phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được thể hiện 3 chương sau: Chưong 1. Một số vấn đề lý luận về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh Chương 2. Thực trạng pháp luật bảo hộ nhãn hiệu âm thanh ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm ở một số quốc gia Chương 3. Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu âm thanh ở Việt Nam.
7 Chuong 1 MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẶN VÈ BẢO Hộ NHÃN HIỆU ÂM THANH 1. Cơ sở lý luận về nhãn hiệu • ’ đặc 1. Khái niệm, • điếmO và chức năng• của nhãn hiệu • • hộ nhãn hiệu và bảo ỉ. Khái niệm nhãn hiệu Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ do các doanh nghiệp khác nhau sản xuất hoặc cung cấp.
Nhãn hiệu là yếu tố then chốt giúp truyền tải thông tin một cách nhanh nhất tới người tiêu dùng và giúp cho họ có thề nhận diện và đưa ra quyết định mua sắm đúng đắn dựa trên những biểu hiện, dấu hiệu liên quan đến sản phẩm, dịch vụ được lưu trữ trong trí nhớ của họ. Hiện nay trên thế giới còn nhiều định nghĩa khác nhau về nhãn hiệu, cụ thể: Cộng đồng chung Châu Âu, pháp luật về nhãn hiệu được quy định theo hướng là nhãn hiệu ở cấp độ cộng đồng nhằm bảo vệ lợi ích chung của khối do trong khối có nhiều nước khác nhau và có các đặc thù khác nhau: Một nhãn hiệu cộng đồng có thế gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng và chi tiết, đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác họa hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hóa hoặc bao bì của sản phấm với điều kiện là những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác’1 [47]. Khái niệm này được quy định tại Điều 2 Chỉ thị 89/104/EEEC3. Theo đó, nhãn hiệu phải đáp ứng các điều kiện sau: Một là, phải là “dấu hiệu” mà trong đó các từ là chú yếu gồm: chữ viết, chừ số, hình dáng cùa hàng hóa, bao bì sản phấm, các phác họa hình ảnh hoặc tên riêng, trong đó chủ yếu là các từ, bao gồm tên riêng, các phác họa hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hóa hoặc bao bì của sản phẩm; hai là, phải được trình bày một cách “rõ ràng và chi tiết”; ba là có khả năng “phân biệt các hàng hóa/dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với các hàng hóa/ dịch vụ của chù thể kinh doanh khác” [48].
Việc định nghĩa như trên không loại trù’ việc các dấu hiệu như mùi, vị và âm thanh cũng cỏ thể được đăng ký bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu. 8 Theo Luật Nhãn hiệu của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Bản sửa đôi năm 2013) quy định tại Điều 8 thì “Bất kỳ dấu hiệu nào có thể phân biệt hàng hóa của thế nhân, pháp nhân hoặc tổ chức khác với hàng hóa của người khác, bao gồm từ ngữ, hình vẽ, chữ cái, số, dấu hiệu ba chiều, sự kết hợp màu sắc và âm thanh, v., cũng như kết hợp các yếu tố trên, có thể được sử dụng làm đơn đăng ký nhãn hiệu” [20]. Ở Hoa Kỳ, theo quy định tại đoạn 1127 của Đạo luật Lanham Act - Luật về Nhãn hiệu thì khái niệm nhãn hiệu hàng hóa được hiểu như sau:’’Thuật ngữ nhãn hiệu bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biếu tượng, hay hình vẽ, hoặc sự kết hợp giữa chúng mà - (1) được sử dụng bởi một người, hoặc (2) được một người có ý định chân thành là sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này - để xác định và phân biệt hàng hóa của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng, với những hàng hóa cùng loại được sản xuất hoặc được bán bởi nhừng người khác và để chỉ rõ nguồn gốc của hàng hóa thậm chí khi mà không xác định được nguồn gốc đó” [9].711-1 của Bộ luật SHTT Pháp năm 1996 thì khái niệm nhãn hiệu được hiểu là “Nhãn hiệu hàng hóa hoặc nhãn hiệu dịch vụ là dấu hiệu có thể được thể hiện dưới dạng chữ viết dùng để phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ cùa thể nhân hoặc pháp nhân. Những dấu hiệu có thể cấu thành nhãn hiệu chủ yếu là những dấu hiệu sau: a.
Tên gọi được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào như: Từ, tập hợp từ, tên người, tên địa lý, biệt hiệu, bút danh, chừ cái, chữ số, chữ viết tắt; b. Dấu hiệu âm thanh như: âm thanh, lời nhạc; c. Dấu hiệu hình ảnh như: hình vẽ, nhãn sản phẩm, con dấu, đường viền, hình nổi, hình ảnh ba chiều, biểu tượng, hình ảnh tổng hợp, hình thức, đặc biệt là hình thức sản phấm, hình thức bao bì sản phấm, hình thức đặc trưng của dịch vụ, cách bố trí kết hợp màu sắc, sắc thái màu” [21J. Theo quy định trên thì nhãn hiệu được cấu thành bởi các dấu hiệu đó là: tên gọi, âm thanh và hình ảnh (bao gồm cả hình ảnh ba chiều).
