chất và đặc điểm nhân thân người phạm tội.
  • Phương pháp điều tra nạn nhân của tội phạm (victimization survey): Sử dụng bảng hỏi khảo sát thực tế với dung lượng mẫu 350 người thi hành công vụ thuộc các lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ tại nhiều tỉnh, thành phố: Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động, Công an xã/phường/thị trấn, Kiểm lâm, cán bộ Ủy ban nhân dân, Bộ đội biên phòng, Thanh tra xây dựng... nhằm đánh giá thực trạng công tác thực thi nhiệm vụ và đo lường tội phạm ẩn.
  • Phương pháp thống kê học: Tính toán số tuyệt đối, số tương đối, số trung bình, tỷ lệ phần trăm, chỉ số tội phạm trên 100.000 dân, trình bày qua hệ thống bảng số liệu và biểu đồ thống kê.
  • Phương pháp kiểm chứng giả thuyết: Sử dụng phương pháp chứng minh trực tiếp giả thuyết nghiên cứu thông qua đối chiếu, phân tích các chỉ báo thực nghiệm với các luận điểm lý thuyết về nguyên nhân và dự báo tội phạm.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Phân tích mối tương quan giữa tội chống người thi hành công vụ với nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, tội gây rối trật tự công cộng và tình hình tội phạm nói chung.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tình hình tội chống người thi hành công vụ ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2015

Chương 1 tập trung phân tích thực trạng về mức độ, thực trạng về tính chất và diễn biến của tội chống người thi hành công vụ tại Việt Nam trong khoảng thời gian 11 năm.

1. Thực trạng về mức độ của tội phạm:

  • Về tội phạm rõ: Theo thống kê xét xử của Tòa án nhân dân tối cao, trong 11 năm (2005 - 2015), Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 7.966 vụ với 13.151 người phạm tội chống người thi hành công vụ; trung bình mỗi năm xét xử khoảng 724 vụ với 1.195 người phạm tội.
  • So sánh với giai đoạn 1994 - 2004: Giai đoạn 1994 - 2004 xét xử 6.032 vụ với 9.373 người phạm tội (trung bình 548 vụ và 852 người/năm). So sánh giữa hai thời kỳ 11 năm cho thấy giai đoạn 2005 - 2015 tăng 1.934 vụ (tăng 32,1%) và tăng 3.778 người phạm tội (tăng 40,3%).
  • Chỉ số tội phạm trên 100.000 dân: Trong giai đoạn 1994 - 2004 (dân số trung bình 76,8 triệu người), chỉ số tội phạm là 0,71 vụ/100.000 dân và 1,11 người phạm tội/100.000 dân. Sang giai đoạn 2005 - 2015, chỉ số vụ tăng thêm 0,12 (tăng 16,9%) và chỉ số người phạm tội tăng thêm 0,26 (tăng 23,4%).
  • Tương quan với tội phạm nói chung: Tội chống người thi hành công vụ chiếm tỷ lệ 1,17% tổng số vụ phạm tội nói chung bị xét xử (7.966 vụ / 679.157 vụ). Tỷ lệ này cao gấp 3,25 lần tỷ trọng điều luật quy định trong Bộ luật Hình sự 1999 (1/272 điều, tương đương 0,36%).
  • Tương quan với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (Chương XX BLHS 1999): Tội chống người thi hành công vụ chiếm 73,2% tổng số vụ (7.966 / 10.880 vụ) và chiếm 66,8% tổng số người phạm tội (13.151 / 19.670 người).
  • Tương quan với các vụ phạm tội có dấu hiệu chống người thi hành công vụ (số liệu Bộ Công an): Trong 10.532 vụ với 17.469 người có dấu hiệu, số vụ bị truy cứu theo Điều 257 BLHS là 7.966 vụ (75,6%) với 13.151 người (75,3%); các tội danh khác có dấu hiệu chống người thi hành công vụ là 2.566 vụ (24,4%) với 4.318 người (24,7%).
  • Tương quan với tội gây rối trật tự công cộng: Số vụ chống người thi hành công vụ gấp 2,1 lần số vụ gây rối trật tự công cộng (7.966 vụ so với 3.732 vụ), trong khi tổng số người phạm tội tương đương nhau (13.151 người so với 13.198 người).
  • Về tội phạm ẩn: Tội phạm ẩn khách quan của loại tội này ở mức thấp do nạn nhân là người đại diện cơ quan công quyền (Công an, Kiểm lâm, Quản lý thị trường, Thanh tra, Tòa án...), hầu hết các vụ việc đều được lập biên bản và xử lý. Tội phạm ẩn chủ quan xuất phát từ việc xử lý hành chính thay vì xử lý hình sự hoặc thiếu chứng cứ chứng minh.
Chỉ tiêu so sánh (Giai đoạn 2005 - 2015) Tội chống người thi hành công vụ Nhóm đối chiếu Tỷ lệ tương quan
So với Tội phạm nói chung (Số vụ) 7.966 vụ 679.157 vụ 1,17%
So với Tội xâm phạm trật tự QLHC (Số vụ) 7.966 vụ 10.880 vụ 73,20%
So với Tội xâm phạm trật tự QLHC (Số người) 13.151 người 19.670 người 66,80%
So với Vụ việc có dấu hiệu CNTHCV (Số vụ) 7.966 vụ 10.532 vụ 75,60%
So với Vụ việc có dấu hiệu CNTHCV (Số người) 13.151 người 17.469 người 75,30%
So với Tội Gây rối trật tự công cộng (Số vụ) 7.966 vụ 3.732 vụ Gấp 2,13 lần
So với Tội Gây rối trật tự công cộng (Số người) 13.151 người 13.198 người 99,64%

