Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Bảo vệ quyền trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hạnh được thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Ngô Thị Hường và TS. Nguyễn Phương Lan, thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và tố tụng dân sự, mã số 9 38 01 03.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trẻ em là đối tượng còn non nớt về thể chất và trí tuệ, không thể tự phát triển và trưởng thành nếu thiếu sự chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ đặc biệt từ gia đình và xã hội. Việc bảo vệ trẻ em không chỉ xuất phát từ tình cảm huyết thống tự nhiên mà cần được bảo đảm vững chắc bằng các quy phạm pháp lý. Ngày 20/02/1990, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là quốc gia thứ ba trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (CRC). Hệ thống pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt là Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) các năm 1959, 1986, 2000 và 2014, đều thể hiện nguyên tắc xuyên suốt là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em.

Tuy nhiên, bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chênh lệch mức sống giữa các vùng miền và sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp: trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, bị xâm hại tình dục, bạo lực gia đình, bóc lột, bỏ rơi, tai nạn thương tích hoặc chịu tổn thương tâm lý nghiêm trọng khi cha mẹ ly hôn. Đồng thời, thực tiễn áp dụng pháp luật phát sinh những quan hệ mới như mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, thụ tinh trong ống nghiệm, cấp dưỡng sau ly hôn và nạn tảo hôn ("kết hôn trẻ em"). Luật HN&GĐ hiện hành bộc lộ những khoảng trống: thiếu chế tài hoặc chế tài chưa đủ nghiêm khắc để xử lý các hành vi vi phạm nghĩa vụ của thành viên gia đình đối với trẻ em; hiện tượng cha mẹ lạm quyền trong giáo dục con; cơ chế thực thi quyền tham gia của trẻ em còn hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện, có hệ thống lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền trẻ em theo Luật HN&GĐ là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ một cách toàn diện, có hệ thống lý luận về quyền trẻ em, bảo vệ quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em theo Luật HN&GĐ; phân tích, đánh giá thực trạng quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn thi hành; từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi nhằm bảo đảm tốt nhất các quyền của trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 05 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về trẻ em, các đặc trưng cơ bản của trẻ em, quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em.
  2. Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em theo Luật HN&GĐ; phân tích, lý giải vai trò của Luật HN&GĐ đối với việc bảo vệ quyền trẻ em.
  3. Phân tích, đánh giá các quy định của Luật HN&GĐ hiện hành về bảo vệ quyền trẻ em, chỉ ra các bất cập, hạn chế của đạo luật trong việc bảo vệ quyền trẻ em.
  4. Nghiên cứu và đánh giá thực tiễn thực hiện Luật HN&GĐ hiện hành trong việc bảo vệ quyền trẻ em, trên cơ sở đó chỉ ra những vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng.
  5. Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện Luật HN&GĐ và các biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ HN&GĐ; các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn thi hành về bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu Luật HN&GĐ năm 2014, có sự liên hệ, so sánh với các văn bản pháp luật trước đây và các luật khác điều chỉnh quan hệ bảo vệ quyền trẻ em. Về mặt thực tiễn, luận án giới hạn khảo sát thực tiễn thi hành Luật HN&GĐ năm 2014 trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020 tại Việt Nam. Luận án không nghiên cứu việc bảo vệ quyền trẻ em trong các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tiến hành rà soát, phân loại và đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nhóm luận án, luận văn và đề tài nghiên cứu:
