Chương 1: Một số van dé lý luận về BHXHTN Chương 2: Pháp luật hiện hành về BHXHTN ở Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về BHXHTN ở Việt Nam CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE BAO HIEM XA HOI TU NGUYEN 1.1 Khái niệm và sự cần thiết khách quan của việc ban hành bảo hiểm xã hội tự nguyện 1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXH là một lĩnh vực quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến đông đảo người lao động trong xã hội. Mặc dù BHXH đã hoạt động hàng trăm năm nhưng cho đến nay các khái niệm về BHXH vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Vì thế, dé đưa ra khái niệm BHXH nói chung các nhà nghiên cứu lập pháp đã tiếp cận theo ba góc độ: kinh tế, chính trị - xã hội, pháp lý. Từ đó BHXH được hiểu như sau: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mat khả năng lao động hoặc mat việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phan bao đảm an toàn xã hội” [24,tr.
BHXH có hai hình thức là BHXHBB và BHXHTN. BHXHIN là một loại hình tồn tại song song, bỗ trợ cho BHXHBB và mang những đặc điểm của BHXH nói chung. Tuy nhiên, BHXHTN còn là vấn đề mới mẻ ở Việt Nam cả về phương diện lý luận và thực tiễn cho nên để có cách nhìn tương đối toàn diện về BHXHTN, trước hết cần xem xét khái niệm BHXHTN dưới các góc độ như BHXH nói chung đó là: góc độ kinh tế, chính trị, xã hội và pháp lý. a) Dưới góc độ kinh tế: BHXHTN là một phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự bảo đảm thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi bị giảm hoặc mắt khả năng lao động, mắt việc làm hoặc những rủi ro khác [39,tr.5] Người lao động không thuộc diện BHXHBB phần lớn có thu nhập không ồn định, khả năng kinh tế rất thấp cho nên khi họ gặp phải những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống như tai nạn lao động, bệnh tật.hoặc đến lúc về già thì nguôn thu nhập đó bị mất hoặc giảm.
Đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường còn làm xuất hiện một số rủi ro mới như mat việc làm, thất nghiệp. Chính vì vậy, dé ôn định cuộc sống người lao động phải tìm các biện pháp đảm bảo thu nhập cho chính mình trong những trường hợp rủi ro nói trên. Người lao động hoặc là phải có một lượng vật chất (tiền tệ) đủ lớn nào đó ngay một lúc hoặc phải tích lũy dần từ trước để khi xây ra “rủi ro” sẽ sẵn sàng có khả năng trang trải và bù đắp cho những tổn thất đó. Tuy nhiên cách dự trữ cá nhân có nhiều hạn chế bởi vì nếu đòi hỏi phải có dự trữ lớn ngay một lúc thì nhiều người không có khả năng, còn nếu tích lũy dan thì khi rủi ro xây ra sớm hoặc xây ra nhiều lần thì không đủ đẻ trang trải.
Do đó một trong các biện pháp là tham gia BHXHTN. Lúc này sẽ có số đông người cùng tham gia và dễ dàng tạo ra một lượng tiền lớn dé bảo dam đủ trang trải các chi phi cho một cá nhân hoặc một số cá nhân bị rủi ro. Với cách làm nay. từng cá nhân chi can đóng góp một khoản tiền trong thu nhập cho cơ quan bảo hiểm do Nhà nước tô chức ra.
mà khoản đóng góp nay không ảnh hưởng lớn đến đời sông hoặc sản xuất kinh doanh của cá nhân. Nếu rủi ro xây ra. bằng hình thức lấy của số dong bu cho số ít người bị thiệt hại, co quan bao hiém sẽ giúp giảm tối thiêu thiệt hại kinh tế của từng cá nhân tiết kiệm nguồn chi của ngân sách Nhà nước. khi có nhiều cá nhân tham gia bảo hiểm thì lượng dự trữ vật chất của quỹ bảo hiểm sẽ rất lớn, trong đó lượng tiền nhàn rỗi của quỹ sẽ được dùng vào việc kinh doanh trên các lĩnh vực khác nhau.
Như vậy, BHXHTN mặc dù đã phản ánh đầy đủ bản chất kinh tế và đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi họ gặp phải những sự kiện rủi ro nhưng BHXHTN được nhìn nhận khác hắn so với loại hình bảo hiểm khác. Thực tế cũng xuất hiện những cơ chế chia sẻ rủi ro mang tính thị trường như ký kết các hợp đồng bảo hiểm nhưng đây là hình thức kinh doanh theo nguyên tắc người kinh doanh phải có lợi nên không phải cá nhân nào cũng có khả năng tham gia. Đối với những người có thé tham gia cơ chế này thi quan hệ của các bên hình thành trên cơ sở tự nguyện do luật dân sự, luật thương mại điều chỉnh. Tuy nhiên, việc khắc phục rủi ro cho những người tham gia loại bảo hiểm này chủ yếu mang tính cá thé, tác dung xã hội của hình thức này rất thấp, còn BHXHTN lại có tác dụng xã hội rat lớn.
