Luận án tiến sĩ về hoạt động tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Luận án tiến sĩ luật học phân tích hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, góp phần nâng cao chất lượng xét xử.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

263
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

1. PHẦN MỞ ĐẦU

2. PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.2. Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn

1.3. Ý nghĩa của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.4. Điều kiện bảo đảm hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.5. Tiểu kết chương 1

4. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

2.1. Khái quát lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

2.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

2.3. Thực tiễn thi hành quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

2.4. Tiểu kết chương 2

5. CHƯƠNG 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

3.1. Yêu cầu đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

3.3. Tiểu kết chương 3

6. KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự là một phần quan trọng trong quy trình xét xử. Đây là giai đoạn mà các bên liên quan, bao gồm bị cáo, công tố viên, và luật sư, tham gia vào việc trình bày chứng cứ và lập luận của mình. Mô hình tố tụng hình sự hiện nay tại Việt Nam đã chuyển từ mô hình tố tụng thẩm vấn sang mô hình tố tụng tranh tụng, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên. Theo đó, hoạt động tranh tụng không chỉ là một hình thức mà còn là một yêu cầu pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của bị cáo và đảm bảo tính công bằng trong xét xử. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án và đưa ra bản án công bằng.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động tranh tụng

Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự được hiểu là quá trình mà các bên tham gia trình bày ý kiến, chứng cứ và lập luận của mình trước Hội đồng xét xử. Đặc điểm nổi bật của hoạt động này là tính đối kháng, nơi mà bị cáocông tố viên có cơ hội thể hiện quan điểm của mình. Điều này không chỉ giúp làm rõ sự thật của vụ án mà còn tạo ra một môi trường công bằng cho tất cả các bên. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, hoạt động tranh tụng phải được thực hiện công khai, minh bạch, và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia. Điều này thể hiện rõ ràng trong các quy định về quyền bào chữa của bị cáo và quyền truy tố của công tố viên.

II. Quy định của pháp luật về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa

Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã đưa ra những quy định mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động tranh tụng. Các quy định này không chỉ đảm bảo quyền lợi của bị cáo mà còn tạo điều kiện cho công tố viên thực hiện nhiệm vụ của mình. Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình xét xử. Điều này giúp các bên hiểu rõ hơn về vai trò của mình và từ đó nâng cao tính hiệu quả của hoạt động tranh tụng.

2.1. Thực tiễn thi hành quy định pháp luật

Mặc dù có những quy định rõ ràng, thực tiễn thi hành hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự vẫn gặp nhiều khó khăn. Nhiều vụ án cho thấy sự thiếu hụt trong việc thực hiện quyền bào chữa của bị cáo, cũng như sự không đồng đều trong việc áp dụng các quy định pháp luật giữa các địa phương. Điều này dẫn đến việc một số bị cáo không được hưởng đầy đủ quyền lợi hợp pháp của mình. Hơn nữa, sự thiếu hụt về nguồn lực và đào tạo cho các công tố viênluật sư cũng ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động tranh tụng. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục những bất cập này, nhằm đảm bảo hoạt động tranh tụng diễn ra một cách hiệu quả và công bằng.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng

Để nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Trước hết, cần tăng cường đào tạo và bồi dưỡng cho các công tố viênluật sư về kỹ năng tranh tụng. Điều này không chỉ giúp họ nâng cao năng lực chuyên môn mà còn tạo ra một môi trường xét xử công bằng hơn. Thứ hai, cần cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các phiên tòa, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hoạt động tranh tụng. Cuối cùng, cần có sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan chức năng để đảm bảo rằng các quy định pháp luật được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả.

3.1. Đề xuất các giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng bao gồm việc xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu cho công tố viênluật sư, tổ chức các hội thảo và diễn đàn để chia sẻ kinh nghiệm và kỹ năng tranh tụng. Bên cạnh đó, cần có các nghiên cứu đánh giá thực tiễn hoạt động tranh tụng để từ đó đưa ra các khuyến nghị cải cách phù hợp. Việc tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội và cộng đồng trong quá trình giám sát hoạt động tranh tụng cũng là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong xét xử.