    • Phan Thị Lan Phương (2015), Quyền trẻ em trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam - những đòi hỏi pháp lý (Luận án Tiến sĩ Luật học): Xây dựng khái niệm quyền trẻ em trên cơ sở lý luận quyền con người, xác định quyền trẻ em là các đặc quyền tự nhiên, khẳng định trẻ em là chủ thể của quyền chứ không chỉ là người thụ hưởng lòng nhân từ.
    • Tăng Thị Thu Trang (2016), Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay (Luận án Tiến sĩ Luật học): Phân loại trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (bao gồm trường hợp lao động xa gia đình) và xác định đặc thù quyền của nhóm đối tượng này.
    • Nguyễn Thị Huyền (2012), Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài về bảo vệ quyền trẻ em (Luận văn Thạc sĩ Luật học): So sánh độ tuổi trẻ em dưới 18 tuổi theo luật quốc tế, Luật Phúc lợi trẻ em năm 1947 của Nhật Bản, Luật Bảo vệ người chưa thành niên của Trung Quốc, Luật Liên bang Nga số 124/FZ (1998) với pháp luật Việt Nam.
    • Nguyễn Vương Thùy Dương (2013), Trẻ em bị xâm hại tình dục trong gia đình (Luận văn Thạc sĩ Luật học): Phân tích hành vi xâm hại tình dục trẻ em từ những người thân thích và kiến nghị áp dụng chế tài nghiêm khắc.
    • Hoàng Thị Thùy Dung (2014), Các quyền cơ bản của trẻ em theo pháp luật Việt Nam hiện hành (Luận văn Thạc sĩ Luật học): Tiếp cận quyền cơ bản của trẻ em theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.
    • Nguyễn Thanh Hương (2014), Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam về phòng, chống bạo lực gia đình (Luận văn Thạc sĩ Luật học): Phân tích cơ chế pháp lý phòng ngừa, can thiệp và bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình.
    • Nguyễn Thị Thu Hà (2019), Bạo lực gia đình đối với trẻ em - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Luận văn Thạc sĩ Luật học): Xác định các hành vi bạo lực về thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế đối với trẻ em dưới 16 tuổi trong môi trường gia đình.
    • Đề tài NCKH cấp Trường do TS. Ngô Thị Hường chủ nhiệm (2012), Pháp luật về quyền trẻ em và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội): Gồm 15 chuyên đề, khẳng định các chế định kết hôn, sống chung với cha mẹ, chống lao động sớm là nền tảng để bảo đảm quyền trẻ em.
  • Nhóm sách và bài báo khoa học:
    • Nguyễn Trọng An (2014), Những điều cần biết về bảo vệ và chăm sóc trẻ em (NXB Chính trị quốc gia - Sự thật): Cung cấp kỹ năng nhận diện xâm hại, phòng chống tai nạn thương tích và điều trị rối nhiễu tâm trí ở trẻ em học đường (chiếm khoảng 20% học sinh lớp 2, lớp 3).
    • Mai Huy Bích (2010), Quyền trẻ em và yếu tố văn hóa (Tạp chí Nghiên cứu con người): Đánh giá tính tương đối về văn hóa của khái niệm quyền trẻ em theo các chuẩn mực phương Tây hiện đại trong CRC.
    • Nguyễn Thị Lan (2011), Việc nuôi con nuôi giữa bố dượng hoặc mẹ kế và con riêng của vợ hoặc chồng theo Luật nuôi con nuôi (Tạp chí Luật học): Chỉ ra các kẽ hở pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi trong các trường hợp ngoại lệ.
    • Nguyễn Phương Lan (2013), Hành vi xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em (Tạp chí Luật học): Phân loại hai mức độ xâm hại trực tiếp và bóc lột tình dục vì mục đích thương mại.
    • Quách Thị Huệ (2015), Thực hiện quyền tham gia của trẻ em tại Việt Nam (Tạp chí Lao động và Xã hội): Phân tích quyền tham gia theo các Điều 12, 13, 16 của CRC và rào cản từ định kiến văn hóa Á Đông coi ý kiến người lớn là tối thượng.
    • Ngô Thị Hường (2020), Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên và thực tiễn áp dụng (Tạp chí Luật học): Khẳng định hạn chế quyền của cha mẹ là biện pháp chế tài khi cha mẹ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hoặc có lối sống đồi trụy.

