Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mai thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Đỗ Thị Phượng và TS. Vũ Gia Lâm, thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số: 938.04).

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn trung tâm của tố tụng hình sự, nơi Tòa án thực hiện quyền tư pháp nhằm giải quyết vụ án lần thứ nhất, ra bản án xác định bị cáo có tội hay vô tội và quyết định hình phạt. Thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 cho thấy tranh tụng tại phiên tòa còn mờ nhạt; Hội đồng xét xử (HĐXX) chủ yếu tập trung xét hỏi để tìm chứng cứ buộc tội thay vì giữ vai trò trọng tài vô tư, dẫn đến quan niệm định kiến rằng một người khi bị đưa ra xét xử đương nhiên sẽ bị kết tội. Nhằm khắc phục hạn chế này, BLTTHS năm 2015 đã thể chế hóa nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm tại Điều 26, đồng thời gộp hai thủ tục xét hỏi và tranh luận thành một thủ tục chung là tranh tụng tại phiên tòa, coi đây là khâu trọng tâm để nâng cao chất lượng xét xử. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 vẫn bộc lộ những điểm chưa hợp lý: Thẩm phán chủ tọa điều khiển tranh tụng nhưng lại chủ động xét hỏi trước; việc xét xử vắng mặt nhiều người tham gia tố tụng chưa có căn cứ cụ thể; thứ tự tố tụng vẫn chia rạch ròi, cứng nhắc. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trong khoa học luật tố tụng hình sự, dù có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên tắc tranh tụng nói chung, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong bối cảnh thi hành BLTTHS năm 2015.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, khảo sát thực trạng quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này. Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Phân tích, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
  2. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa; phân biệt hoạt động tranh tụng trong mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn; làm rõ các điều kiện bảo đảm hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm.
  3. Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn thi hành; chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
  4. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm có:

  1. Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là gì? Hoạt động này có những đặc điểm gì?
  2. Hoạt động tranh tụng trong mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn khác nhau như thế nào?
  3. Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có những ý nghĩa gì?
  4. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định như thế nào về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự?
  5. Yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự? Để nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cần có những giải pháp nào?

Giả thuyết nghiên cứu của luận án xác định: Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là sự tổng hợp hoạt động của các chủ thể buộc tội, gỡ tội, các chủ thể tranh tụng khác và gắn liền với vai trò xét xử của Tòa án. Hoạt động tranh tụng trong mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn có nhiều điểm khác biệt cơ bản. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã có những quy định tương đối đầy đủ nhưng vẫn còn một số điểm bất cập dẫn tới thực tiễn tranh tụng còn hạn chế nhất định. Do đó, việc nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện pháp luật, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường điều kiện cơ sở vật chất.

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn thi hành các quy định này. Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Về mặt lý luận, luận án tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo thủ tục tố tụng thông thường (không nghiên cứu các thủ tục đặc biệt như thủ tục rút gọn, thủ tục đối với người dưới 18 tuổi, thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân).
  • Về mặt pháp luật, luận án tập trung vào các quy định của BLTTHS năm 2015, có so sánh đối chiếu với BLTTHS năm 2003, các văn bản pháp luật liên quan và nghiên cứu có chọn lọc quy định pháp luật của một số quốc gia.
  • Về mặt thực tiễn, luận án đánh giá hoạt động tranh tụng sơ thẩm thông qua các báo cáo, số liệu thống kê tổng kết 10 năm (giai đoạn 2010 - 2019) của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, cùng các bản án và biên bản phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong luận án được phân tích theo 4 nhóm công trình trong nước và các công trình nghiên cứu của nước ngoài:

