Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Một số khái niệm liên quan và quy định về tội chống người thi hành công vụ trong pháp luật hình sự Việt Nam trước năm 2015 1.1 Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm công vụ Hiện nay, thuật ngữ “công vụ” vẫn là một thuật ngữ được tiếp cận ở nhiều nghĩa khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố nên nó chỉ mang tính tương đối.
Ở mỗi quốc gia khác nhau lại có những quan niệm khác nhau khi bàn về thuật ngữ “công vụ”. Theo đó, Luật Công vụ của Liên bang Nga coi công vụ là “hoạt động có tính chuyên nghiệp nhằm đảm bảo thực thi thẩm quyền của các cơ quan nhà nước”; còn theo từ điển Pratique du Francais 1987 (Pháp) định nghĩa rất gọn như sau: "Công vụ là công việc của công chức"; Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì định nghĩa:“Công vụ là một hoạt động do công chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội”. Qua những khái niệm trên có thể thấy, mặc dù về mặt câu từ còn có sự khác nhau, tuy nhiên, có thể hiểu “công vụ” là một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chính sách của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội do công chức nhân danh nhà nước tiến hành [27, tr. Còn hoạt động công vụ chính là việc thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước, gắn với quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước và được điều chỉnh bởi ý chí nhà nước nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội do công chức thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ.
Ngoài ra hoạt động công vụ còn 6 Luan van là những hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà nước uỷ quyền công vụ). Ở Việt Nam cũng chưa có một khái niệm thống nhất về công vụ. Tuy nhiên, theo nghĩa chung nhất, công vụ được hiểu là các việc công, là các việc được thực hiện vì lợi ích chung, lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước. Ở phạm vi hẹp hơn, công vụ được hiểu là công các công việc của Nhà nước, là công vụ nhà nước.
Dưới góc độ pháp lý, cũng đã có văn bản quy phạm pháp luật đã đưa ra khái niệm về “công vụ”. Tại Nghị quyết số 04- HĐTPTANDTC/NQ của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao ban hành ngày 29/11/1986 có nội dung như sau: “Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện” [Mục 1, Chương 2]. Theo nghĩa này, “công vụ” đã được hiểu theo nghĩa rộng, không có việc giới hạn phạm vi trong lĩnh vực công vụ và không giới hạn về phạm vi chủ thể của công vụ. Hay như tại Luật cán bộ, công chức năm 2008 được quy định như sau: “Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan” [19, Điều 2].
Quy định này đã chỉ ra những đặc điểm quan trọng của công vụ và giới hạn phạm vi chủ thể của hoạt động công vụ. Công vụ là hoạt động được tiến hành trên cơ sở pháp luật để thực hiện công việc do Nhà nước giao. Do đó, tính tuân theo pháp luật là đặc điểm quan trọng nhất của “công vụ”. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: “Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một hoặc một số người thực hiện nhằm quản lý, kiểm soát mọi mặt của đời sống nhằm mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ đồng thời thể hiện rõ nhất vai trò quản lý mọi mặt đời sống xã hội của Nhà nước”.
Khái niệm người thi hành công vụ Thực tế khoa học Luật hình sự hiện nay cho thấy, trong các quy định của BLHS đều chưa đưa ra khái niệm người thi hành công vụ. Khái niệm này mới chỉ được quy định ở các văn bản dưới luật. Điển hình như tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1985 đã giải thích về người thi hành công vụ như sau: “Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nghiệp vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nghiệp vụ (như: tuần tra, canh gác, bảo vệ…) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội”. Hay như tại Khoản 1 Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2009 quy định: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính.
hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính. Gần đây nhất, Nghị định số 208/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ, tại Khoản 1, Điều 3 đã giải thích về người thi hành công vụ như sau: “Người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan, hạ sĩ quan, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội”. Về cơ bản, những giải thích, hướng dẫn nêu trên khi đưa ra khái niệm về người thi hành công vụ, đã đề cập đến ba vấn đề: Một là, về chủ thể: Họ phải là cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - 8 Luan van xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội hoặc cũng có thể là một công dân bất kỳ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Hai là, về phạm vi công vụ: “Công vụ” mà họ thực hiện là các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, các tổ chức nhằm phục vụ lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội.
Nói cách khác, những công vụ mà họ đang thực hiện phải hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Ba là, về phạm vi thời gian thực hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ. Theo đó, người thi hành công vụ là khi họ “đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc nhiệm vụ đó”. Tội chống người thi hành công vụ trong pháp luật hình sự Việt Nam trước năm 2015 1.
Tội chống người thi hành công vụ trong pháp luật hình sự giai đoạn 1945 đến trước năm 1985 Ngay từ khi Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng hệ thống pháp luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, nhất là trong thời kỳ đất nước còn gặp nhiều khó khăn. Để bảo vệ chính quyền non trẻ cũng như nâng cao hiệu quả quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành, trong đó có những văn bản pháp luật về hình sự. Ở giai đoạn này, các văn bản pháp luật hình sự chủ yếu là các Lệnh, Sắc lệnh tập trung vào điều chỉnh những mối quan hệ phức tạp, những tội phạm mang tính nguy hiểm cao. Trước khi BLHS năm 1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành, Tội chống người thi hành công vụ chưa được quy định thành một tội phạm riêng và chưa được điều chỉnh bởi khung hình phạt riêng mà chỉ được gián tiếp đề cập trong các văn bản pháp luật bảo vệ sức khỏe và tính mạng của con người nói chung.
Điển hình như tại Điều 6 9 Luan van Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định: “Địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây: 1. Cấu kết với đế quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay cầm đầu những tổ chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân viên; … thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân hoặc xử tử hình…”. Tại Điều 14 Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng năm 1967 quy định về tội phá rối trật tự, an ninh như sau: “1. Kẻ nào vì mục đích phản cách mạng mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người nhằm phá rối trật tự, an ninh, ngăn trở cán bộ, nhân viên nhà nước, bộ đội, công an thi hành nhiệm vụ thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm”.
Công văn số 452 – HS2 ngày 10/8/1970 của TAND tối cao về thực tiễn xét xử tội giết người quy định những tình tiết tăng nặng đặc biệt của tội giết người. Trong đó, có tình tiết “giết người được giao nhiệm vụ công tác hoặc trong khi nạn nhân thi hành nhiệm vụ”… Có thể nói, mặc dù các quy định của pháp luật hình sự thời kỳ này chưa đưa ra khái niệm cụ thể về người thi hành công vụ và chống người thi hành công vụ, tuy nhiên, vấn đề này đã bước đầu được đề cập trong một số các văn bản quy phạm pháp luật. Đây chính là cơ sở cho những quy định về Tội chống người thi hành công vụ ở các văn bản luật giai đoạn sau. Thông qua đó cũng chứng tỏ sự quan tâm của các nhà lập pháp trong việc bảo vệ các quyền lợi chính đáng mà đặc biệt là sức khỏe và tính mạng con người nói chung và quyền, lợi ích chính đáng của người thi hành công vụ nói riêng.
Tội chống người thi hành công vụ trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII thông qua ngày 27/6/1985 đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử lập pháp của nước ta.