Các công trình nghiên cứu quốc tế

  • S. Pronina (2012), Bảo vệ gia đình, bảo vệ trẻ em - giữ gìn tương lai của chúng ta: Nghiên cứu các giải pháp phòng ngừa vi phạm quyền trẻ em dưới sự bảo trợ của Quỹ Quyền trẻ em.
  • Holmberg Barbro và James Himes (2005), Trách nhiệm của cha mẹ trong mối tương quan với nhà nước - Quyền trẻ em biến nguyên tắc thành hành động: Xây dựng mô hình quan hệ tam giác giữa trẻ em, gia đình và nhà nước; nghĩa vụ của nhà nước là can thiệp bảo vệ trẻ em khi cha mẹ không hoàn thành trách nhiệm.
  • Zivtsina A.I. và Indeikina T.L. (2009), Removing brutal treatment of children in the family: Nhận diện hành vi sao nhãng (không đoái hoài, bỏ mặc trẻ) là một dạng bạo lực gia đình phổ biến.
  • Joel Feinberg (1980), A Child's Right to an Open Future: Phân chia ba loại quyền (quyền chỉ dành cho người lớn, quyền cho cả người lớn và trẻ em, quyền chỉ dành riêng cho trẻ em) và hai nhóm bảo đảm (nhận điều tốt đẹp và bảo vệ khỏi tổn hại).
  • Stefan De Vylder (2000), Macroeconomic Policies and Children's Rights: Khẳng định mọi chính sách kinh tế - xã hội đều tác động đến quyền trẻ em, việc không đầu tư cho trẻ em sẽ gây tổn thất xã hội lâu dài.
  • David Oswell (2013), The Agency of Children, From Family to Global Human Rights (Cambridge University Press): Luận giải về năng lực chủ thể (agency) và quyền tự quyết của trẻ em trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghệ số.
  • Edward Teyber (1996), Helping Children Cope with Divorce: Phân tích diễn biến tâm lý, sự tự dằn vặt của trẻ em khi cha mẹ ly hôn và hướng dẫn kỹ năng ứng xử cho cha mẹ.
  • Wolfgang Benedek (2008), Tìm hiểu về quyền con người (NXB Tư pháp): Cung cấp nền tảng quyền con người và nguyên tắc trao quyền cho trẻ em.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận quyền trẻ em dưới góc độ nhân quyền tổng quát hoặc giải quyết các vụ việc vi phạm cụ thể (bạo lực, xâm hại). Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về cơ chế bảo vệ quyền trẻ em dưới góc độ ngành Luật Hôn nhân và gia đình; chưa làm rõ vai trò chủ thể đặc thù của trẻ em (thụ hưởng quyền chủ yếu thông qua việc thực hiện nghĩa vụ của cha mẹ và người thân); chưa phân tích đầy đủ mối quan hệ qua lại giữa các quy phạm hôn nhân gia đình với 04 nhóm quyền cơ bản của trẻ em (sống còn, bảo vệ, phát triển, tham gia) theo chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam hiện hành. Luận án được thực hiện để giải quyết trực tiếp khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng các lý thuyết và khung pháp lý nền tảng:

  • Lý thuyết quyền con người (Human Rights Theory): Tiếp cận trẻ em là chủ thể độc lập, bình đẳng của quyền con người, có đầy đủ các quyền tự nhiên gắn liền với phẩm giá con người. Quyền trẻ em mang tính phổ quát, không thể phân chia và có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau.
  • Lý thuyết năng lực chủ thể (Child Agency) và mô hình tam giác Trẻ em - Gia đình - Nhà nước: Định vị trẻ em không chỉ là đối tượng được bảo bọc thụ động mà là chủ thể có quyền tự quyết, có tiếng nói phù hợp với độ tuổi; gia đình có trách nhiệm trực tiếp và nhà nước đóng vai trò giám sát, bảo đảm điều kiện thực thi.
  • Khung phân tích Công ước CRC (1989): Dựa trên 04 nhóm quyền cơ bản (sống còn, bảo vệ, phát triển, tham gia) và các nguyên tắc cốt lõi: không phân biệt đối xử, lợi ích tốt nhất của trẻ em, tôn trọng sự phát triển của trẻ em, và nguyên tắc 3P (Participation, Protection, Provision).