b) Dưới góc độ chính trị - xã hội: BHXHTN là một phạm trù xã hội, thuộc hệ thống các chính sách xã hội, là biện pháp nhằm góp phần đảm bảo an ninh xã hội.6] Trong quá trình lao động, con người luôn chịu sự tác động của các quy luật khách quan, của các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội. Những tác động nhiều khi có thể biết trước nhưng cũng nhiều khi diễn ra một cách ngẫu nhiên mà con người không thể đự đoán. Khi đó, chúng trở thành những lực lượng không kiểm soát noi, có sức gây tác hại to lớn đối với sinh mạng hoặc điều kiện sống của con người và của cải do con người tạo ra. Khi rơi vào những trường hợp rủi ro trên các nhu cầu thiết yếu của con người không những không giảm đi mà còn tăng thêm những nhu cầu mới cần thỏa mãn: khắc phục khó khăn về kinh tế, chữa bệnh, an dưỡng tuổi già.Do đó nảy sinh những vấn dé mang tính xã hội là làm sao vẫn đảm bảo được thu nhập dé thỏa mãn yêu cầu của cuộc sống khi có rủi ro xây ra.
Các nhà nghiên cứu chính sách xã hội gọi đó là nhu cầu BHXH. BHXHTN đã có tác dụng xã hội to lớn đó là: một mặt, nhờ có sự san sẻ rủi ro giữa các cá nhân và don vị tham gia BHXHTN nên nhiều thiệt hại về người và của đã được trợ giúp trang trải, bù đắp, làm cho đời sống xã hội không bị xáo trộn, sản xuất không bị đình trệ. Mặt khác, khi người lao động về hưu hoặc bị mat thì nguồn thu nhập của họ bị giảm sút hay mat han, ho sẽ được bu dap phan thiểu hụt đó từ quỹ BHXHTN. Như vậy, tính xã hội trong BHXHTN được hiểu là sự đồng nhất về phương thức đóng -hưởng và điều tiết xã hội trong phạm vi cả nước và do Nhà nước đứng ra chịu trách nhiệm.
Đồng thời tính xã hội của BHXHTN còn thé hiện ở chỗ không có sự phân biệt đối với người lao động thuộc các thành phan kinh tế khác nhau thuộc các loại hình lao động khác nhau (lao động phụ hay lao động tự do). Tuy nhiên BHXHTN chỉ là một bộ phận trong nội dung của hệ thông bảo đảm xã hội bởi vì theo định nghĩa của Tô chức lao động quốc tế (ILO): “Bao đảm xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng dé đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội đo bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập gây ra bởi ốm đau, mat khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và việc trợ cấp cho các gia đình đông con”(3,tr. 12] Để hiệu rõ hơn về BHXHTN cần phải phân biệt BHXHTN với những bộ phận có liên quan thuộc bảo đảm xã hội như cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội và bảo hiểm thương mại. Với cứu trợ xã hội: xét về mặt tài chính người được trợ cấp hoàn toàn không phải đóng góp còn BHXHTN thì phần lớn là do sự đóng góp của người tham gia bảo hiểm.
Xét về mặt tính chất trợ cấp thì trợ cấp cứu trợ xã hội 1a tức thời, không én định vì phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước, vào khả năng của cộng đồng hoặc lòng từ tâm của những cá nhân trong xã hội còn trợ cấp BHXHTN là chắc chắn ổn định vì mọi trợ cấp đều do quỹ BHXHTN chỉ trả bởi quỹ BHXHTN được thành lập bằng tiền tệ, có kế hoạch cân đối thu chi lâu dài. Nếu như trợ cấp cứu trợ xã hội chỉ nhằm trợ giúp khi đối tượng lâm vào cảnh khó khăn, túng quan thực sự thì trợ cap BHXHTN lại nhằm bù dap những thiếu hụt khi đối tượng gặp phải các trường hợp tạm thời hoặc vĩnh viễn mat khả năng lao động. Với ưu đãi xã hội: đối tượng ưu đãi xã hội là những người có công với chế độ, đối với nhân dân như liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, anh hùng, những người tham gia cách mạng bị tù đày, thân nhân của liệt sỹ, những người có quá trình tham gia kháng chiến còn đối tượng của BHXHTN là những người lao động. Nếu như trợ cấp của ưu đãi xã hội ngoài mục đích bảo đảm ổn định cuộc sống còn nhằm suy tôn công trạng của đối tượng, cỗ vũ phát huy truyền thống hy sinh cống hiến cho cộng đồng khi đất nước bị lâm nguy hoặc tính mạng, của cải của Nhà nước, của nhân dân bị đe dọa thì trợ cấp BHXHTN chỉ nhằm bao đảm dé người lao động én định cuộc sống khi gặp khó khăn, hiểm nghèo.
Với bảo hiểm thương mại: tính chất chủ yếu của bảo hiểm thương mại là kinh doanh, lợi nhuận là sống còn, ngược lại BHXHTN mang tính chất chủ yếu là xã hội. Qua việc phân tích những sự khác biệt căn bản giữa BHXHTN với ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội, bảo hiểm thương mại cho thay đây là những bộ phận góp phần vào bao dam an ninh xã hội đồng thời xác định BHXHTN là bộ phan quan trọng nhất, là tảng thứ nhất của bảo đảm xã hội. Với phạm vi và đối tượng áp dụng rộng lớn, với hệ thông trợ cấp toàn diện, BHXHTN thực sự phục vụ đời sống con người. góp phản bảo đảm cho xã hội an toàn và phát trién.