Tổng quan luận án
Công trình khoa học “Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ” là luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Văn Hải, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số 9380104), được hoàn thành năm 2021 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trương Quang Vinh.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của tài sản trí tuệ trong nền kinh tế tri thức và sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Tại Việt Nam, Quyết định số 1068/QĐ-TTg ngày 22/8/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030 đã khẳng định quan điểm phát triển đồng bộ hệ thống sở hữu trí tuệ ở các khâu sáng tạo, xác lập, khai thác, bảo vệ và thực thi quyền. Nhà nước đã ban hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019) cùng các quy định pháp luật liên quan. Tuy nhiên, quá trình hội nhập quốc tế với việc tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định TRIPs, Hiệp định EVFTA, Hiệp định CPTPP và sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã làm gia tăng các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với mức độ phức tạp cao. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt ra yêu cầu hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và cải cách tư pháp.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: mặc dù pháp luật hình sự giữ vai trò trọng yếu trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nhưng hình thức thể hiện của chính sách về tội phạm và hình phạt trong Bộ luật Hình sự vẫn bộc lộ nhiều hạn chế; thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử và quyết định hình phạt đối với nhóm tội này còn gặp nhiều vướng mắc; đồng thời chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu dưới góc độ chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội phạm này tại Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là cung cấp hệ thống lý luận về chính sách pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, chỉ ra những hạn chế trong quy định của Bộ luật Hình sự và thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Luận án xác định và giải quyết 04 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ cơ sở lý luận về chính sách pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (khái niệm, đặc điểm, mục tiêu, đối tượng, nội dung).
- Đánh giá thực trạng chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội này trên 3 phương diện: thực trạng thể hiện qua các thời kỳ lập pháp hình sự; thực trạng thực hiện qua phát hiện, xử lý và áp dụng hình phạt; thực trạng thực hiện các mục tiêu.
- Xác định các định hướng cho việc hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội này.
- Đề xuất và luận giải hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm: hệ thống quan điểm lý luận, khái niệm, nguyên tắc về chính sách pháp luật hình sự; lịch sử lập pháp hình sự qua các văn bản trước năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các số liệu thống kê tư pháp, bản án, quyết định của Tòa án; chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chiến lược của Nhà nước; các cam kết quốc tế trong các hiệp định thương mại (TRIPs, EVFTA, CPTPP) và các yếu tố kinh tế - xã hội liên quan.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào cơ sở lý luận, thực trạng thể hiện và thực hiện chính sách về tội phạm và hình phạt đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, có tham khảo lý luận và quy định quốc tế.
- Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập, phân tích thông tin và số liệu từ năm 1985 đến thời điểm thực hiện luận án (năm 2021).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu được luận án phân loại theo các nhóm công trình trong nước và quốc tế:
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
- Về lý luận chính sách hình sự và chính sách pháp luật hình sự: Gertxenzôn A. tiếp cận chính sách hình sự theo nghĩa rộng gồm các biện pháp pháp lý chuyên ngành và xã hội; Bobetev (1884) trong chuyên khảo “Chính sách hình sự của Nhà nước Xô Viết” nghiên cứu về tội phạm hóa, phi tội phạm hóa, hình sự hóa và phi hình sự hóa; B. Zdravomưsolov (1996) xem chính sách hình sự là tổng thể quan điểm, tư tưởng thống trị về định hướng và biện pháp đấu tranh chống tội phạm; Ansel’m Fheirbakh (1804), Chubinskij M.P (2008) và Lesnikov G.Ju (2004) phát triển chính sách pháp luật hình sự thành một bộ phận cấu thành độc lập của khoa học luật hình sự.
- Về thực thi hình sự quyền sở hữu trí tuệ: Báo cáo của Trung tâm Quốc gia nghiên cứu tội phạm cổ cồn trắng Mỹ (2004) về “Intellectual Property and White-collar Crime”; Báo cáo của Học viện Tội phạm học Úc do Judy Putt chủ trì (2008) về “Intellectual property crime and enforcement in Australia”; Sổ tay Nghiên cứu Đương đại “Thi hành hình sự về sở hữu trí tuệ” do Rita Matulionyte chủ biên (2013); bài viết của Keith E. Maskus (2013) về “Intellectual property rights and economic development”; nghiên cứu của Andrea Wechsler (2015) về “Criminal Enforcement of Intellectual Property Law – An Economic Approach”. Các công trình quốc tế chủ yếu tiếp cận theo hướng thực thi quyền sở hữu trí tuệ hoặc đánh giá kinh tế đối với chế tài hình sự, chưa nghiên cứu trực diện chính sách pháp luật hình sự của Việt Nam đối với nhóm tội này.