Hệ thống khái niệm công cụ

  1. Trẻ em: Là nhóm người trong xã hội ở một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu phát triển của con người, có các đặc điểm thể chất và tâm sinh lý chưa hoàn thiện, được điều chỉnh bằng quy chế pháp lý đặc thù. Theo Công ước CRC, trẻ em là người dưới 18 tuổi; theo Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam, trẻ em là người dưới 16 tuổi.
  2. Quyền trẻ em: Là những quyền con người được áp dụng dành riêng cho trẻ em; là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em được hưởng, được tôn trọng, được công nhận và được bảo đảm thực hiện trên cơ sở pháp luật, phù hợp với sự phát triển toàn diện về thể chất, tâm lý và xã hội.
  3. Bảo vệ quyền trẻ em: Được luận án tiếp cận toàn diện ở ba khía cạnh:
    • Thứ nhất: Nhà nước ghi nhận các quyền cơ bản của trẻ em và xác định nghĩa vụ tương ứng của cha mẹ, gia đình và xã hội.
    • Thứ hai: Tổ chức thực thi pháp luật, tạo lập cơ chế, thủ tục hành chính và điều kiện thuận lợi để trẻ em thực hiện quyền; triển khai các biện pháp phòng ngừa xâm hại.
    • Thứ ba: Thiết lập và áp dụng các chế tài xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với trẻ em.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về hôn nhân, gia đình và bảo vệ quyền trẻ em (áp dụng chủ yếu tại Chương 2 để lý giải các vấn đề bản chất, quy luật).
  • Phương pháp chuyên ngành luật học:
    • Phương pháp phân tích quy phạm, logic học và hệ thống: Sử dụng để mổ xẻ nội dung các điều luật, đối chiếu cấu trúc quy phạm và đánh giá tính logic, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
    • Phương pháp so sánh luật học và lịch sử: So sánh các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 với các đạo luật năm 1959, 1986, 2000, cũng như đối chiếu với Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016 và Công ước CRC năm 1989.
  • Phương pháp nghiên cứu xã hội học và xã hội học pháp luật: Sử dụng các kỹ thuật quan sát, trao đổi, tiếp cận thông tin và tổng hợp số liệu thực tiễn thi hành pháp luật tại Chương 3 và Chương 4 để chỉ ra các vướng mắc áp dụng và luận chứng giải pháp hoàn thiện.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản quy phạm pháp luật quốc tế (CRC 1989, Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ 1924, UDHR 1948, ICCPR, ICESCR) và văn bản pháp luật Việt Nam (Hiến pháp 2013, các Luật HN&GĐ, Luật Trẻ em 2016, BLDS 2015, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP).
  • Tài liệu y sinh học, chuẩn phát triển thể chất của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổng hội Y học Việt Nam, Viện Y học ứng dụng Việt Nam.
  • Các công trình nghiên cứu, báo cáo chuyên đề của Trường Đại học Luật Hà Nội, các bài báo khoa học pháp lý và số liệu tổng kết thực tiễn xét xử, thi hành pháp luật giai đoạn 2015-2020.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Chương 1 tổng hợp các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, chỉ rõ những khoảng trống khoa học cần tiếp tục hoàn thiện. Tác giả tiến hành phân loại việc bảo vệ quyền trẻ em theo Luật HN&GĐ năm 2014 thành 04 nhóm quyền cụ thể:

  1. Nhóm quyền được sống, khai sinh, có quốc tịch, được biết cha mẹ: Là nhóm quyền cốt lõi, thiêng liêng tạo tiền đề cho các quyền khác.
  2. Nhóm quyền được bảo vệ: Bao gồm bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình, xâm hại tình dục, bóc lột lao động và bảo vệ trong quan hệ kết hôn, ly hôn của cha mẹ.
  3. Nhóm quyền được phát triển: Bảo đảm quyền học tập, chăm sóc dinh dưỡng, y tế và giáo dục nhân cách không bạo lực.
  4. Nhóm quyền được tham gia: Quyền được bày tỏ ý kiến, lắng nghe và tôn trọng trong các quyết định gia đình liên quan đến bản thân trẻ.

Đồng thời, Chương 1 xây dựng hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu làm cơ sở giải quyết các vấn đề lý luận (khái niệm, bản chất, cấp độ, chủ thể bảo vệ quyền trẻ em) và thực tiễn (áp dụng điều kiện kết hôn, thực hiện nghĩa vụ cha mẹ, quyền nuôi dưỡng và cấp dưỡng khi ly hôn, xử lý chế tài vi phạm).

Chương 2. Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình

Chương 2 làm sáng tỏ các luận điểm lý luận nền tảng:

  • Cơ sở sinh học và tâm lý theo lứa tuổi: Luận án tổng hợp các mốc phát triển tự nhiên của trẻ em làm căn cứ cho sự can thiệp pháp lý:
Phân loại theo WHO / Lứa tuổi Đặc điểm phát triển thể chất Đặc điểm phát triển tâm lý - nhận thức
Sơ sinh & Nhũ nhi (0 - 2 tuổi) (WHO chia: Sơ sinh 0-1 tháng; Bú mẹ 1-23 tháng) Cơ quan cơ thể đang hoàn thiện, hệ miễn dịch non yếu; chiều cao, cân nặng tăng trưởng theo hormone. Thỏa mãn nhu cầu bản năng (ăn, ngủ, chơi); từ 1-3 tuổi tò mò khám phá thế giới qua cảm giác, vận động, phát triển ngôn ngữ.
Tiền học đường (2 - 5 tuổi / 3 - 6 tuổi) Cơ bắp và chức năng vận động phát triển nhanh; hoàn thiện các bộ phận cơ thể. Tự khám phá xung quanh, biết đặt câu hỏi "tại sao", hình thành "cái tôi", bắt đầu có ý thức về giới tính.
Thời kỳ nhi đồng (6 - 12 tuổi / 6 - 11 tuổi) Cấu tạo cơ quan hoàn chỉnh; vỏ não biệt hóa hoàn toàn; tư duy phân tích phát triển. Bắt đầu đi học, mở rộng quan hệ bạn bè trên tinh thần hợp tác; hình thành nhân cách, nếp sống, hành vi có ý thức.
Thời kỳ vị thành niên (13 - 18 tuổi / 11 - 16 tuổi) Dậy thì: Nữ 13-14 đến 17-18 tuổi; Nam 15-16 đến 19-20 tuổi; tuyến sinh dục hoạt động mạnh. Tâm lý phức tạp, tính tự lập và tự trọng cao; nhạy cảm với đánh giá xung quanh; có ý thức sâu sắc về giới tính.
  • Tiến trình lịch sử và tính chất quyền trẻ em: Luận án điểm lại các mốc lịch sử (năm 1919 thành lập quỹ cứu trợ ở Anh và Thụy Điển; năm 1923 Eglantyne Jebb soạn Tuyên bố 7 điểm; Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ 1924; Tuyên ngôn UDHR 1948; Tuyên ngôn Quyền trẻ em 1959; Công ước CRC 1989) để khẳng định trẻ em đã chuyển từ "đối tượng thương hại" sang "chủ thể độc lập của quyền con người".
  • Bốn đặc điểm của quyền trẻ em: (1) Xuất phát từ quyền con người, mang tính tự nhiên gắn với sự phát triển của trẻ; (2) Mang tính phổ biến và tính đặc thù; (3) Mang tính pháp lý, được công nhận và bảo đảm bởi các quy phạm pháp luật; (4) Không chỉ do trẻ em tự thực hiện mà chủ yếu được bảo đảm thực hiện bởi các chủ thể khác.
  • Bảo vệ quyền trẻ em theo Luật HN&GĐ: Có tính thường xuyên, liên tục, xuất phát từ yếu tố tình cảm, đạo đức, nếp nhà và phong tục tập quán. Trẻ em thụ hưởng quyền chủ yếu thông qua việc thực hiện nghĩa vụ bắt buộc của cha mẹ và các thành viên gia đình.

Chương 3. Thực trạng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về bảo vệ quyền trẻ em và thực tiễn thực hiện

Chương 3 phân tích thực trạng các chế định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam (2015-2020):

  • Quy định điều kiện kết hôn và hủy kết hôn trái pháp luật: Quy định độ tuổi kết hôn (nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi), tính tự nguyện là cơ sở xây dựng gia đình tiến bộ. Việc xử lý hậu quả pháp lý khi hủy kết hôn trái pháp luật hoặc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký vẫn bảo đảm quyền con chung như trường hợp cha mẹ ly hôn.
  • Quyền và nghĩa vụ nhân thân, tài sản của cha mẹ đối với con: Phân tích quy định xác định cha, mẹ, con; nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, tôn trọng ý kiến con; nghĩa vụ giáo dục và nuôi dưỡng. Luận án chỉ ra thực tế cha mẹ lạm dụng đòn roi nhân danh "dạy dỗ" và sự bất cập trong bảo vệ quyền biết nguồn gốc của trẻ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
  • Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn: Đánh giá quy định giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ trực tiếp nuôi; việc lấy ý kiến con từ đủ 07 tuổi trở lên; quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con. Luận án phân tích thực trạng tranh chấp nuôi con, trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng do thiếu quy định thống nhất về mức và thời điểm cấp dưỡng.
  • Nghĩa vụ của các thành viên khác: Phân tích vai trò, quyền và nghĩa vụ của ông bà nội/ngoại, anh chị em, cô dì chú bác đối với trẻ em chưa thành niên khi cha mẹ không còn hoặc không có điều kiện nuôi dưỡng.
  • Chế tài xử lý vi phạm: Phân tích căn cứ hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên (Điều 85 Luật HN&GĐ 2014) khi bị kết án về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của con; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy. Luận án chỉ ra thực tiễn áp dụng biện pháp này tại Tòa án còn rất hạn chế do thủ tục phức tạp và thiếu cơ chế giám sát.

