phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương: Chƣơng 1 - Một số vấn đề chung về LĐTE và các công ước quốc tế về LĐTE. Chƣơng 2 - Thực trạng vấn đề LĐTE ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam khi tham gia các công ước quốc tế về LĐTE trong điều kiện hội nhập quốc tế. Chƣơng 3 - Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về LĐTE trong điều kiện hội nhập quốc tế. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM VÀ CÁC CÔNG ƢỚC QUỐC TẾ VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM 1.
Khái niệm trẻ em, LĐTE và pháp luật về trẻ em 1. Trẻ em Trong khoa học, trẻ em được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thể. Trong triết học, trẻ em được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển xã hội. Con người sáng tạo ra lịch sử và trẻ em là con đẻ của thời đại, của xã hội.
Trong mọi thời đại, tương lai của một quốc gia, dân tộc đều tùy thuộc vào việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em. Trong xã hội học, xác định trẻ em là người có vị thế, vai trò xã hội khác với người lớn. Điều này thể hiện ở chỗ trẻ em được xã hội quan tâm tạo điều kiện sinh thành, bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc để phát triển thành người lớn. Trẻ em là người chưa đạt tới sự trưởng thành về thể chất cũng như về tinh thần để được coi là người lớn.
Trong tâm lý học, khái niệm "Trẻ em" được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý - nhân cách con người. Các nhà tâm lý học rất quan tâm nghiên cứu sự phát triển tâm lý của trẻ em trong độ tuổi từ lúc lọt lòng đến tuổi dậy thì. Dưới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em thường được tiếp cận theo “độ tuổi”. Điều đó có nghĩa là một cá nhân có thể được coi là người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào năm sinh của người đó tại thời điểm xác định.
Độ tuổi trẻ em được xác định tùy theo mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa - xã hội cụ thể. Các tổ chức của Liên hợp quốc, như Quỹ dân số (UNFPA), tổ chức lao động quốc tế (ILO), tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi. Điều 1, Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 xác định “ Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Điều 2 Công ước số 182 của Tổ chức lao động quốc tế ban hành năm 1999 (Việt Nam gia nhập ngày 19/12/2000) 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng quy định “Trong Công ước này, thuật ngữ „trẻ em” sẽ áp dụng cho tất cả những người dưới 18 tuổi”.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, hầu như chưa có một định nghĩa nào về trẻ em cũng như về sự điều chỉnh pháp luật đối với trẻ em mà chỉ có một số ngành luật nhắc đến các khái niệm trẻ em, người chưa thành niên (NCTN) và các quy định này không thống nhất giữa tất cả các ngành luật. Theo quy định tại Điều l, Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 1991 (sửa đổi, bổ sung năm 2004): “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Còn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định tuổi nuôi con nuôi là từ 15 tuổi trở xuống (Điều 34). Trong khi đó, Bộ luật hình sự năm 1999 lại quy định người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Và Bộ luật lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007) lại quy định người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi (Điều 119) còn khái niệm trẻ em được hiểu là người chưa đủ 15 tuổi (Điều 120). Bên cạnh đó, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2008 lại quy định tuổi chịu trách nhiệm hành chính “là người từ đủ 14 tuổi trở lên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính”. Từ đó, có thể hiểu khái niệm trẻ em bao gồm cả NCTN hay cũng có thể hiểu rằng NCTN cũng bao gồm cả trẻ em và đều 1à những người ở độ tuổi dưới thành niên (dưới 18 tuổi). Như vậy, trẻ em trước hết là một con người được hưởng mọi quyền và mọi tự do đã được nêu ra trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào vì chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc mối tương quan khác.
Nhưng trẻ em lại là người chưa trưởng thành nên có quyền được chăm sóc sự sống, tồn tại, phát triển, được bảo vệ và được bày tỏ ý kiến. Lao động trẻ em Theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), khi tỡm hiểu khỏi niệm lao động trẻ em ngoài việc xem xột ở góc độ độ tuổi, còn phải được tiếp cận từ góc độ tính chất công việc mà chủ thể phải làm: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Về độ tuổi: trẻ em là nguời dưới 18 tuổi; - Về tính chất công việc, lao động trẻ em bao gồm những công việc có ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện của trẻ em. Với cách lập luận như trên, ILO cho rằng “Lao động trẻ em là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em (những người dưới 18 tuổi) phải trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia làm những công việc nặng nhọc, độc hại hay nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc phải làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ, khiến các em không có thời gian cần thiết để học tập và vui chơi”, [33, 40]. Ở nước ta, tính đến thời điểm này chưa có khái niệm thống nhất về LĐTE.