2. Thực trạng về tính chất và cơ cấu tội phạm (Qua khảo sát 458 bản án và dữ liệu chuyên ngành):

  • Khu vực và địa điểm: Xảy ra chủ yếu ở khu vực thành thị, tại các địa điểm công cộng (đường giao thông, trụ sở cơ quan, nơi diễn ra hoạt động cưỡng chế) và phần lớn thực hiện vào ban ngày.
  • Phân loại tội phạm và hình thức: Đa số thuộc loại tội ít nghiêm trọng; hình thức thực hiện chủ yếu là phạm tội đơn lẻ, có tính chất bộc phát nhất thời, không có sự chuẩn bị trước công cụ, phương tiện gây án.
  • Hành vi khách quan và thiệt hại: Thủ đoạn phổ biến là dùng vũ lực trực tiếp (đấm, đá, xô đẩy, giằng giật phương tiện) hoặc đe dọa dùng vũ lực; thiệt hại chủ yếu là thiệt hại về thể chất đối với người thi hành công vụ.
  • Hình phạt áp dụng: Tòa án áp dụng chủ yếu là hình phạt tù có thời hạn dưới 3 năm tù.
  • Đặc điểm nhân thân người phạm tội: Phần lớn là nam giới, phạm tội lần đầu, có độ tuổi trên 30 tuổi, chưa có tiền án tiền sự, trình độ học vấn phổ biến từ trung học phổ thông trở xuống; tỷ lệ người phạm tội có sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích trước khi thực hiện hành vi chiếm tỷ trọng đáng kể.
  • Đặc điểm nạn nhân: Nạn nhân thuộc lực lượng Công an nhân dân (Cảnh sát giao thông, Cảnh sát trật tự, Cảnh sát cơ động, Công an xã, phường) chiếm tỷ lệ áp đảo so với các ngành Kiểm lâm, Thanh tra xây dựng, Thuế vụ, Tòa án.

3. Diễn biến của tội phạm: Giai đoạn 2005 - 2015 chứng kiến sự biến động theo chiều hướng gia tăng rõ rệt ở các năm giữa giai đoạn: năm 2010 (721 vụ / 1.216 người), năm 2011 (728 vụ / 1.234 người), đỉnh điểm là năm 2012 (956 vụ / 1.517 người) và năm 2013 (991 vụ / 1.537 người), sau đó giảm nhẹ vào năm 2014 (751 vụ / 1.175 người) và năm 2015 (647 vụ / 985 người). Về tính chất, xuất hiện nhiều vụ án có tính chất manh động, sử dụng vũ khí nguy hiểm, lôi kéo đám đông chống đối lực lượng chức năng.

