Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ 1. Khái niệm và dấu hiệu đặc trưng của tội chống người thi hành công vụ 1. Khái niệm tội chống người thi hành công vụ - Về khái niệm công vụ Để hiểu rõ khái niệm tội chống người thi hành công vụ, chúng ta cần hiểu rõ bản chất của công vụ và chống người thi hành công vụ là như thế nào? Ở nước ta hiện nay, trong các văn bản pháp luật, thuật ngữ “công vụ” chưa được hiểu thống nhất, cụ thể: Nghị quyết số 04/NQ-HĐTPTANDTC: “Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện” [13]. Nhận xét: Kể từ khi BLHS năm 1985 được ban hành thì đây là văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến khái niệm công vụ, nhưng đây là khái niệm công vụ theo nghĩa rộng, không giới hạn phạm vi, chủ thể của công vụ.
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan” [28, Điều 2]. Nhận xét: Có thể thấy quy định này đã chỉ ra đặc điểm quan trọng nhất của công vụ đó là việc thực hiện phải tuân theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và quy định có liên quan (tính đúng pháp luật) và giới hạn phạm vi chủ thể của hoạt động công vụ là cán bộ, công chức. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2010 có nội dung xác định: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện 9 Luan van nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án” [26]. Nhận xét: Có thể thấy trong khái niệm này thì phạm vi của công vụ chỉ trong ba lĩnh vực là quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án.
Đây là những lĩnh vực có việc ban hành nhiều quyết định cá biệt, có tính chất mệnh lệnh - phục tùng và tác động tới từng cá nhân cụ thể và chủ thể của hoạt động này là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ. Từ các quan điểm trên, có thể hiểu công vụ phải là hoạt động quản lý nhà nước và là hoạt động thực hiện đúng quy định của pháp luật, tức là những hoạt động được thực hiện dựa trên cơ sở quy định của pháp luật, được giới hạn trong ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Chủ thể của công vụ là người thuộc các cơ quan nhà nước hoặc được cơ quan nhà nước giao quyền thực hiện những nhiệm vụ nhất định. Hoạt động không đúng pháp luật là hoạt động “làm trái công vụ” và rõ ràng không phải là công vụ.
- Về người thi hành công vụ Tương tự như khái niệm “công vụ” chưa được nhận thức thống nhất, nên “người thi hành công vụ” cũng có nhiều cách hiểu khác nhau: Nghị quyết 04/NQ-HĐTPTANDTC quy định: “Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nghiệp vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nghiệp vụ (như: tuần tra, canh gác.) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội”. Theo hướng dẫn trên thì người thi hành công vụ gồm: 10 Luan van + Người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. + Những công dân được huy động làm nhiệm vụ theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2010 quy định: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án” [26, Điều 3].
Nghị định số 208/2013/NĐ-CP ngày 17/12/2013 của Chính phủ quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ xác định, người thi hành công vụ “. là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội” [7, Điều 3]. Từ những định nghĩa trên, tác giả rút ra một số đặc điểm của người thi hành công vụ như sau: + Thứ nhất, người thi hành công vụ là người có thẩm quyền thực hiện công vụ nhất định, bao gồm hai nhóm là: Người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án. Người tuy không được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào làm việc trong các cơ quan nhà nước nhưng được các cơ quan nhà nước hay người có chức vụ quyền hạn giao thực hiện một nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án.
11 Luan van + Thứ hai, người thi hành công vụ phải đang thực hiện một công vụ nhất định. Một người chỉ thực sự là người thi hành công vụ khi đang thực hiện công vụ (hoạt động đúng pháp luật) theo đúng thẩm quyền. Nếu việc thực hiện công vụ chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc thì không còn là “đang thực hiện công vụ”. + Thứ ba, việc thực hiện công vụ của cá nhân phải đúng pháp luật.
Đặc điểm đúng pháp luật này xuất phát từ bản chất của công vụ. Người thi hành công vụ theo đúng nghĩa phải là người thực hiện hoạt động đúng pháp luật cả về nội dung, hình thức và thẩm quyền. Từ những phân tích trên có thể hiểu: Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước hoặc người khác đang tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án theo đúng pháp luật và đúng thẩm quyền do cơ quan nhà nước giao. *Khái niệm tội chống người thi hành công vụ Về khái niệm tội chống người thi hành công vụ cũng được nhiều tác giả đề cập trong các công trình khoa học khác nhau: Từ điển Luật học định nghĩa: “Chống người thi hành công vụ là (hành vi) cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ của mình bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc là hành vi cưỡng ép người đó thực hiện hành vi trái pháp luật” [4, tr.
Tác giả Đinh Văn Quế có quan điểm: Chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật [21, tr. Đồng quan điểm với tác giả Đinh Văn Quế, các tác giả Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng có quan điểm: Chống người thi hành công vụ là hành vi 12 Luan van dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật [5, tr.518] Nhận xét: Các quan điểm trên đều thống nhất ở nội hàm khái niệm tội chống người thi hành công vụ là đó là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật. Trong BLHS hiện hành nhà làm luật chưa đưa ra khái niệm pháp lý về tội chống người thi hành công vụ nhưng khái niệm tội phạm đã được ghi nhân tại Điều 8 BLHS, theo đó tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đây là khái niệm pháp lý tương đối hoàn chỉnh về tội phạm, là cơ sở quan trọng để xây dựng khái niệm các tội phạm cụ thể, trong đó có tội chống người thi hành công vụ.
Tội chống người thi hành công vụ là tội phạm được pháp điển hóa lần đầu tiên trong BLHS năm 1985 cho đến nay. Tội này được quy định tại Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, đó là nhóm các tội xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước, của người thi hành công vụ trong các lĩnh vực quản lý xã hội, trong một số trường hợp còn gây thiệt hại về tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của người khác, với hành vi “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật” [25, Điều 330]. Như vậy, hành vi chống người thi hành công vụ là hành vi cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc cưỡng ép người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật bằng các thủ đoạn khác nhau 13 Luan van (như dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần), những hành vi này đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, làm giảm hiệu lực quản lý của các cơ quan, tổ chức đó và có thể xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của chính người thi hành công vụ.