06/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 7 Chương 2 QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUAT TỐ TUNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VE HOẠT ĐỘNG TRANH TUNG TẠI PHIÊN TOA XÉT XỬ SƠ. THAM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIEN THỊ HÀNH. Khái quát lich sử pháp luật tổ tung hình sự Việt Nam về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vu án hình sự. Quy định của pháp luật tổ tụng hình sự Việt Nam hiện hành về hoạt động tranh tụng tại phiên toa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 87 2.

Thực tiễn thi hành quy định pháp luật tổ tung hình sự Việt Nam về hoạt động tranh tung tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ an hình sự. 1H Tiểu kết chương 2. 139 Chương 3 YEU CAU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHAT LƯỢNG HOAT ĐỘNG TRANH TUNG TẠI PHIÊN TOA XÉT XỬ SƠ THAM VỤ AN HINH SỰ. Yên cầu đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động tranh tung tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 140 3.

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tranh tung tại phiên tòa sét xử sơ thẩm vụ án hình sự. 145 Tiểu kết chương 3. 169 KET LUẬN 170 DANH MUC TAILIEU THAM KHAO DANH MUC CAC CONG TRINH KHOA HOC CUA TAC GIA LIEN QUAN DEN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CONG BO PHU LUC PHAN MỜ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn dé tài ‘était là giai đoạn trung tâm của TTHS, tắt cả các hoạt động tổ tung trước đó đền nhằm tao cơ sở cho viếc có thể đưa vu án ra xét xử.

Trong đó, XXSTVAHS có ý nghĩa đặc biết quan trong, đây 18 giai đoạn Tòa án cấp sơ thấm tiên hành giãi quyết, xử lí vụ án lẫn thứ nhất bang cách ra bản an và các quyết định tổ tụng cần thiết khác. Hoạt đông xét xử la thể hiện tập trùng cao độ nhất của quyền tư pháp trong hệ thống pháp quyền. Thông qua bản án va các quyết định, Téa án sẽ ác định bi cáo có phạm tội hay không, nêu phạm tôi thi pham tôi gì, có áp dụng hình phạt đối với bị cáo hay không, áp dụng loai hình phạt nào, mức hình phạt ra sao. và những vấn để khác như xử ly vật ching, vấn để béi thường hoặc trong trường hợp bi cáo không có tội thì Tòa an có thẩm.

quyền ra bản án tuyên bị cáo khống có tối và phải ra quyết định trả tự do ngay cho bị cáo (mặc di bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và sau đó vấn có. thể bị kháng cáo, kháng nghị). Như vậy chỉ có Tòa án mới có quyển xét xử, tuyên một người là có tội và quyết định hình phạt đổi với họ. én thời điểm hiện tai, tranh tụng không còn là vẫn để mới trong khoa học uật TTHS nhưng lại là vẫn để gây nhiều tranh cối và còn nhiều cách hiểu khác nhau.

Thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 đã bộc lộ những vướng mắc, bat cập bởi còn nhiêu nội dung chưa được cụ thé hóa trong Bộ luật dẫn đến thiếu hành lang pháp lý cho nhiều hoạt động tổ tụng, Tòa án lả cơ quan duy nhất có thấm quyền xét xử, ra bản án tuyên một người 1a có tội và áp dung hình phạt đối với người dé. Tuy nhiên, việc tổ chức phiền tòa theo tinh thân cải cách từ pháp lại chưa thực sự toàn diền, hoạt động tranh tụng tại phiên tòa còn mờ nhat. Thực tẾ cho thấy, giữa KSV và người bao chữa gản như không có tranh tung, HDX dành nhiều thời gian cho việc xét hỏi bị cáo và các chủ thể tham gia tổ tụng khác để tìm ra sự thật khách quan của vụ án (hay đúng hơn là tìm căn cử để có thể khẳng định bị cáo có tội). Hiện có nhiều ý kiến cho Toa án đang thực hiện thay chức năng buộc tội của VKS, trong khi lế ra Téa án phải đóng vai trở là trong tai, phải thật vô tu, khách quan trong quá trình xét xử: Điều nay ảnh hưởng, không nhỏ đến niém tin của người dân vao các cơ quan tiến hành tô tụng vả tạo a một quan niệm có tính phổ biến mắc nhién cho rằng, một người khi bi Téa án đưa ra xét xử là sẽ đương nhiên bị kế ti Trước đòi hỏi của thực tién cũng như yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, BLTTHS năm 2015 ra đời đã có nhiêu sửa đổi, bổ sung thể hiện sự đổi mới vẻ Kd thuật lép pháp, tư duy lâp pháp cũng như quan điểm chỉ đạo của Bang về công cuộc đâu tranh phòng chẳng tội phạm.