Chương 2. Nguyên nhân của tội chống người thi hành công vụ ở Việt Nam

Chương 2 phân tích hệ thống nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố xã hội và nhân thân cá nhân người phạm tội, được chia thành 6 nhóm cụ thể:

  1. Nguyên nhân liên quan đến kinh tế - xã hội: Tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường dẫn đến phân hóa giàu nghèo, sức ép giải quyết việc làm, quá trình đô thị hóa nhanh làm nảy sinh nhiều xung đột lợi ích vật chất trong đền bù đất đai, giải phóng mặt bằng, cùng với sự gia tăng của các tệ nạn xã hội và lối sống thực dụng.
  2. Nguyên nhân từ hạn chế trong quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở một số lĩnh vực quản lý hành chính còn thiếu đồng bộ, chồng chéo; công tác quản lý đô thị, trật tự giao thông, quản lý đất đai và xây dựng ở cấp cơ sở còn bộc lộ sơ hở; quy trình tổ chức cưỡng chế hành chính tại một số địa phương chưa chặt chẽ.
  3. Nguyên nhân thuộc về hạn chế trong công tác xử lý vi phạm và đấu tranh chống tội phạm: Việc phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm hành chính ban đầu đôi lúc chưa kiên quyết, thiếu kịp thời; công tác điều tra, truy tố, xét xử một số vụ án chưa đạt hiệu quả răn đe giáo dục chung; phương án bố trí lực lượng và trang bị công cụ hỗ trợ cho lực lượng thực thi nhiệm vụ chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.
  4. Nguyên nhân từ hạn chế trong hoạt động giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Nội dung và hình thức tuyên truyền pháp luật còn mang tính hình thức, dàn trải, chưa đi sâu vào các nhóm đối tượng cá biệt; nhận thức về quyền và nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng người thi hành công vụ trong một bộ phận dân cư còn hạn chế.
  5. Nguyên nhân từ phía nạn nhân (người thi hành công vụ): Trình độ nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp và xử lý tình huống đột xuất của một bộ phận cán bộ thi hành công vụ chưa đáp ứng yêu cầu; văn hóa ứng xử, tác phong công tác chưa đúng mực; một số trường hợp người thi hành công vụ có sai sót về quy trình, thiếu kiềm chế hoặc có thái độ tiêu cực, gây ức chế tâm lý cho người dân dẫn đến hành vi chống đối.
  6. Nguyên nhân từ phía người phạm tội: Ý thức chấp hành pháp luật kém, lối sống coi thường kỷ cương; tâm lý đám đông, tính hung hăng côn đồ; trạng thái mất kiểm soát hành vi do sử dụng rượu, bia, chất kích thích; động cơ chống đối nhằm trốn tránh trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật trước đó.

Chương 3. Dự báo tình hình tội phạm và các biện pháp phòng ngừa tội chống người thi hành công vụ ở Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, Chương 3 đưa ra các dự báo khoa học và hệ thống 6 nhóm giải pháp phòng ngừa toàn diện:

1. Dự báo tình hình tội phạm: Dự báo tình hình tội chống người thi hành công vụ đến năm 2020 sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp tại các đô thị lớn và các địa bàn đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa; phương thức, thủ đoạn phạm tội có xu hướng manh động hơn, gắn liền với các mâu thuẫn về đất đai, trật tự xây dựng và trật tự an toàn giao thông.