Chương 4. Yêu cầu hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình về bảo vệ quyền trẻ em và một số kiến nghị

Chương 4 xác định 05 yêu cầu hoàn thiện pháp luật:

  1. Hướng tới mục tiêu phát triển gia đình Việt Nam bền vững.
  2. Bảo đảm quyền con người của trẻ em phù hợp với bối cảnh Việt Nam.
  3. Phù hợp với xu hướng hội nhập và chuẩn mực quốc tế.
  4. Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật (giữa Luật HN&GĐ, Luật Trẻ em 2016 và BLDS 2015).
  5. Hướng tới xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm quyền trẻ em trong gia đình.

Trên cơ sở đó, luận án đưa ra 03 nhóm kiến nghị cụ thể:

  • Hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con: Bổ sung quy định làm rõ nghĩa vụ của cha mẹ trong việc tôn trọng quyền được giáo dục không bạo lực đối với con; quy định các biện pháp cụ thể để hạn chế việc cha mẹ vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
  • Hoàn thiện quy định bảo vệ trẻ em khi cha mẹ ly hôn: Sửa đổi quy định về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con sau ly hôn; quy định thống nhất thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn (kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày vợ chồng không cùng chung sống).
  • Hoàn thiện quy định về các thành viên khác và thuật ngữ pháp lý: Bổ sung quy định về quyền giữ mối liên hệ giữa trẻ em chưa thành niên với các thành viên khác trong gia đình; bổ sung chế tài hạn chế quyền của các thành viên khác nếu có hành vi xâm hại trẻ; hướng dẫn chi tiết nghĩa vụ yêu thương, trông nom, chăm sóc.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành: Giáo dục đạo đức, trách nhiệm gia đình; tăng cường phối hợp liên ngành giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ quyền trẻ em.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Xây dựng và hoàn thiện hệ thống khái niệm: trẻ em, quyền trẻ em, bảo vệ quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình trên cơ sở tiếp cận lý thuyết quyền con người.
  • Luận giải cơ sở tự nhiên, sinh học và tâm sinh lý của trẻ em theo các nhóm lứa tuổi (dựa trên chuẩn của WHO và quy luật tâm lý) để làm căn cứ khoa học xác định tính tất yếu của việc bảo vệ quyền trẻ em trong môi trường gia đình.
  • Làm rõ đặc thù của quan hệ bảo vệ quyền trẻ em theo Luật HN&GĐ: quan hệ mang tính tình cảm, đạo đức, nếp sống gia đình; khẳng định trẻ em là chủ thể đặc biệt mà quyền lợi được thực hiện chủ yếu thông qua trách nhiệm bắt buộc của cha mẹ và người thân thích.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá toàn diện, có đối chiếu lịch sử thực trạng quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn thi hành tại Việt Nam giai đoạn 2015-2020; nhận diện rõ các bất cập về giáo dục bạo lực, trốn tránh cấp dưỡng, tranh chấp quyền nuôi con và việc áp dụng biện pháp hạn chế quyền của cha mẹ.
  • Đề xuất hệ thống 05 yêu cầu hoàn thiện và các nhóm kiến nghị lập pháp cụ thể, có tính khả thi nhằm sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2014.
  • Đề xuất các giải pháp đồng bộ về quản lý nhà nước, tuyên truyền và cơ chế phối hợp liên ngành (Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Tư pháp, Bộ VHTTDL) nhằm nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật bảo vệ quyền trẻ em.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực tiễn thi hành Luật HN&GĐ năm 2014 trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020 tại Việt Nam; không mở rộng nghiên cứu đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (như nhận con nuôi quốc tế, mang thai hộ xuyên quốc gia, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn có yếu tố nước ngoài).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền trẻ em trong các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa.
    • Nghiên cứu sâu hơn về tác động của công nghệ số, môi trường mạng và các kỹ thuật y sinh học hỗ trợ sinh sản mới đối với việc thực thi quyền của trẻ em trong gia đình.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên ngành luật: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật chuyên sâu, hệ thống hóa các lý luận về quyền con người của trẻ em và phương pháp phân tích quy phạm pháp luật hôn nhân gia đình.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo luật học: Tài liệu tham khảo trực tiếp cho các môn học Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Dân sự, Pháp luật về quyền con người và Xã hội học pháp luật.
  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch): Là cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ việc rà soát, đánh giá, sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2014 và xây dựng chính sách bảo vệ trẻ em.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát): Cung cấp các luận cứ pháp lý phục vụ thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình liên quan đến quyền nuôi con, mức cấp dưỡng và áp dụng biện pháp hạn chế quyền của cha mẹ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân định khái niệm và độ tuổi trẻ em giữa pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam như thế nào?