Một trong những điểm mới rat đáng ghi nhân của BLTTHS năm 2015 đó là quy định về thủ tục tranh tung tại phiên tòa ma rổ nét nhất là tại phiên tòa XXSTVAHS. Trước đây, BLTTHS nim 2003 quy định vẻ thủ tục xét hôi và tranh luận tại phiên tòa, BLTTHS năm 2015 đã gop hai thủ tục nay Lam một và đổi tên than thủ tục tranh tung tại phiên tòa ‘va bổ sung nhiêu quy định nhằm bảo dim chất lượng tranh tung tại các phiên tòa xét xử, lầy kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết ‘ban án, coi đây lá khâu đột phá để năng cao chất lượng hoạt động tư pháp. Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2015 vé cơ bản đã tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thé thực hiện các hoạt động tranh tung tại phiên tòa XXSTVAHS nhưng vẫn côn bộc 1ô những điểm bat hợp lý như. tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa lả người điều khiển tranh tụng nhưng lại chủ động xét hỏi trước, nhiễu trường hợp xét xử vắng.

rất người tham gia tổ tung nhưng chưa có căn cử cu thể. Có thể thấy khoa học luật TTHS ngày cảng phát triển cả về chất va lượng, trên cơ sỡ nên ting là các học thuyết, các quan điểm, ý kiến đánh giá của các chuyên gia Đây chính là cơ sở lý luận, lá tiên để cho các nhà khơa học thực hiện các công trình nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, trước sự vận động vả biển đổi không ngừng của thé giới tự nhiên, việc nhận thức của con người về một van đẻ. khoa học nao đó cũng có sự thay đổi nhất định qua các thời kì.

Quan điểm khoa ‘hoc mới hình thành sau cỏ thể tiến bô hơn thậm chí phủ nhận quan điểm xuất in ổ thi kì rước, đời hồi cơ người phải nn thức được và Không ngìng tim tòi nghiên cứu để có thể ém chứng. Tri thức về TTHS cũng không nằm ngoài quy luật này, do đó các công trình nghiên cửu cén đảm bảo có tính mới. Thực tiễn giải quyết VAHS cũng vậy, tương ứng với từng giai đoạn phát triển, từng. thời ki, việc thé chế hóa đường lối, chính sách của Đảng cũng như công tác lập pháp có ảnh hưởng rất lớn dén việc giải quyết vụ án, các tiêu chí đánh giá hoạt động thực tiễn nay cũng có sự thay đổi, số liệu khảo sát thực tiễn cũng biến đổi qua từng năm đòi hỏi phải có những đánh gia, tổng hợp kịp thời.