Các công trình nghiên cứu ở trong nước
- Về lý luận chính sách hình sự và chính sách pháp luật hình sự: Sách chuyên khảo “Luật hình sự Việt Nam (quyển I) - Những vấn đề chung” của Đào Trí Úc (2000); sách chuyên khảo sau đại học “Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (phần chung)” của Lê Văn Cảm (2005, tái bản 2019); sách chuyên khảo “Chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam” do Phạm Văn Lợi chủ biên (2007); chuyên đề cấp Bộ của Nguyễn Quốc Việt (2009); sách chuyên khảo “Chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức Cách mạng công nghiệp 4.0” do Trịnh Tiến Việt chủ biên (2020); giáo trình sau đại học “Chính sách pháp luật” của Võ Khánh Vinh (2020); cùng các luận án tiến sĩ về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên của Hoàng Minh Đức (2016) và về chính sách pháp luật hình sự đối với các tội phạm chức vụ của Doãn Trung Đoàn (2017).
- Về đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: Sách chuyên khảo “Đấu tranh với tội phạm xâm phạm SHTT. Thực trạng và giải pháp” của Hồ Thế Hòe và Lê Việt Long (2012); luận án tiến sĩ của Lê Hoài Nam (2011) về phòng ngừa tội phạm sở hữu trí tuệ theo chức năng của Cảnh sát nhân dân; luận án tiến sĩ của Nguyễn Vĩnh Diện (2014) về thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài của Công an nhân dân; luận án tiến sĩ của Phạm Tài Tuệ (2018) về các tội phạm về hàng giả; bài viết của Trần Văn Nam (2009) về pháp luật và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm sở hữu trí tuệ.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đã công bố trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ từ góc độ lý luận luật hình sự thuần túy, hoạt động phòng ngừa tội phạm của lực lượng công an, hoặc phân tích thực trạng các tội phạm về hàng giả riêng biệt. Đa phần các nghiên cứu được thực hiện trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở cả phương diện lý luận, thực trạng thể hiện lập pháp, thực trạng áp dụng xử lý và định hướng hoàn thiện trong bối cảnh thực thi Bộ luật Hình sự năm 2015 và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án được triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Về mặt lý thuyết chuyên ngành, luận án dựa trên hệ thống lý luận về chính sách pháp luật và chính sách hình sự của GS.TS Võ Khánh Vinh: chính sách hình sự bao gồm chính sách pháp luật hình sự, chính sách pháp luật tố tụng hình sự, chính sách pháp luật điều tra hình sự, chính sách pháp luật thi hành án hình sự và chính sách phòng ngừa tội phạm. Trong đó, chính sách pháp luật hình sự là hoạt động có căn cứ khoa học, nhất quán và hệ thống của cơ quan xây dựng và áp dụng pháp luật nhằm xác định hành vi phạm tội, xây dựng chế tài hình phạt và áp dụng các biện pháp tác động công bằng, hợp lý đối với người phạm tội.
Về mặt khái niệm pháp lý, luận án kết hợp quy định của Luật Sở hữu trí tuệ (Điều 3, Điều 199, Điều 213) và Nghị định số 185/2013/NĐ-CP để xác định phạm vi nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong Bộ luật Hình sự năm 2015 bao gồm 07 tội danh. Khung phân tích của luận án cấu trúc theo 3 trục: hình thức thể hiện (lập pháp hình sự), hình thức thực hiện (áp dụng pháp luật, xét xử) và mức độ đạt được của các mục tiêu chính sách.
