Chương 1: Một số van dé lý luân về Bảo hiểm thất nghiệp vả pháp luật Bao hiểm thất nghiệp. Chương 2: Thực trạng pháp luật về Bão hiểm thất nghiệp va thực tiến thực hiện tại thánh phố Ha Nội Chương 3: Phương hướng ,giãi pháp nhằm hoản thiện pháp luật vé bảo ‘hiém thất nghiệp NỘI DUNG (HUONG 1. MỘT SỐ VAN DE LÍ LUẬN VE BẢO HIỂM. THAT NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VE BẢO HIEM THAT NGHIỆP.
Một số vấn đề lý luận của Bảo hiểm thất nghiệp. Khái niệm bảo hiểm that nghiệp Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Việc lam năm 2013 BHTN được hiểu nhu sau: “Bão hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phan thu nhập của. người lao động khi bị mắt việc lam, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc lam, tìm việc lâm trên cơ sở đóng vào Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp.” BHTN được hiểu là biện pháp hay giải pháp để nhằm mục đích giúp người lao đông khắc phục tinh trang thất nghiệp, trợ giúp kip thời cho những người thất nghiệp không có công an việc làm trong thời gian nghĩ việc ma chưa tim được việc lam và tạo cơ hội cho họ học nghé, tìm kiếm công việc mới ‘Theo quy định pháp lý, thi chế độ BHTN chính la là tat cả các quy pham. pháp luật quy định việc đồng góp va sử dung quỹ BHTN, chỉ trả một khoăn trợ cấp thất nghiệp dé bù dap thu nhập cho người lao động nghỉ việc, bị mat việc lam va thực hiện các biện pháp, giải pháp hỗ trợ tìm kiếm việc lam người.
thất nghiệp tré lại làm việc. Ban chất của bảo hiém thất nghiệp Co thé nói, BHTN la một bộ phan cau thanh không thể tách rời trong hệ thống các chế độ BHXH noi riêng và ASXXH nói chung, Xét về bản chất , BHTN cũng giống như BHXH, đều thể hiện ban chất kinh tế va ban chất xã hội. Về bản chất kinh tế, BHTN mặc du không nhằm. mục dich kinh doanh, lợi nhuận, nhưng vẫn mang bản chất kinh tế qua chức năng phân phối lai thu nhập xã hội.
Khi gấp khó khăn, rồi ro, biển cổ trong việc làm dẫn dén thu nhập bị mắt, đối tượng bị thất nghiệp cần một khoản tiền hoặc phương tiện để trang trét vả bi đấp lại những tén thất. với khoản trợ cấp của minh sẽ là các khoản thay thé thu nhập đã mat. Thực chất, đây là sự phân phối lại thu nhập trong xã hội. Nguồn quỹ BHTN hình thành từ su đóng góp của số đồng người tham gia, nhưng chi những người thỏa mãn điều kiện được tra trợ cấp mới là đối tượng được hưởng.
Vẻ tinh xã hội của BHTN, nó luôn tổn tại den xen với tính kinh tế, bỡi lẽ BHTN la sự tập hop có tổ chức của các thành viên trong xã hội để hình thành nên quỹ BHTN, nhằm chống lai những biển cổ, rủi ro của các cá nhân khi tham gia vào quan hệ lao động, Nó mang tính tương trợ của cộng đồng đôi với cá nhân bị that nghiệp, những khó khăn sẽ được chia sẽ, dan trai trên phạm vi rông, giúp NTN khắc phục những trở ngại trước mắt. Bảo hiểm thất nghiệp được. thực hiện trên nguyên tắc “lay số đông bù cho số it”, người lao đồng chỉ cản. đóng một khoăn nhỏ thu nhập của mảnh cho quỹ BHTN, nhưng xã hội sẽ có một lương vật chất đũ lớn để trang trai những rồi ro xảy ra, đây chính la bản chất xã hội của BHTN nói riêng vả BHXH nói chung.