Nhóm thứ nhất bao gồm các công trình nghiên cứu lý luận về nguyên tắc tranh tụng và mô hình tố tụng tranh tụng. Về sách chuyên khảo, có cuốn "Về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự" của Nguyễn Văn Hiển (Nxb. Chính trị quốc gia, 2011); cuốn "Những nội dung mới trong BLTTHS năm 2015" do Nguyễn Hòa Bình chủ biên (Nxb. Chính trị quốc gia, 2016) với hai chuyên đề nghiên cứu của Đào Trí Úc và Trần Công Phàn; cuốn "Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Việt Nam" của Hoàng Thị Sơn và Bùi Kiên Điện (Nxb. Công an nhân dân, 2000). Về luận án và luận văn, có luận án của Nguyễn Thu Hiển (2011), Hoàng Văn Thành (2015); luận văn của Phan Thị Mỹ Hạnh (2004), Nguyễn Tiến Long (2005). Các bài báo khoa học nghiên cứu vấn đề này gồm có bài viết của Nguyễn Đức Mai (1996), Võ Thị Kim Oanh (2006), Nguyễn Văn Hiển (2008), Hoàng Văn Thành (2010), Trần Văn Độ (2014), Phan Văn Sơn (2014), Hoàng Thị Liên (2014), Nguyễn Thị Thúy Hằng (2014), Vũ Gia Lâm (2015, 2017) và Nguyễn Thái Phúc (2015). Về mô hình tố tụng, luận án của Nguyễn Thị Thủy (2014), các bài viết của Nguyễn Thị Thủy (2013), Lý Văn Chính (2004), Phạm Hồng Hải (2003), Trần Đại Thắng (2003) đã phân tích các đặc trưng của mô hình tố tụng tranh tụng và khả năng áp dụng tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các ấn phẩm nghiên cứu về thủ tục xét xử và tổ chức tư pháp của Đinh Văn Quế (2001), Võ Thị Kim Oanh (2012), Lê Tài Triển (1971), Nhà Pháp luật Việt - Pháp (1997), Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương và Nguyễn Thị Thủy (2013), Lê Cảm và Nguyễn Ngọc Chí (2004), Uông Chu Lưu (2004), Võ Thọ (1985), Trần Quang Tiệp (2003), tài liệu hệ thống hóa luật lệ của TAND tối cao (1976), Vũ Đức Khiển và Phạm Xuân Chiến (1989), cùng các đề tài khoa học của Nguyễn Ngọc Chí (2012), Uông Chu Lưu (2006), Hoàng Thị Minh Sơn (2009), Viện Khoa học xã hội (2015), VKSND tối cao (2008) và các bài viết về mối quan hệ Tòa án - Viện kiểm sát của Hồ Sỹ Sơn (2005), Nguyễn Mạnh Kháng (2008), Nguyễn Ngọc Chí (2009), Nguyễn Thị Tuyết (2011), Nguyễn Hà Trang (2010), Trương Đức Thắng (2014), Trần Văn Độ (2004), Nguyễn Văn Tuân (2009), Tống Anh Hảo (2005), Nguyễn Thị Bắc (2003), Lê Thúc Anh (2008), Lê Tiến Châu (2003), Nguyễn Đăng Dung (2007, 2011), Nguyễn Duy Giảng (2014), Lê Cảm (2007), Đỗ Văn Đương (2006), Trịnh Tiến Việt (2011) đã tạo dựng nền tảng lý luận ban đầu về chức năng xét xử và chức năng buộc tội.

Nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về pháp luật và thực tiễn tranh tụng. Tiêu biểu là chuyên đề nghiên cứu năm 2014 của VKSND tối cao tổng hợp từ báo cáo của 63 VKSND cấp tỉnh và 3 Viện phúc thẩm. Về sách chuyên khảo, có cuốn "Một số vấn đề về Luật tố tụng hình sự Việt Nam" của Nguyễn Văn Tuân (Nxb. Tư pháp, 2015); "Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm" của Dương Thanh Biểu (Nxb. Tư pháp, 2007); "Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam" của Lê Tiến Châu (Nxb. Tư pháp, 2009); "Hành nghề luật sư trong vụ án hình sự" của Phan Trung Hoài (Nxb. Tư pháp, 2012); "Độc lập xét xử trong nhà nước pháp quyền ở Việt Nam" của Lưu Tiến Dũng (Nxb. Tư pháp, 2012). Các bài viết thực tiễn gồm có nghiên cứu của Nguyễn Hiển Khanh (2006), Nguyễn Văn Trường (2008), Nguyễn Trương Tín (2008), Trần Duy Bình (2011), Hồ Nguyễn Quân (2014). Về luận văn, có các công trình của Vũ Chí Toàn (2016), Bùi Thị Hà (2010) và Đặng Thị Giao (2011) nghiên cứu về mối quan hệ giữa tranh luận và tranh tụng.