| Tiêu chí phân tích |
Nội dung thể hiện trong luận án |
| Khung lý thuyết nền tảng |
Lý thuyết chính sách pháp luật và chính sách hình sự (Võ Khánh Vinh) |
| Căn cứ pháp lý cốt lõi |
BLHS 2015 (sửa đổi 2017), Luật SHTT (2005, 2009, 2019), Nghị định 185/2013/NĐ-CP |
| Nhóm tội phạm nghiên cứu |
07 tội danh: Điều 192, 193, 194, 195, 225, 226, 271 BLHS năm 2015 |
| Các chiều cạnh đánh giá |
1. Hình thức thể hiện (Lập pháp qua các thời kỳ) 2. Hình thức thực hiện (Điều tra, truy tố, xét xử) 3. Mức độ đạt được các mục tiêu chính sách |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu pháp luật chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích tài liệu lý luận: Phân tích các sách chuyên khảo, giáo trình, bài báo khoa học trong và ngoài nước để xây dựng hệ thống khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và nội dung của chính sách pháp luật hình sự.
- Phương pháp phân tích và so sánh pháp luật: Nghiên cứu, so sánh các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam qua các giai đoạn (trước năm 1985, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, BLHS năm 2015) và đối chiếu với các chuẩn mực trong các hiệp định thương mại quốc tế (TRIPs, CPTPP, EVFTA).
- Phương pháp thống kê tư pháp: Thu thập, tổng hợp và so sánh số liệu thống kê xét xử của ngành Tòa án về các vụ án và bị cáo thuộc nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ qua các giai đoạn 1990 – 1999 và 2008 – 2017.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn và nghiên cứu vụ án điển hình: Thu thập, phân tích các bản án, quyết định giải quyết vụ án thực tế để chỉ ra các vướng mắc trong định tội danh, xử lý trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Khảo sát ý kiến chuyên môn của các chuyên gia thực tiễn trong lĩnh vực tư pháp và sở hữu trí tuệ nhằm củng cố các đánh giá thực tiễn.
Nội dung chính theo từng chương
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Chương này tổng kết có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chính sách hình sự, chính sách pháp luật hình sự và việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Tác giả đánh giá mối liên quan của các công trình này đối với đề tài luận án, chỉ ra những giá trị khoa học kế thừa được về mặt phương pháp luận và lý thuyết nền tảng. Đồng thời, chương 1 xác lập các vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu, bao gồm: làm rõ nội hàm lý luận chuyên sâu về chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; đánh giá thực trạng quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách.
Chƣơng 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Chương 2 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận toàn diện:
- Khái niệm và đặc điểm: Chính sách pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là hoạt động của Nhà nước nhằm xác định các nguyên tắc, mục tiêu, định hướng và biện pháp trong hoạt động lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự để đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Tác giả xác định 07 tội danh thuộc nhóm tội này trong Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192);
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193);
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194);
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi (Điều 195);
- Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 225);
- Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226);
- Tội vi phạm quy định về hoạt động xuất bản (Điều 271).
- Đặc điểm chung và đặc thù: Nhóm tội này mang các đặc điểm chung của chính sách pháp luật hình sự (về phương tiện thể hiện, phương thức thực hiện và chủ thể tham gia gồm chủ thể hoạch định, thực hiện và tham gia thực hiện). Về mặt đặc thù, chính sách hướng đến bảo vệ tài sản trí tuệ phi vật chất, khó định giá và khó kiểm soát hành vi xâm phạm; đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với chính sách pháp luật dân sự và hành chính (theo Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ); chịu sự chi phối mạnh mẽ của các cam kết quốc tế; và hướng đến đa mục tiêu (bảo vệ quyền sáng tạo, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy kinh tế tri thức).
- Mục tiêu, đối tượng và nội dung: Phân tích mục tiêu phòng ngừa và trừng trị tội phạm; xác định đối tượng tác động của chính sách; làm rõ nội dung chính sách về tội phạm (tội phạm hóa, phi tội phạm hóa, xác định ranh giới xử lý) và chính sách về hình phạt (chế tài hình phạt chính, hình phạt bổ sung và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại).
Chƣơng 3: ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Chương 3 tập trung đánh giá thực trạng trên ba khía cạnh:
- Thực trạng thể hiện qua các thời kỳ lập pháp: Phân tích tiến trình thể chế hóa chính sách qua 3 giai đoạn: từ Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước Bộ luật Hình sự năm 1999; giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009); và giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tác giả chỉ ra các điểm tiến bộ cùng những điểm bất cập, mâu thuẫn giữa quy định hình sự với Luật Sở hữu trí tuệ và các điều ước quốc tế.