Dưới góc đô nghiên cứu, trong khoa học TTHS mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về tranh tụng nhưng chưa có công trình nao nghiên cứu một cách. chuyên sâu, toán điên về hoạt động tranh tung tại phiên tòa XXSTVAHS. Mặc dù BLTTHS năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể thực hiền các hoạt động tranh tung tại phiên tòa XXSTVAHS, tuy nhiên van để đất ra là quy định của BLTTHS năm 2015 liệu đã thực sự day đủ vé hoạt động tranh tung, có đủ để bảo đâm cho hoạt động tranh tụng diễn ra trên thực tế và diễn ra thực sự có hiệu quả hay chưa? Để tr lời câu hỏi nảy, việc nghiên cứu vẻ những van dé lý luân, quy định của pháp luật, thực tiễn tiên hành hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm. để từ đó để ra các giải pháp nhằm bảo đảm hoạt động tranh tung tại phiên tòa là hết sức cân thiế, Do đó, NCS lua chọn để tai “Hoạt đồng ranh tung tại phiên tba ết xử sơ thé vụ án hình sac" làm để tải nghiên cứu cho luận an của mình với mong muốn lam sảng tỏ những van để vẻ ly luận vả thực tiễn đang đặt ra.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. Mu dich nghiên cửa: trên cơ sở nghiên cửa những vân dé lý luận vé hoạt đông tranh tung tại phiến tòa XXSTVAHS, thực trang quy đính của pháp luật TTH§ Việt Nam va thực tiễn hoạt động tranh tụng tại phiên tòa XXSTVAHS nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao chất lương hoạt động tranh tung tai phiên tủa XXSTVAHS .Miiệm vụ nghiên cứu: với mục dich nêu trên, luận án s thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau - Phân tích, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu vẻ hoạt động tranh tung tại phiên tòa XXSTVAHS - Nghiên cứu những vẫn để lý luận vẻ hoạt động tranh tung tại phiên tòa XXSTVAHS, làm rõ khái niềm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt đồng tranh tung tại phiên tòa XXSTVAHS; phân biệt hoạt động tranh tụng tai phiên tòa xét xử sơ thấm theo mô hình tổ tụng tranh tụng và mô hình tổ tụng thẩm van, dong thời lâm rổ các điều kiện bảo đâm hoạt động tranh tung tại phiên tòa XXSTVAHS. - Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật TTHS véhoạt động tranh tung tai phiên tòa XXSTVAHS va thực tiễn thi hành, làm rổ những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bat cập - Để xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lương hoạt động tranh tụng tại phiên tòa XXSTVAHS. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.

“Đối tượng nghiên cửu: Luân an nghiên cứu những vấn để lý luân vé hoạt đồng tranh tung tại phiên tòa XXSTVAHS, quy định của pháp luật TTHS Việt ‘Nam và thực tiễn thi hành quy định của pháp luật vẻ hoạt động tranh tụng tại phiên tòa XXSTVAHS. Phan vi nghiên cit - Vé lý luận, luận án tập trung lam rõ khái niêm, đặc điểm của hoạt đông tranh tụng tại phiên tòa XXSTVAHS và ý nghĩa của hoạt đông này, làm rổ yêu. cẩu đất ra nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa XXSTVAHS. Luận án nghiến cửu hoạt động tranh tụng tại phiến tòa 3EXSTVAHS theo thủ tục tổ tụng thông thường (không bao gém các thủ tục đặc triệt như thủ tục rút gọn, thủ tục tổ tung đối với người đưới 18 tuổi, thủ tục truy.

cứu TNHS đối với pháp nhân).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình tranh tụng trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự. Tác giả phân tích các khía cạnh quan trọng của hoạt động tranh tụng, từ vai trò của các bên tham gia cho đến những thách thức mà họ phải đối mặt. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về quy trình pháp lý mà còn nêu bật tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan trong quá trình xét xử.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ luật học xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về ma tuý và thực tiễn tại tỉnh Điện Biên, nơi phân tích cụ thể về một loại vụ án hình sự, hay Luận văn thạc sĩ luật học nhiệm vụ quyền hạn của viện kiểm sát khi kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và thực tiễn thi hành tại thành phố Bắc Ninh, giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của viện kiểm sát trong quá trình điều tra. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ luật học nhiệm vụ quyền hạn của viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội, để có cái nhìn tổng quát hơn về quyền hạn của viện kiểm sát trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động tranh tụng và vai trò của các cơ quan pháp luật trong hệ thống tư pháp.