Nhóm thứ ba bao gồm các công trình nghiên cứu liên quan đến thủ tục xét xử và quyền của các chủ thể tham gia tố tụng. Tiêu biểu là sách của Đinh Văn Quế (2003, 2005), Phạm Hồng Hải (1999), Lương Thị Mỹ (2013), Lê Tài Triển (1971), Võ Thị Kim Oanh (2011). Các luận án tiến sĩ gồm có công trình của Ngô Thị Ngọc Vân (2016) về hoạt động bào chữa của luật sư ở giai đoạn sơ thẩm, Lê Thị Thúy Nga (2019) về chủ thể buộc tội, Trần Thị Liên (2019) về thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm. Các bài viết chuyên ngành liên quan gồm có công trình của Huỳnh Sáng (2004), Hoàng Thế Anh (2005), Nguyễn Văn Khát (2014), Vũ Gia Lâm (2013), Đinh Văn Quế (2006), Nguyễn Chí Dũng (2014), Nguyễn Văn Đoàn và Lê Hồng Phong (2013), Hoàng Anh Phương (2007), Nguyễn Trung Kiên (2014).

Nhóm thứ tư nghiên cứu về tố tụng hình sự nước ngoài gồm có các bài viết của Trần Đại Thắng (2005 - Australia), các ấn phẩm chuyên đề của Viện Khoa học kiểm sát (2003, 2007, 2008 - CHLB Đức và so sánh quốc tế), sách "Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới" do Tô Văn Hòa chủ biên (2012) với các chuyên đề về Hàn Quốc (Byung-Sun Cho) và Trung Quốc (Liling Yue); các bài báo của Lại Thị Thu Hà (2008), Đậu Công Hiệp (2016), Vũ Mộc (2006). Nguồn tài liệu quốc tế được tác giả tham khảo gồm: Congressional Quarterly (2001 - hệ thống pháp luật Hoa Kỳ), H.L. Packer (1964 - hai mô hình tố tụng hình sự), J.W. Diehm (2001 - bồi thẩm đoàn và đối tụng tại Liên Xô cũ), Mireille Delmas-Marty và J.R. Spencer (2002 - tố tụng hình sự Châu Âu: Anh, Pháp, Đức, Ý, Bỉ), David T. Johnson (2003 - Nhật Bản), Jacqueline Hodgson (2005 - Pháp), Philip L. Reichel (1999), Anja Seibert-Fohr (2009), R.P. Rakhunov (1961), M.S. Strogovich (1968), Jerold Israel và Wayne R. LaFave (1991).

Khoảng trống được luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trên tiếp cận tranh tụng ở góc độ nguyên tắc trừu tượng, nghiên cứu mô hình tổng quát hoặc tập trung vào một chủ thể riêng lẻ (Kiểm sát viên hoặc Luật sư) dưới thời điểm thi hành BLTTHS năm 2003. Luận án của Nguyễn Thị Mai là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo quy định của BLTTHS năm 2015, kết hợp giữa cơ sở lý luận, quy định luật thực định và dữ liệu khảo sát thực tiễn 10 năm (2010 - 2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận án là những vấn đề lý luận về quyền tư pháp, lý luận về ba chức năng tố tụng cơ bản (buộc tội, gỡ tội, xét xử), lý luận về mô hình tố tụng hình sự (mô hình tranh tụng và mô hình thẩm vấn) và lý luận chung về nguyên tắc tranh tụng cùng hoạt động tranh tụng trong xét xử.

Về phương pháp luận, luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: dùng để xử lý, phân loại, sắp xếp các tài liệu nghiên cứu nhằm xây dựng hệ thống khái niệm, đặc điểm và điều kiện bảo đảm của hoạt động tranh tụng.
  • Phương pháp lịch sử: nghiên cứu tiến trình hình thành và biến đổi của các quy định tố tụng hình sự Việt Nam qua từng thời kỳ lịch sử.
  • Phương pháp so sánh: đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn (BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015) và so sánh với pháp luật của một số quốc gia.
  • Phương pháp đối chiếu: kiểm chứng giữa quy định của pháp luật thực định với thực tiễn xét xử sơ thẩm.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: triển khai luận điểm khoa học và rút ra các kết luận lý luận, giải pháp lập pháp.
  • Phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn: phân tích báo cáo nghiệp vụ, bảng số liệu thực tế giai đoạn 2010 - 2019 để chứng minh thực trạng hoạt động tranh tụng.