2. Các nhóm biện pháp phòng ngừa:

  • Nhóm biện pháp kinh tế - xã hội: Thực hiện đồng bộ các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao mức sống nhân dân; bảo đảm tính công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích hợp pháp của người dân trong quá trình thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng.
  • Nhóm biện pháp khắc phục hạn chế trong quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội: Rà soát, hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước trên các lĩnh vực trật tự xây dựng, an toàn giao thông, quản lý tài nguyên, bảo vệ rừng; chuẩn hóa quy trình công tác, quy trình thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế hành chính.
  • Nhóm biện pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm và đấu tranh chống tội phạm: Tăng cường phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện kiểm sát và Tòa án trong việc điều tra, truy tố, đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh các vụ án chống người thi hành công vụ; xử lý nghiêm các vi phạm hành chính ngay từ đầu để ngăn chặn nguy cơ chuyển hóa thành tội phạm hình sự.
  • Nhóm biện pháp về giáo dục và tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Đổi mới phương thức giáo dục pháp luật theo hướng trực quan, cụ thể; tăng cường phổ biến các quy định về quyền, nghĩa vụ của công dân và trách nhiệm của người thi hành công vụ; lên án mạnh mẽ các hành vi chống đối cơ quan công quyền trên các phương tiện truyền thông.
  • Nhóm biện pháp hạn chế nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm: Chuẩn hóa tiêu chuẩn cán bộ thi hành công vụ; tăng cường đào tạo, tập huấn kỹ năng xử lý tình huống, văn hóa ứng xử, đạo đức công vụ; trang bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ hợp chuẩn và thiết bị bảo vệ an toàn cho cán bộ thi hành nhiệm vụ.
  • Nhóm biện pháp phòng ngừa từ phía người phạm tội: Quản lý chặt chẽ các đối tượng có tiền án, tiền sự, các đối tượng càn quấy tại địa bàn cơ sở; đẩy mạnh các biện pháp kiểm soát, xử lý vi phạm nồng độ cồn và ma túy tại các địa điểm công cộng và khi tham gia giao thông.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được các kết quả khoa học và đóng góp mới cụ thể sau:

  • Về mặt lý luận: Là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện đầu tiên ở cấp độ luận án tiến sĩ về tội chống người thi hành công vụ tại Việt Nam dưới góc độ tội phạm học. Luận án làm sáng tỏ các khái niệm, đặc trưng lý luận về tình hình tội phạm (kết hợp cả mặt tĩnh và mặt động), cơ chế phát sinh nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, đồng thời phân định rõ ranh giới tội phạm rõ và tội phạm ẩn trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Khái quát bức tranh toàn cảnh về thực trạng và động thái của tội chống người thi hành công vụ tại Việt Nam trong 11 năm (2005 - 2015), chứng minh qua hệ thống số liệu thống kê tư pháp toàn quốc và khảo sát thực chứng (458 bản án sơ thẩm tại 42 tỉnh, thành phố; 350 phiếu điều tra nạn nhân công vụ).
    • Xác định rõ các đặc trưng tội phạm học: tội phạm chủ yếu xảy ra ở đô thị, nơi công cộng, vào ban ngày; tính chất bộc phát, đơn lẻ; đối tượng phạm tội chủ yếu là nam giới trên 30 tuổi, phạm tội lần đầu, trình độ học vấn phổ thông, có sử dụng chất kích thích; nạn nhân phần lớn thuộc lực lượng Công an nhân dân.
    • Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp phòng ngừa có cơ sở khoa học và tính khả thi thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào công tác đấu tranh, kiềm chế và giảm thiểu tội phạm tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 257). Mặc dù dữ liệu thực chứng kéo dài 11 năm (2005 - 2015), nhưng việc đánh giá tội phạm ẩn chỉ mang tính tương đối qua mẫu khảo sát 350 người thi hành công vụ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu tình hình tội chống người thi hành công vụ theo các quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); mở rộng đánh giá tác động của các phương tiện công nghệ (như camera giám sát hành trình tác nghiệp, thiết bị ghi hình cầm tay) trong việc hỗ trợ bảo vệ người thi hành công vụ và làm chứng cứ chứng minh tội phạm.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên: Cung cấp tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy các môn học Tội phạm học, Nạn nhân học, Phòng ngừa tội phạm và Luật Hình sự tại các cơ sở đào tạo luật.
  • Cán bộ thực tiễn thuộc cơ quan bảo vệ pháp luật và hành chính: Cung cấp tư liệu cho lực lượng Công an nhân dân, Viện kiểm sát, Tòa án, Kiểm lâm, Thanh tra xây dựng, Quản lý thị trường và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc xây dựng phương án bảo đảm an toàn cho cán bộ khi thi hành công vụ và hoàn thiện quy trình xử lý vi phạm.
  • Cơ quan xây dựng chính sách, pháp luật: Cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện các văn bản pháp quy về bảo vệ người thi hành công vụ, quản lý trật tự an toàn xã hội và chế độ chính sách cho cán bộ bị xâm hại khi thực thi nhiệm vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong giai đoạn 2005 - 2015, Tòa án nhân dân các cấp tại Việt Nam đã xét xử bao nhiêu vụ án về tội chống người thi hành công vụ? Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao được luận án tổng hợp, trong 11 năm (2005 - 2015), Tòa án nhân dân các cấp đã đưa ra xét xử sơ thẩm 7.966 vụ với 13.151 người phạm tội chống người thi hành công vụ, trung bình mỗi năm xét xử 724 vụ với 1.195 người phạm tội.