- Thực trạng thực hiện chính sách qua thực tiễn xét xử: Phân tích số liệu thống kê tư pháp được tổng hợp trong các bảng dữ liệu của luận án:
- Bảng 3.1: Thống kê số vụ án và số bị cáo về các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã xét xử giai đoạn 1990 – 1999.
- Bảng 3.2: Thống kê số vụ án và số bị cáo về các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã xét xử giai đoạn 2008 – 2017.
- Bảng 3.3: Cơ cấu về các hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo trong nhóm các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn quốc từ năm 2008 đến năm 2017.
Phân tích thực tiễn chỉ ra số lượng vụ án hình sự được đưa ra xét xử còn rất khiêm tốn so với quy mô vi phạm thực tế; việc áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ và án treo chiếm tỷ lệ cao; còn nhiều khó khăn trong việc thu thập chứng cứ, giám định thiệt hại và định tội danh đối với pháp nhân thương mại.
- Đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu chính sách: Đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế đối với mục tiêu đấu tranh phòng, chống tội phạm; mục tiêu bảo vệ chủ thể quyền sở hữu trí tuệ; mục tiêu bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng và mục tiêu thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển.
Chƣơng 4: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM
Chương 4 đưa ra các giải pháp dựa trên hệ thống định hướng cụ thể:
- Định hướng hoàn thiện: (1) Đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự; (2) Phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập; (3) Bảo đảm tính tương thích với các quy định và thông lệ quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
- Hệ thống giải pháp cụ thể:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện hình thức thể hiện của chính sách về tội phạm và hình phạt: Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 liên quan đến nhóm 07 tội danh; xác định rõ ràng, minh bạch ranh giới giữa vi phạm hành chính, vi phạm dân sự và tội phạm hình sự; sửa đổi, bổ sung các dấu hiệu định lượng (giá trị hàng hóa vi phạm, quy mô thương mại, số tiền thu lợi bất chính); hoàn thiện quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và quyền sở hữu công nghiệp; hoàn thiện hệ thống hình phạt bổ sung và biện pháp tư pháp.
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách pháp luật hình sự: Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán); tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan tư pháp với Quản lý thị trường, Hải quan, Thanh tra chuyên ngành; nâng cao chất lượng hoạt động giám định sở hữu trí tuệ; đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền ý thức chấp hành pháp luật cho doanh nghiệp và nhân dân; mở rộng hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xuyên quốc gia.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định 06 kết quả và đóng góp mới về mặt khoa học:
- Tiếp tục kế thừa, phát hiện và luận giải khái niệm, nội hàm và các đặc điểm đặc thù của chính sách pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
- Xác định và luận giải một cách có hệ thống hệ thống các mục tiêu cơ bản, đối tượng và nội dung cốt lõi của chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội phạm này (gồm chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt).
- Đánh giá toàn diện thực trạng thể hiện của chính sách về tội phạm và hình phạt đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thông qua các quy định trong các Bộ luật Hình sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử lập pháp.
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách pháp luật hình sự trong việc phát hiện, xử lý, định tội danh và quyết định hình phạt dựa trên số liệu thống kê tư pháp và phân tích các vụ án thực tiễn.
- Đánh giá khách quan mức độ đạt được và chưa đạt được của chính sách pháp luật hình sự theo từng nhóm mục tiêu: phòng ngừa tội phạm; bảo vệ chủ thể quyền sở hữu trí tuệ; bảo vệ người tiêu dùng; và thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển.
- Xác định hệ thống định hướng có căn cứ khoa học và đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện hình thức thể hiện của chính sách trong Bộ luật Hình sự cũng như nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam; các số liệu thống kê tư pháp được thu thập và phân tích tập trung vào các giai đoạn từ năm 1985 đến năm 2017 và cập nhật đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2021).
- Nghiên cứu chưa thể bao quát thực tiễn xét xử trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại trong giai đoạn sau năm 2021 do các quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 cần thời gian áp dụng trong thực tiễn.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá sâu thực tiễn áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi đối với trách nhiệm hình sự của cá nhân và pháp nhân thương mại trong môi trường thương mại điện tử và không gian mạng.
