Chương 1 6 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ 1. Những vấn đề lý luận về tội chống người thi hành công vụ 1. Khái niệm tội chống người thi hành công vụ. Công vụ là thuật ngữ được xem xét đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau.
Do đó, công vụ được hiểu theo các phạm vi rộng hẹp khác nhau. Theo cách hiểu chung nhất, công vụ là các việc công. Các việc này được thực hiện vì lợi ích chung, lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội, lợi ích của nhà nước. Trong khi đó, ở một phạm vi hẹp hơn, công vụ chỉ giới hạn trong các hoạt động của nhà nước.
Đây cũng chính là cách quan niệm về công vụ của nhiều nước trên thế giới. Theo cách hiểu này, công vụ gắn liền với con người làm việc cho Nhà nước và những công việc của Nhà nước do những con người đó thực hiện. Chính vì vậy, ở nhiều nước hai khái niệm công vụ và công chức luôn gắn liền chặt chẽ với nhau. Hẹp hơn nữa, một số nước coi công vụ chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động của các cơ quan hành pháp mà không tính đến các hoạt động lập pháp và tư pháp (xét xử và công tố) trong bộ máy nhà nước.
Theo Bách khoa toàn thư mở - Wikipedia thì công vụ là một hoạt động do cán bộ, công chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội. Đây là khái niệm giới hạn về phạm vi chủ thể của công vụ nhưng lại mở rộng về phạm vi trong lĩnh vực công vụ là “thực hiện theo quy định của pháp luật”. Công vụ theo từ điển Oxford, được hiểu là toàn bộ các cơ quan của Chính phủ không kể lực lượng quân đội hoặc công vụ sử dụng để chỉ một nhóm người làm việc trong các cơ quan nhà nước (dân sự). Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Hội Đồng Thẩm phán TAND tối cao quy định: “Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện” (Mục 1, Chương 2).
Quy định này được hiểu theo nghĩa rộng, không có việc giới hạn phạm vi trong lĩnh vực công vụ và không giới hạn về phạm vi chủ thể của công vụ. Luan van Từ điển Pratique du Francais năm71987 cho rằng “công vụ là công việc của công chức” nhằm nhấn mạnh chủ thể của hoạt động công vụ, nhưng chưa đề cập đến chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của hoạt động công vụ. Luật Công vụ của Liên bang Nga coi công vụ “là hoạt động có tính chuyên nghiệp nhằm đảm bảo thực thi thẩm quyền của các cơ quan nhà nước. Khái niệm này nhấn mạnh tính chuyên nghiệp của hoạt động công vụ.
Giáo trình Công vụ, công chức do Nxb. Giáo dục, Hà Nội xuất bản năm 1997 cho rằng, “Công vụ là một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chính sách của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội”, nhấn mạnh tính chất của hoạt động công vụ là “tính quyền lực”, “tính pháp lý” và đặc tính của hoạt động công vụ “là một loại lao động”. Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định, “hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan” (Điều 2). Quy định này đã chỉ ra những đặc điểm quan trọng của công vụ và giới hạn phạm vi chủ thể của hoạt động công vụ.
Công vụ là hoạt động được tiến hành trên cơ sở pháp luật để thực hiện công việc do Nhà nước giao. Do đó, tính tuân theo pháp luật là đặc điểm quan trọng nhất của “công vụ”. Định nghĩa này cũng giới hạn phạm vi đối tượng là cán bộ, công chức. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ban hành năm 2017 không quy định trực tiếp về công vụ nhưng lại có nội dung xác định người thi hành công vụ, như sau: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án” (Khoản 2, Điều 3).
Quy định này đã giới hạn phạm vi lĩnh vực của công vụ là trong quản lý hành chính, tố tụng và trong thi hành án. Luan van Căn cứ vào các cách tiếp cận khác8nhau về công vụ, “công vụ” có thể được hiểu “công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước hoặc những người khác khi được nhà nước trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xã hội. Công vụ là phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân, gắn với quyền lực nhà nước”. Tuy nhiên trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, do đặc thù về thể chế chính trị nên công vụ còn bao gồm cả hoạt động thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội.
Có thể thấy đặc điểm của công vụ là tính đúng pháp luật và được giới hạn trong phạm vi nhất định bao gồm giới hạn về phạm vi chủ thể của công vụ và giới hạn về phạm vi lĩnh vực của công vụ. Theo đó, công vụ phải là hoạt động quản lý nhà nước và phải thực hiện theo đúng pháp luật, tức là những hoạt động được thực hiện dựa trên quy định của pháp luật bao gồm pháp luật nội dung và pháp luật hình thức. Phạm vi lĩnh vực của hoạt động công vụ được giới hạn trong ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Chủ thể của công vụ là người thuộc các cơ quan Nhà nước hoặc được cơ quan Nhà nước giao quyền thực hiện những nhiệm vụ cụ thể.