Nguồn tư liệu và dữ liệu gồm: các văn bản luật thực định (Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 1988, 2003, 2015); quy định pháp luật tố tụng của Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nhật Bản, Liên bang Xô Viết cũ; báo cáo tổng kết thực tiễn giai đoạn 2010 - 2019 của VKSND tối cao, TAND tối cao, Liên đoàn Luật sư Việt Nam; cùng hệ thống các bản án và biên bản phiên tòa sơ thẩm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trong Chương 1, tác giả xác định hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm là tổng hợp các hành vi tố tụng do bên buộc tội, bên gỡ tội và các chủ thể khác thực hiện dưới sự điều khiển và phán quyết của Tòa án. Hoạt động này có các đặc điểm cơ bản: diễn ra công khai tại phiên tòa; các bên thực hiện quyền đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, yêu cầu và đối đáp bình đẳng; Tòa án giữ vai trò trọng tài khách quan và bản án phải căn cứ trực tiếp vào kết quả tranh tụng. Luận án làm rõ thời điểm bắt đầu tranh tụng là từ khi Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng, còn các hoạt động trước đó chỉ mang tính chuẩn bị.

Khi phân tích hai mô hình tố tụng, luận án chỉ ra: Mô hình tranh tụng coi phiên tòa là trung tâm, chứng cứ trước đó được giữ kín và chỉ được kiểm tra công khai tại tòa, thẩm phán đóng vai trò thụ động; ngược lại, mô hình thẩm vấn đặt trọng tâm vào giai đoạn tiền xét xử, Tòa án nắm toàn bộ hồ sơ vụ án và chủ động điều tra để tìm sự thật khách quan. Tác giả khẳng định tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay mang bản chất của mô hình thẩm vấn có tiếp thu và kết hợp các yếu tố tranh tụng. Hoạt động tranh tụng có ý nghĩa quyết định trong việc bảo vệ quyền con người, chống oan sai và nâng cao niềm tin công lý. Các điều kiện bảo đảm hoạt động tranh tụng gồm có: điều kiện pháp lý, mô hình tố tụng, tính độc lập của Tòa án, cơ sở vật chất và năng lực của đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn thi hành

Chương 2 khái quát lịch sử pháp luật từ thời phong kiến, thời kỳ kháng chiến, thời kỳ trước Đổi mới với "Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự" năm 1976 của TAND tối cao, cho đến BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003. Đánh giá BLTTHS năm 2015, tác giả khẳng định bước tiến khi quy định Điều 26 và việc hợp nhất thủ tục xét hỏi và tranh luận. Tuy nhiên, luật thực định vẫn tồn tại mâu thuẫn: Điều 15 vẫn quy định Tòa án có trách nhiệm chứng minh tội phạm; Điều 307 vẫn quy định Thẩm phán chủ tọa hỏi trước; trình tự xét hỏi và tranh luận được quy định theo lối mòn, rạch ròi người này hỏi xong mới đến người khác hỏi, làm giảm tính linh hoạt của tranh tụng.

Về thực tiễn thi hành giai đoạn 2010 - 2019, luận án dựa vào các số liệu thống kê về việc giải quyết án hình sự, số vụ có luật sư tham gia, tỷ lệ án bị hủy, sửa và án trả hồ sơ điều tra bổ sung:

Tiêu chí thống kê thực tiễn theo danh mục luận án Vị trí phản ánh trong luận án Nội dung và ý nghĩa dữ liệu
Số vụ án phải xét xử phúc thẩm Sơ đồ, trang 114 Thể hiện mức độ các bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, làm thước đo đánh giá chất lượng xét xử sơ thẩm.
Số vụ án Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung Bảng 2.1, trang 115 Phản ánh tình trạng hồ sơ chứng cứ giai đoạn điều tra chưa đạt yêu cầu, đòi hỏi Tòa án phải trả hồ sơ.
Số vụ án có luật sư tham gia bào chữa Sơ đồ, trang 118 Cho thấy tỷ lệ tham gia của người bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm còn ở mức thấp.
Số vụ án có luật sư tham gia năm 2018 Sơ đồ, trang 119 Đánh giá tình hình người bào chữa tham gia phiên tòa sau khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành năm đầu tiên.
Số vụ án có luật sư tham gia năm 2019 Sơ đồ, trang 119 Thể hiện sự biến động về số lượng vụ án có người bào chữa tham gia tranh tụng trong năm tiếp theo.
Số vụ án, số bị cáo Tòa án đã xét xử sơ thẩm Bảng 2.2, trang 129 Tổng hợp quy mô số lượng vụ án và bị cáo được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết trong giai đoạn khảo sát.

