Chương 1: Một số van đề lý luận về quỹ bảo hiểm xã hội và pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội - Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội tại Việt Nam và thực tiễn thực hiện - Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về quỹ bảo hiêm xã hội tại Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực hiện. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUỸ BẢO HIEM XÃ HOI VA PHAP LUAT VE QUY BAO HIEM XA HOI 1. Một số vấn đề lý luận về quỹ bao hiểm xã hội 1. Khái niệm quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ BHXH là một trong những quỹ quan trọng nằm ngoài ngân sách nhà nước, được sử dụng nhằm mục đích an sinh xã hội, giúp người dân có thể an tâm làm việc công hiến cho đất nước.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quỹ BHXH nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều nhìn nhận: Theo nghĩa rộng', quỹ BHXH là tập hợp những phương tiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu phát sinh về BHXH trên cơ sở sự đóng góp của những người tham gia BHXH. Cụ thể là các khoản dự trữ về tài chính và các phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ cho quỹ BHXH. Theo nghĩa hẹp, quỹ bảo hiểm xã hội là tập hợp những đóng góp băng tiền của những người tham gia bảo hiểm xã hội hình thành một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước để chỉ trả các chế độ bảo hiểm xã hội và các chi phi liên quan khác” khi bị giảm hoặc mắt thu nhập do bị giảm, mat kha năng lao động hoặc mất việc làm. Từ các quy định hiện hành, có thé thấy quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tiêu dùng đồng thời là một quỹ dự phòng, nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống bảo hiểm xã hội tồn tại và phát triển.
Quỹ bảo hiểm xã hội hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia với tong dự trữ ít nhất, giúp cho việc dan trải rủi ro được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm 1 Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013, Giáo frình Luật an sinh xã hội, NXB: Công an nhân dân, tr120 ?Lê Thị Hoài Thu, 2019, Giáo trinh pháp luật an sinh xã hội, NXB: Đại học Quoc gia Hà Nội, tr[ 16. tối thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm cho cả ngân sách nhà nước và ngân sách gia đình. Tại Khoản 4, Điều 3, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định: Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước. Cũng tại Khoản 4, Điều 5, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định Quỹ bảo hiểm xã hội phải được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch.
Quỹ được sử dụng đúng mục đích, hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần. Các quỹ thành phần của quỹ bảo hiểm xã hội gồm có: ° Quỹ 6m dau và thai sản. ° Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. ° Quỹ hưu trí và tử tudt.
Theo đó ta có thể hiểu quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, tập trung năm ngoài ngân sách Nhà nước. Quỹ có mục đích và chủ thé riêng. Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng dé chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi ro. Chủ thé của quỹ BHXH chính là những người tham gia đóng góp dé hình thành nên quỹ, do đó có thé bao gồm cả: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước.
Có thé dễ bị nhằm lẫn nếu không phân biệt quỹ BHXH với ngân sách Nhà nước. Ngân sách Nhà nước là tổng thê các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị của mình dé tập trung một phan thu nhập của quốc gia nhằm tạo lập quỹ tiền tệ của Nha nước (Ngân sách Nhà nước) và phân phối sử dụng quỹ ngân sách cho việc trang trải các chi phí bộ máy Nhà nước và thực hiện chức năng kinh tế xã hội theo kế hoạch của Nhà nước. Ngân sách nhà nước và quỹ BHXH có cùng bản chất, chức năng và có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tạo lập và sử dụng. Hoạt động của ngân sách và quỹ BHXH đều không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời.
Đặc điểm của quỹ bảo hiểm xã hội Thứ nhất, sự an toàn của quỹ bảo hiểm xã hội được Nhà nước đảm bảo. Quỹ BHXH là quỹ an toàn về tài chính nên sự an toàn của quỹ BHXH được Nhà nước đảm bảo. Điều này xuất phát từ tính chất quan trọng của quỹ đối với cuộc sông của NLĐ khi gặp phải những hoàn cảnh khó khăn dẫn đến suy giảm hoặc có thé mat khả năng lao động. Trong những lúc khó khăn như vậy, NLD luôn cần đến sự chi trả của quỹ BHXH.
Trường hop NLD không rơi vào hoàn cảnh ốm dau, sinh nở, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp thì mọi NLD đều hưởng đến quyền được chi trả lương hưu lúc về già khi họ đã mat khả năng lao động. Quỹ BHXH là nguồn lực vật chất không thể thiếu giúp dam bảo cho việc tô chức và thực hiện tốt các chính sách BHXH. Đề đối phó với những rủi ro mang tính ngẫu nhiên làm giảm hoặc mất khả năng lao động thì cần có một lượng tiền dự trữ đủ lớn được hình thành và sử dụng trong một thời gian nhất định trên cơ sở tính toán sử dụng đảm bảo trong phạm vi mức quỹ. Nếu quỹ bị mat cân đối, mat khả năng chi trả thì hiệu quả cũng như ý nghĩa của chính sách BHXH chắc chắn sẽ không đạt được.