Theo phân tích của luận án, Công ước quốc tế về Quyền trẻ em (CRC) quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi. Tại Việt Nam, theo quy định của Luật Trẻ em năm 2016, trẻ em là người dưới 16 tuổi. Luận án khẳng định việc xác định độ tuổi ở mỗi quốc gia căn cứ vào điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa và nhân chủng học, nhưng đều thống nhất nguyên tắc: trẻ em là người chưa trưởng thành về thể chất và tâm sinh lý nên cần quy chế bảo vệ pháp lý đặc biệt.

2. Bốn đặc điểm cơ bản của quyền trẻ em được xác lập trong luận án gồm những gì?

Luận án xác lập 04 đặc điểm cốt lõi: (1) Quyền trẻ em xuất phát từ quyền con người, mang tính tự nhiên gắn với quá trình phát triển của trẻ; (2) Quyền trẻ em vừa mang tính phổ biến (áp dụng bình đẳng cho mọi trẻ em) vừa mang tính đặc thù (phù hợp với sự phát triển chưa hoàn thiện); (3) Quyền trẻ em mang tính pháp lý, được công nhận và bảo đảm bởi hệ thống pháp luật; (4) Quyền trẻ em không chỉ do bản thân trẻ thực hiện mà chủ yếu được bảo đảm thực hiện thông qua nghĩa vụ của các chủ thể khác (cha mẹ, gia đình, nhà nước).

3. Ba khía cạnh cấu thành khái niệm "bảo vệ quyền trẻ em" theo luận án là gì?

Bảo vệ quyền trẻ em được tiếp cận ở 03 khía cạnh: (1) Nhà nước ghi nhận các quyền cơ bản của trẻ em và xác định nghĩa vụ tương ứng của các chủ thể khác; (2) Tổ chức thực thi pháp luật, tạo cơ chế, thủ tục và điều kiện thuận lợi để trẻ em thực hiện quyền, đồng thời phòng ngừa các nguy cơ xâm hại; (3) Áp dụng các chế tài xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với trẻ em.

4. Luận án chỉ ra những bất cập nào trong việc bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn?

Luận án chỉ ra các vướng mắc: tranh chấp quyền trực tiếp nuôi dưỡng con; người không trực tiếp nuôi con bị cản trở quyền thăm nom hoặc thiếu trách nhiệm chăm sóc; việc trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con diễn ra phổ biến do pháp luật chưa có quy định thống nhất về thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và thiếu cơ chế cưỡng chế thi hành hiệu quả.

5. Những kiến nghị lập pháp trọng tâm mà luận án đề xuất sửa đổi Luật HN&GĐ năm 2014 là gì?

Luận án kiến nghị: (1) Bổ sung nghĩa vụ của cha mẹ trong việc tôn trọng quyền được giáo dục không bạo lực của con; (2) Bổ sung các biện pháp ngăn chặn cha mẹ vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng; (3) Thống nhất thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng khi ly hôn; (4) Quy định rõ quyền giữ mối liên hệ của trẻ với các thành viên khác trong gia đình và chế tài hạn chế quyền của các thành viên này khi có hành vi xâm hại trẻ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Bảo vệ quyền trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hạnh là công trình nghiên cứu chuyên sâu, giải quyết có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực hôn nhân gia đình. Bằng việc phân tích các cơ sở sinh học, tâm lý và chuẩn mực nhân quyền quốc tế, luận án đã làm rõ tính đặc thù của việc thực thi quyền trẻ em thông qua trách nhiệm của các thành viên gia đình. Trên cơ sở khảo sát thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giai đoạn 2015-2020, luận án đã chỉ ra các hạn chế lập pháp và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cùng cơ chế thực thi đồng bộ, góp phần xây dựng môi trường gia đình an toàn, bền vững cho sự phát triển toàn diện của trẻ em.