Với cách hiểu như vừa nêu ở trên về công vụ thì đặc điểm quan trọng nhất của công vụ là tính đúng pháp luật. Muốn được coi là công vụ thì hoạt động phải đúng pháp luật, đúng quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật và người thực hiện được giao thẩm quyền theo đúng pháp luật. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật được coi là một trong các nguyên tắc của hoạt động công vụ. Hoạt động không đúng pháp luật là hoạt động “làm trái công vụ”.
Trong trường hợp người thi hành công vụ có hoạt động làm trái công vụ thì hành vi không được xem là hành vi thực hiện công vụ và dẫn đến thực hiện cũng không được coi là người thi hành công vụ. Việc xác định chính xác thế nào là hoạt động “công vụ” có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định dấu hiệu “người thi hành công vụ” - Về khái niệm “người thi hành công vụ”, cũng có nhiều giải thích khác nhau. Luan van + Nghị quyết số 04/HĐTP ngày919/11/1986 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1985 nêu rơ: “Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ (như: Tuần tra, canh gác, bảo vệ.) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của nhà nước và xã hội.” Từ quy định trên, người thi hành công vụ là những người có chức vụ và quyền hạn trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội mà các cơ quan này thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình hoặc những công dân được huy động làm nhiệm vụ theo kế hoạch của các cơ quan có thẩm quyền. + Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước năm 2017 quy định: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án (Khoản 2, Điều 3).
Theo đó, người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước, hoặc người iđược icơ iquan inhà inước icó ithẩm iquyền igiao ithực ihiện inhiệm ivụ ihoặc i nhiệm ivụ icó iliên iquan iđến ihoạt iđộng iquản ilý ihành ichính, itố itụng, ithi ihành ián. + iNghị iđịnh i208/2013/NĐ-CP ingày i17/12/2013 icủa iChính iphủ iquy iđịnh ivề i các ibiện ipháp iphòng ingừa, ingăn ichặn ivà ixử ilý inhững ihành ivi ichống ingười ithi i hành icông ivụ ixác iđịnh ingười ithi ihành icông ivụ i“.là icán ibộ, icông ichức, iviên i chức, isĩ iquan, ihạ isĩ iquan, ichiến isĩ ilực ilượng ivũ itrang inhân idân iđược icơ iquan, i tổ ichức ihoặc icá inhân icó ithẩm iquyền igiao ithực ihiện inhiệm ivụ, iquyền ihạn itheo i quy iđịnh icủa ipháp iluật ivà iđược ipháp iluật ibảo ivệ inhằm iphục ivụ ilợi iích icủa iNhà i nước, inhân idân ivà ixã ihội” i(Khoản i1, iĐiều i3). iQuy iđịnh inày iquy iđịnh icụ ithể i hơn ivề ingười ithi ihành icông ivụ ivà iquy iđịnh irơ: ingười ithi ihành icông ivụ iđược i pháp iluật ibảo ivệ. Những ikhái iniệm itrên iđã ilàm irơ ivề ichủ ithể ivà iphạm ivi ithực ihiện inhiệm ivụ i của ingười ithi ihành icông ivụ: i(1) iVề ichủ ithể: iNgười ithi ihành icông ivụ iphải ilà icán Luan van i bộ, icông ichức, iviên ichức icủa icơ iquan10inhà inước, itổ ichức ichính itrị, itổ ichức i chính itrị i- ixã ihội, itổ ichức ichính itrị i- ixã ihội i- inghề inghiệp, itổ ichức ixã ihội ihoặc i cũng icó ithể ilà imột icông idân ibất ikỳ iđược icơ iquan inhà inước icó ithẩm iquyền ihuy i động, iyêu icầu ithực ihiện inhiệm ivụ.
i(2) iVề iphạm ivi ithực ihiện inhiệm ivụ: iChỉ icó i thể icoi ilà ithi ihành icông ivụ ikhi icông iviệc imà ihọ ilàm ilà ithực ihiện icác ichức inăng, i nhiệm ivụ icủa icác icơ iquan inhà inước, icác itổ ichức inhằm iphục ivụ ilợi iích ichung i của iNhà inước, icủa ixã ihội.