Bộ luật lao động của Việt Nam quy định người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên và lao động dưới 18 tuổi là lao động chưa thành niên mà không chỉ rõ như thế nào là LĐTE. Hơn nữa khái niệm người chưa thành niên được sử dụng khá nhiều trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam như: Bộ luật Dân sự (Điều 20), Bộ luật Hình sự (Điều 68) đều quy định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Điều 6, Bộ luật Lao động quy định “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động”. Điều 119, Bộ luật Lao động quy định “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”.
Điều 120, Bộ luật Lao động quy định “Cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định”. Như vậy, nếu căn cứ vào các quy định của Bộ luật lao động và Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em thì có thể hiểu rằng, lao động trẻ em là những người dưới 16 tuổi phải tham gia hoạt động để tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của mình. Theo đó, khái niệm lao động trẻ em ở Việt Nam là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em (những người dưới 16 tuổi) phải trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia làm những công việc nặng nhọc, độc hại hay nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc phải làm việc quá nhiều 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hay ở độ tuổi quá nhỏ, khiến các em không có thời gian cần thiết để học tập và vui chơi. Trong phạm vi luận văn, tác giả sử dụng khái niệm lao động trẻ em với nội hàm và ngoại diên nêu trên.
Khi nghiờn cứu về LĐTE cần phõn biệt giữa LĐTE với trẻ em tham gia làm việc. Đây là khái niệm đề cập đến những trẻ em làm các công việc có thể chấp nhận được, bao gồm các hoạt động không làm hại tới và có thể góp phần vào sự phát triển lành mạnh của trẻ, những công việc này mở ra những cơ hội trong cuộc sống và tạo cho trẻ những kinh nghiệm mới mẻ. Thực tế cho thấy, hoạt động lao động (không mang tính bóc lột) đóng vai trò quan trọng đối với chính sự phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách của trẻ. Giáo dục học, tâm lý học và các khoa học có liên quan đều chỉ ra rằng lao động được tổ chức một cách khoa học, phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi là con đường, là cơ chế và là nhân tố phát triển thể chất, năng lực tư duy và đời sống tình cảm của trẻ em.
Chủ tịch Hồ chí Minh đã từng nhắn nhủ “tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuỳ theo sức của mình”. Trẻ em tham gia làm việc có sự khác biệt so với lao động trẻ em như sau: Trẻ em tham gia làm việc (child work) Lao động trẻ em (child labour) Công việc phù hợp với độ tuổi, khả năng, Công việc quá sức, quá nặng nhọc đối với tuổi thể chất và trí tuệ của trẻ em. và khả năng của trẻ. Được người lớn chăm sóc và chịu trách Trẻ em lao động dưới sự giám sát của những nhiệm giám sát.
người lớn lạm dụng. Thời gian làm việc hạn chế, không cản trở Làm việc nhiều giờ, trẻ em bị hạn chế hoặc trẻ em đến trường, vui chơi và nghỉ ngơi. không có thời gian đi học, vui chơi và nghỉ ngơi. Nơi làm việc an toàn và có môi trường bạn Nơi làm việc độc hại đến sức khoẻ và cuộc bè thân thiết, không độc hại tới sức khoẻ va sống của trẻ em.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cuộc sống của trẻ em. Môi trường làm việc góp phần nuôi dưỡng Trẻ em dễ bị lạm dụng về tinh thần, thể chất và và phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ và tình dục. tinh thần của trẻ em. Trẻ em làm việc tự nguyện để tham gia Hoàn cảnh bắt buộc.
trách nhiệm trong việc duy trì công việc và phát triển sản xuất của gia đình, tăng thu nhập gia đình. Trẻ em được bù đắp về tinh thần và thể Trẻ em bị hạn chế hoặc không được khuyến chất. khích về tinh thần và vật chất.