Thực tiễn cho thấy nhiều phiên tòa sơ thẩm diễn ra hình thức; Kiểm sát viên còn lúng túng khi đối đáp, chưa tranh luận đầy đủ các luận điểm do luật sư đưa ra; vai trò của luật sư còn bị hạn chế và quyền tranh tụng của các đương sự khác chưa được phát huy đầy đủ.

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Tác giả đề ra các yêu cầu bảo đảm: quán triệt quan điểm cải cách tư pháp của Đảng; bảo đảm nguyên tắc Tòa án độc lập khi xét xử; bảo đảm quyền con người; và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Các giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng gồm có:

  • Hoàn thiện pháp luật: Đề xuất sửa đổi Điều 15 BLTTHS năm 2015 theo hướng bỏ quy định Tòa án có trách nhiệm chứng minh tội phạm (trách nhiệm này thuộc về CQĐT và VKS; Tòa án chỉ chứng minh tính hợp pháp và có căn cứ của phán quyết); kiến nghị sửa đổi Điều 20; quy định lồng ghép thủ tục xét hỏi và tranh luận theo từng vấn đề chứng minh thay vì chia thành hai giai đoạn cứng nhắc; Thẩm phán chủ tọa chỉ điều khiển phiên tòa và nêu vấn đề, nhường quyền hỏi trước cho Kiểm sát viên và Người bào chữa; kiến nghị mở rộng đối tượng người bào chữa là bất kỳ người nào được người bị buộc tội đồng ý mời mà không buộc phải là luật sư; nghiên cứu mô hình Viện công tố.
  • Nâng cao năng lực chủ thể và điều kiện thi hành: Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tranh tụng cho Kiểm sát viên và Luật sư; cải cách bố trí phòng xử án theo hướng bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội; đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị ghi âm, ghi hình phục vụ phiên tòa.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; chuẩn hóa khái niệm và xác định đặc điểm của hoạt động tranh tụng; phân tích sự khác biệt giữa mô hình tố tụng thẩm vấn và mô hình tố tụng tranh tụng; khẳng định mô hình tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay là mô hình thẩm vấn có kết hợp với tranh tụng. Luận án phân định rạch ròi ba chức năng tố tụng: Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội, Bị cáo và Người bào chữa thực hiện chức năng gỡ tội, Tòa án thực hiện chức năng xét xử và giữ vai trò trọng tài vô tư; đồng thời xác định thời điểm bắt đầu hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm là khi Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng.

Về mặt thực tiễn và lập pháp, luận án phân tích quy định của BLTTHS năm 2015 và chỉ ra các vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn xét xử sơ thẩm giai đoạn 2010 - 2019. Luận án đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật cụ thể: sửa đổi Điều 15 BLTTHS năm 2015 để không quy định Tòa án có trách nhiệm chứng minh tội phạm; đổi mới trình tự phiên tòa bằng cách lồng ghép xét hỏi và tranh luận theo từng vấn đề chứng minh; mở rộng đối tượng người bào chữa cho phép người bị buộc tội mời bất kỳ ai mà không giới hạn chỉ riêng chức danh luật sư.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được ghi nhận trong quá trình đánh giá luận án gồm có:

  • Phần nghiên cứu thực trạng hoạt động tranh tụng của một số chủ thể tham gia tố tụng khác ngoài Kiểm sát viên và Luật sư (tại mục 2.3) còn ngắn, chỉ trình bày hơn 1 trang.
  • Luận án chưa đi sâu giải quyết hoạt động tranh tụng trong những tình huống đặc thù như: các vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa, hoặc trường hợp Tòa án xét xử tuyên bị cáo phạm tội nặng hơn hay áp dụng khung hình phạt nặng hơn tội danh do Viện kiểm sát truy tố.
  • Luận án chưa đề xuất giải pháp sửa đổi Điều 322 BLTTHS năm 2015 nhằm khắc phục triệt để tình trạng Kiểm sát viên né tránh hoặc không đối đáp đầy đủ các ý kiến của người bào chữa.
  • Một số kiến nghị lập pháp (như sửa đổi Điều 20 BLTTHS hay đề xuất thành lập Viện công tố) lập luận còn khái quát, chưa bảo đảm đầy đủ tính khả thi.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở là: tiếp tục nghiên cứu cơ chế tranh tụng trong các thủ tục tố tụng đặc thù; nghiên cứu sâu về kỹ năng đối đáp của Kiểm sát viên theo Điều 322 BLTTHS; và xây dựng lộ trình hoàn thiện thể chế Viện công tố trong Nhà nước pháp quyền.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan xây dựng pháp luật (Quốc hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao): Các phân tích bất cập tại Chương 2 và hệ thống giải pháp sửa đổi BLTTHS năm 2015 tại Chương 3 (sửa Điều 15, bố trí phiên tòa, đổi mới xét hỏi lồng ghép tranh luận) là tư liệu tham khảo phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung luật thực định.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự: Phần tổng quan tài liệu trong nước, quốc tế và Chương 1 cung cấp nguồn tư liệu học thuật phong phú về mô hình tố tụng và lý luận tranh tụng.
  • Đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư: Các số liệu thực tiễn và phân tích về hoạt động đối đáp, đánh giá chứng cứ giúp nâng cao kỹ năng hành nghề thực tế tại phiên tòa sơ thẩm.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo luận án, hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm chính thức bắt đầu từ thời điểm nào? Trả lời: Tác giả luận án khẳng định hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm chính thức bắt đầu từ khi Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng. Các thủ tục diễn ra trước đó (như khai mạc phiên tòa, giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng) chỉ là những hoạt động mang tính chất chuẩn bị nhằm bảo đảm điều kiện cho việc tranh tụng diễn ra.

2. Mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam hiện nay được luận án xác định là mô hình gì? Trả lời: Tác giả xác định mô hình tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay là mô hình tố tụng thẩm vấn có kết hợp với tranh tụng. Tố tụng Việt Nam vẫn giữ những nét cơ bản của mô hình thẩm vấn (Tòa án nắm hồ sơ, kiểm tra chứng cứ thu thập từ giai đoạn điều tra) nhưng đã tiếp thu, kết hợp các yếu tố của mô hình tranh tụng nhằm bảo đảm quyền bình đẳng đưa ra chứng cứ và đối đáp tại phiên tòa.

3. Vì sao tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 15 BLTTHS năm 2015 về trách nhiệm chứng minh tội phạm của Tòa án? Trả lời: Điều 15 BLTTHS năm 2015 hiện quy định Tòa án cùng với CQĐT và VKS có trách nhiệm chứng minh tội phạm. Tác giả luận án cho rằng quy định này làm lẫn lộn chức năng xét xử với chức năng buộc tội. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan buộc tội (CQĐT và VKS). Tòa án giữ vai trò trọng tài vô tư, độc lập, chỉ có trách nhiệm chứng minh tính đúng đắn, hợp pháp và có căn cứ của bản án cùng các quyết định tố tụng mà mình ban hành.

4. Luận án đề xuất đổi mới cách thức tiến hành xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa như thế nào? Trả lời: Tác giả kiến nghị không nên chia cắt cứng nhắc phiên tòa thành hai giai đoạn xét hỏi và tranh tụng tách biệt theo lối mòn, người này hỏi xong mới đến người khác hỏi. Thay vào đó, cần quy định lồng ghép xét hỏi với tranh luận tập trung làm rõ từng vấn đề chứng minh của vụ án; Thẩm phán chủ tọa chỉ điều khiển phiên tòa, nhường quyền chủ động hỏi và đối đáp trước cho Kiểm sát viên và Người bào chữa.

5. Luận án có đề xuất mới nào liên quan đến người bào chữa trong vụ án hình sự? Trả lời: Tác giả đề xuất mở rộng diện người bào chữa, theo đó người bị buộc tội có quyền nhờ bất kỳ người nào làm người bào chữa cho mình nếu người đó đồng ý, mà không bắt buộc người bào chữa nhất thiết phải là luật sư hay người trợ giúp pháp lý.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự" của Nguyễn Thị Mai là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận và thực tiễn tố tụng hình sự tại Việt Nam. Tác giả đã làm rõ bản chất mô hình tố tụng thẩm vấn kết hợp tranh tụng, hệ thống hóa các quy định của BLTTHS năm 2015 và phân tích số liệu thực tiễn xét xử sơ thẩm giai đoạn 2010 - 2019. Các kiến nghị sửa đổi Điều 15 BLTTHS, đổi mới phương thức xét hỏi lồng ghép tranh luận và mở rộng chủ thể bào chữa cung cấp những luận cứ cụ thể phục vụ công cuộc cải cách tư pháp. Công trình đã được Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Trường tại Trường Đại học Luật Hà Nội nghiệm thu và thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2021.