- Nghiên cứu các giải pháp pháp luật hình sự nhằm ứng phó với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mới phát sinh từ sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu số.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng và hoạt động sau:
- Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Luận án cung cấp luận cứ khoa học phục vụ cho việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong Bộ luật Hình sự và xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng.
- Đối với cơ quan tiến hành tố tụng và thực thi pháp luật: Cán bộ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và cán bộ các cơ quan Quản lý thị trường, Hải quan, Thanh tra có thể tham khảo để tháo gỡ vướng mắc trong việc phân biệt ranh giới giữa vi phạm hành chính, dân sự và tội phạm hình sự, cũng như trong việc thu thập chứng cứ và định tội danh.
- Đối với nghiên cứu và đào tạo: Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên luật và giảng viên giảng dạy các môn học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tội phạm học, Khoa học điều tra hình sự tại các cơ sở đào tạo luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định nhóm các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gồm những tội danh cụ thể nào trong Bộ luật Hình sự năm 2015?
Theo kết quả nghiên cứu của luận án, nhóm tội này trong Bộ luật Hình sự năm 2015 bao gồm 07 tội danh:
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192);
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193);
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194);
- Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi (Điều 195);
- Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 225);
- Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226);
- Tội vi phạm quy định về hoạt động xuất bản (Điều 271).
2. Vì sao luận án xếp các tội danh về sản xuất, buôn bán hàng giả vào nhóm các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ?
Luận án căn cứ vào quy định tại điểm g khoản 8 Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ, theo đó hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ (gồm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý và hàng hóa sao chép lậu quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ) là một trong những đối tượng của hàng giả. Do trong pháp luật hình sự chưa có văn bản giải thích riêng về khái niệm hàng giả nên thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự để xử lý các tội sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn vận dụng các quy định này.
3. Chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội này có những đặc điểm đặc thù nào?
Luận án chỉ ra 05 đặc điểm đặc thù:
- Hướng đến bảo vệ tài sản trí tuệ – loại tài sản phi vật chất, khó xác định giá trị và khó kiểm soát hành vi xâm hại;
- Là chính sách đối với hành vi xâm phạm các đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ bị coi là tội phạm và chính sách về hình phạt áp dụng;
- Phải luôn đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với chính sách pháp luật dân sự và hành chính để phân định ranh giới xử lý;
- Chịu sự tác động sâu sắc từ các yếu tố và cam kết quốc tế (Hiệp định TRIPs, CPTPP, EVFTA);
- Mang tính đa mục tiêu: vừa đấu tranh phòng chống tội phạm, vừa bảo vệ chủ thể quyền, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển.
4. Luận án đã sử dụng những bảng số liệu thống kê tư pháp cụ thể nào để đánh giá thực trạng xét xử?
Luận án thu thập và xây dựng 03 bảng thống kê số liệu thực tế trong Chương 3:
- Bảng 3.1: Thống kê số vụ án và số bị cáo về các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã xét xử giai đoạn 1990 – 1999;
- Bảng 3.2: Thống kê số vụ án và số bị cáo về các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã xét xử giai đoạn 2008 – 2017;
- Bảng 3.3: Cơ cấu về các hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo trong nhóm các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn quốc từ năm 2008 đến năm 2017.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp hoàn thiện cơ bản nào?
Luận án đề xuất 02 nhóm giải pháp lớn:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện hình thức thể hiện của chính sách về tội phạm và hình phạt: sửa đổi, bổ sung các điều luật liên quan trong Bộ luật Hình sự năm 2015, hoàn thiện các yếu tố định lượng cấu thành tội phạm, làm rõ ranh giới xử lý hình sự - hành chính - dân sự, và hoàn thiện chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách pháp luật hình sự: nâng cao năng lực cán bộ tư pháp, tăng cường phối hợp liên ngành (Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Thanh tra), nâng cao chất lượng giám định tư pháp, đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục và tăng cường hợp tác quốc tế.
Kết luận
Luận án tiến sĩ “Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ” của tác giả Trần Văn Hải đã xây dựng khung lý luận chuyên sâu và có hệ thống về chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực trạng quy định trong Bộ luật Hình sự qua các thời kỳ và số liệu thống kê xét xử thực tế, công trình đã chỉ rõ những kết quả đạt được cùng những hạn chế, vướng mắc trong lập pháp và áp dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp toàn diện nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách pháp luật hình sự trong giai đoạn phát triển nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.