2. Tội chống người thi hành công vụ chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (Chương XX BLHS 1999)? Tội chống người thi hành công vụ chiếm tỷ trọng áp đảo trong Chương XX BLHS 1999, cụ thể chiếm 73,2% về số vụ (7.966 / 10.880 vụ) và chiếm 66,8% về số người phạm tội (13.151 / 19.670 người phạm tội).

3. Chỉ số tội phạm của tội chống người thi hành công vụ giai đoạn 2005 - 2015 biến động như thế nào so với giai đoạn 1994 - 2004? So với giai đoạn 1994 - 2004 (chỉ số là 0,71 vụ/100.000 dân và 1,11 người phạm tội/100.000 dân), chỉ số tội phạm giai đoạn 2005 - 2015 tăng thêm 0,12 về số vụ (tăng 16,9%) và tăng thêm 0,26 về số người phạm tội (tăng 23,4%).

4. Dữ liệu thực chứng của luận án được thu thập từ những nguồn nghiên cứu cụ thể nào? Nguồn dữ liệu thực chứng gồm: số liệu thống kê hình sự chính thức của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an (2005 - 2015); dữ liệu dân số của Tổng cục Thống kê; phân tích chọn mẫu ngẫu nhiên 458 bản án hình sự sơ thẩm tại 42 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; và 350 phiếu điều tra nạn nhân đối với cán bộ thực thi công vụ thuộc nhiều ngành, lực lượng trên cả nước.

5. Nhân thân của người phạm tội chống người thi hành công vụ có những đặc điểm tội phạm học nổi bật nào? Qua nghiên cứu 458 bản án và dữ liệu thống kê, người phạm tội chủ yếu là nam giới, phạm tội lần đầu, trên 30 tuổi, chưa có tiền án tiền sự, trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở xuống, thực hiện hành vi đơn lẻ mang tính bộc phát và có tỷ lệ đáng kể sử dụng rượu, bia hoặc chất kích thích trước khi gây án.

Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Ngọc Đường là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện dưới góc độ tội phạm học về tội chống người thi hành công vụ tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2015. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý luận tội phạm học hiện đại và nguồn dữ liệu thực nghiệm quy mô lớn từ 7.966 vụ án xét xử toàn quốc, 458 bản án sơ thẩm tại 42 địa phương và 350 phiếu khảo sát nạn nhân công vụ, luận án đã làm sáng tỏ thực trạng, cơ cấu, động thái diễn biến cũng như hệ thống 6 nhóm nguyên nhân phát sinh tội phạm. Hệ thống dự báo khoa học và 6 nhóm giải pháp phòng ngừa được đề xuất cung cấp luận cứ lý luận và thực tiễn phục vụ công tác xây dựng chính sách, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trong thực tiễn tư pháp Việt Nam.