Do đó, sự an toàn của quỹ BHXH được đặt ra cũng xuất phát từ tính chất quan trọng của quỹ trong hệ thống BHXH. Thứ hai, quỹ BHXH là quỹ mang tính tích lấy. Quy BHXH như một khoản tích lũy của người lao động phòng khi ốm đau, tuổi già, đó là công sức đóng góp của cả quá trình lao động của người lao động. Trong quỹ BHXH luôn tồn tại một lượng tiền tam thời nhàn rỗi ở một thời điểm hiện tại dé chi trả trong tương lai, khi người lao động đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết để được hưởng trợ cấp (chăng hạn như về thời gian và mức độ đóng góp BHXH).
10 Số lượng tiền trong quỹ có thể được tăng lên bởi sự đóng góp đều đặn của các bên tham gia BHXH và bởi thực hiện các biện pháp tăng trưởng quỹ. Thứ ba, quỹ BHXH là quỹ phi lợi nhuận, mang tính chia sẻ và tương trợ cộng đồng cao. Bảo hiểm xã hội là một lĩnh vực thuộc an ninh xã hội nên mang tính xã hội cao. Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của NSDLĐ, của NLD và được ngân sách nhà nước hỗ trợ.
Quỹ ra đời, ton tại và phát triển gắn với mục dich đảm bảo ồn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp các biến có, rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động. Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời. Thư tư, quy BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả. Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là dé chỉ trả trợ cấp cho người lao động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn đến mat hay giảm thu nhập.
Do đó, người lao động là đối tượng đóng góp đồng thời cũng là đối tượng được nhận trợ cấp. Tuy nhiên, thời gian, chế độ và mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau, điều đó phụ thuộc vào những rủi ro mà họ gặp phải cũng như mức độ đóng góp và thời gian tham gia BHXH. Tính không hoàn trả thê hiện ở chỗ, mặc dù nguyên tắc của BHXH là có đóng- có hưởng, đóng ít- hưởng ít, đóng nhiều- hưởng nhiều nhưng như vậy không có nghĩa là những người có mức đóng góp như nhau sẽ chắc chăn duoc hưởng một khoản trợ cấp như nhau. Trong thực tế, cùng tham gia BHXH nhưng có người được hưởng nhiều lần, có người được hưởng ít lần ( với chế độ ốm đau), thậm trí không được hưởng (với chế độ thai sản).
Thứ năm, quỹ BHXH là quỹ tiễn tệ tập trung, tôn tại trong thời gian dài, luôn vận động và có số dự tạm thời nhàn rồi lớn. Quỹ BHXH được tạo lập chủ yêu từ sự đóng góp, tham gia của NLD, NSDLD và có tính chất phân phối lại lao động giữa những người tham gia BHXH. Khoảng thời gian từ khi đóng BHXH đến khi hưởng các chế độ BHXH thường tương đối dài. Mặt khác, vì số 11 người tham gia BHXH đông nên quỹ BHXH có nguồn lực tài chính mạnh cùng với tính chất đóng trước hưởng sau nên quỹ luôn có nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi.
Vai trò của quỹ bảo hiểm xã hội Đối với người lao động, quỹ BHXH góp phan 6n định đời sống của NLD tham gia BHXH, họ sẽ được thay thế hoặc bù dap một phần thu nhập khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc chết. Nhờ có sự thay thế, bù đắp kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng những tốn thất về vật chất, tinh thần, nhanh chóng phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống. BHXH chỉ thực sự có ý nghĩa kinh tế khi những thiếu hụt về thu nhập của NLD và gia đình họ được bù dap theo quy định của pháp luật. Đối với người sử dụng lao động, khi NSDLD tham gia quỹ bảo hiểm xã hội không những thể hiện trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ, đồng thời còn thê hiện lợi ích của NSDLD bởi đóng góp một phan BHXH cho NLD, NSDLĐ sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chỉ ra một khoản tiền lớn khi CỐ rui ro xảy ra với người lao động của mình, giảm bớt được những tranh chấp xảy ra.
Thông thường phần đóng góp này được xác định dựa trên quỹ lương của đơn vi, doanh nghiệp. Đối với nén kinh tế, xã hội, quỹ BHXH góp phan đảm bảo an toàn, bình ồn nền kinh tế. Dé phòng ngừa, hạn chế tổn that, các đơn vị kinh tế phải dé ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người lao động phải tuân thủ.