Còn theo quy định của Luật SHTT Việt Nam 2022 thì nhãn hiệu được hiểu “tó dấu hiệu dùng đê phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau ” [28]. Có thể thấy, nhãn hiệu là dấu hiệu đặc biệt để phân biệt hàng hóa, dịch 9 vụ do doanh nghiệp cung câp với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác. Một dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu có thế là một từ, cụm từ, hình ảnh, biếu tượng, logo, màu sắc hoặc sự kết hợp của những yếu tố nêu trên. Ví dụ: nhãn hiệu “Nike”, cùng với “Nike” swoosh, xác định giày do Nike sản xuất và phân biệt chúng với giày do các công ty khác sản xuất (ví dụ: Reebok hoặc Adidas).
Tương tự, nhãn hiệu “Coca-Cola” phân biệt nước soda màu nâu của một nhà sản xuất cụ thể với nước soda màu nâu của một nhà sản xuất khác (ví dụ: Pepsi). Như vậy, qua định nghĩa trên ta có thế thấy: nhãn hiệu là dấu hiệu được sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích chính là đê phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thê khác nhau. Tuy nhiên, mỗi quốc gia sẽ đưa ra những quy định cụ thể hơn về “dấu hiệu có thề là nhãn hiệu tại quốc gia mình” tùy thuộc vào mức độ phát triển và cách hiểu về định nghĩa nhãn hiệu, cũng như điều kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia. Đặc điêm của nhãn hiệu Qua những khái niệm phân tích nêu trên, có thể rút ra những đặc điểm chung được quốc tế thừa nhận về nhãn hiệu sau đây: Thừ nhất, nhãn hiệu là một loại chỉ dẫn thương mại.
Nhãn hiệu được coi là một “tài sản vô hình” [36], được bảo vệ bởi pháp luật, và giá trị của nó tăng dựa trên sự tích luỹ uy tín và danh tiếng của nhà sản xuất. Khi doanh nghiệp xây dựng được niềm tin từ phía người tiêu dùng, giá trị cùa nhãn hiệu của họ trở nên quan trọng và có thể tăng đáng kể, đặc biệt nếu nhãn hiệu đó trở thành một biểu tượng nổi tiếng được nhiều người biết đến. Tính “vô hình” của nhãn hiệu, cùng với đặc tính chứa đựng thông tin và sự gắn kết với uy tín của doanh nghiệp, là những yếu tố dễ bị xâm phạm. Điều này làm cho việc bảo vệ nhãn hiệu trở nên quan trọng.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt, giá trị thương mại của nhãn hiệu trở nên vô cùng quý báu. Khi lựa chọn sản phẩm hoặc dịch vụ, người tiêu dùng thường không chỉ xem xét giá cả mà còn chú trọng đến nhãn hiệu. Thường thì họ ưu tiên các sản phẩm mang lại cảm giác thân thiện và đã được xã hội biết đến, thay vì những sản phẩm mới lạ. Dựa trên nhận thức về tâm lý này của người tiêu dùng, nhiều doanh nghiệp đã sáng tạo ra các sản phẩm có nhãn hiệu tương tự hoặc trùng 10 lặp.
Điều này đã dẫn đến những tình huống nhầm lẫn cho người tiêu dùng, khi họ mua nhầm hoặc không mua được sản phẩm mà họ thực sự mong muốn. Thứ hai, nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt. Mỗi dấu hiệu riêng biệt sẽ mang trong mình các đặc tính khác nhau và chứa lượng thông tin khác nhau. Dựa vào mục đích của chủ sở hữu nhãn hiệu, mỗi nhãn hiệu được tạo ra nhằm truyền đạt một lượng thông tin cụ thế đến công chúng.
Sau khi công chúng tiếp thu các thông tin này, tâm trí sẽ xử lý và lưu trữ thông tin để phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ được liên kết trong nhãn hiệu với những sản phẩm hoặc dịch vụ của các đơn vị khác. Mặc dù nhãn hiệu không yêu cầu tính sáng tạo như sáng chế. nhưng đề được bảo hộ, nhãn hiệu phải thỏa mãn các điều kiện nhất định [12, tr. Một trong những điều kiện đó chính là đáp ứng được các điều kiện cần thiết, cụ thể là nhãn hiệu là “dấu hiệu bất kỳ có khả năng phân biệt”.
Khác với các quyền SHTT khác là bảo vệ các sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực cuộc sống, các quy định về nhãn hiệu tập trung vào việc bảo vệ danh tiếng và uy tín của các chủ thề kinh doanh đã xây dựng trên thị trường [12, tr. Tính chất cốt yếu của pháp luật về nhãn hiệu là y f _ T F 12 1- 1 • 2* s _ 9 _ _ 2 __ _ 1- • — -4- f bao vệ sự nhận diện và nguồn gôc cua san phâm trên thị trương. Do đó, yêu tô có A y — J S khả năng phân biệt” là điều kiện cơ bản nhất cho bất kỳ dấu hiệu nào để đóng vai trò là một nhãn hiệu. Thứ ba, được chủ sở hữu đăng ký và được pháp luật bảo hộ.
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng đế “phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác” vì vậy nhãn hiệu hoàn toàn có thế bị tranh chấp về “nội dung truyền tải” hoặc có thể bị lợi dụng nhàm trục lợi trong các hành vi thương mại. Do đó, “đăng ký xác lập quyền” và “được pháp luật bảo hộ” là cách hiệu quả để bảo vệ quyền SHTT. Ở góc độ pháp lý, khi một dấu hiệu được chủ sở hữu đăng ký và được pháp luật bảo hộ thi dấu hiệu ấy mới chính thức trở thành một nhãn hiệu và giúp đảm bảo rằng nhãn hiệu được công nhận và có quyền độc quyền sử dụng, cũng như ngăn chặn sự sử dụng trái phép từ phía các bên khác.