Tuy nhiên, bên canh việc mang trong minh những đặc điểm chung của BHXH thì BHTN còn mang những nét riêng nhất định - Về đổi tượng áp dung: Đối tượng áp dung của BHTN là những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động, bị mắt việc làm nhưng luôn sẵn sảng trở lại thi trường lao đồng trong khi đối tương áp dụng của BHXH thì đối tượng hướng trợ cấp còn có thể lé những người đang làm việc, đã về hưu, - mục đích: BHTN được coi là phương án hỗ trợ một phan tai chính bị mắt đi trong thời gian nhất định sau khi NLD bị mất việc lam, giúp ho én định cuôc sông, song song với đó là giúp họ sớm tiếp cận được với việc lâm mới thông qua các hoat động tư van, giới thiêu việc lam, hô trợ đảo tao, học nghệ, nâng cao tay nghé,. Trong khi đó, mục dich lớn nhất của BHXH 1a bù đắp thu nhập cho NLD khi ho gặp rũi ro trong lao đồng hoặc phải ngừng lao động - Vé hình thức hưởng BHTN không đơn thuần như các hinh thức BHXH là chỉ có hoạt động thu va chỉ trả khoăn tiên bảo hiểm Các hoạt đông có liên quan đến BHTN còn bao gồm môi giới, giới thiệu việc làm, đào tao mới hoặc đảo tạo lại nghề, tư vẫn hành nghé, hỗ trợ doanh nghiệp nhân NTN vao làm việc, "Như vay, tuy là một phản của BHXH nhưng BHTN còn mỡ rộng hơn. khả năng không chế va khắc phục hâu quả đi với các van dé rủ ro, vừa đầm bảo cuộc sống cơ bản cho lao động mắt việc làm, vừa hỗ tro một cách tích cực cho NLD va doanh nghiệp 1.3 Ý nghĩa của bảo hiểm thất nghiệp Từ những đặc điểm trên, có thé thay BHTN đóng gop rat lớn vào việc đâm bảo mục tiêu ASXH va phát triển kinh tế, chính trị của mỗi quốc gia. + BHTN góp phần giải quyết tam thời các khó khăn về tài chính cho NIN, giúp lọ sớm tim được việc làm Mất việc làm là điều không ai mong muốn, nó gây ra rat nhiễu hệ qua xâu cho bản thân NLD vả ảnh hưỡng tới gia đính họ.
Đặc biệt, đổi với những trường hop NTN là lao đồng chính trong gia đỉnh thì việc mất di khoản thu nhập hàng tháng khiến cho đời sing vật chất trở nên rat khó khăn. Chính vi vay, sự chia sẽ của công đồng xã hội thông qua BHTN sẽ la phương tiên giúp cuộc sống của họ bớt áp lực, tạo điều kiện để họ vững tâm tìm công việc mới chính đáng, phù hợp với kha năng của mảnh. Bên cạnh việc trao cho họ một mức trợ cấp hàng tháng, các chỉnh sách BHTN còn hé trợ cho NTN trong việc đảo tao nghề, từ vẫn, giới thiêu việc làm. Như vay, việc tham gia ding gop 10 BHTN được coi la một hoạt động chủ đông phòng chống rồi ro trong tương Jai cho bản thân va chia sẽ rũi ro với công đẳng.
+ BHTN góp phân phát triển xã hội hài hòa về mặt lợi ích giữa NLD và NSDL2. Để thoát khỏi gánh năng của van dé that nghiệp, nhiều lao đông đã phải chấp nhân làm những công việc không phù hợp với trình độ, khả năng của ‘minh với mức thu nhập không xứng đáng, làm vic trong môi trường làm việc độc hại và điều kiên lao động không đảm bảo, Điều đó vô hình chung gây ra thiệt thoi cho bản thân lao động, lãng phí nguồn nhân lực của thi trường kinh tế, lam cho thị trường lao động phát triển một cách không cân đổi. Hiện tượng đó dẫn đến sự bắt đổi xứng trong quan hệ cung cẩu lao đông mà bên hưởng lợi hơn là bên NSDLĐ. Các chính sách của BHTN giúp NLD ngăn ngừa sii ro, hạn chế các tác động tiêu cực trong thời gian lao động mất việc lam, không phải vôi vàng lựa chọn những công việc mà ho cảm thay không phù hop.
Đôi với NSDLĐ, khi tham gia BHTN, bên cạnh việc rằng buộc trách nhiệm chia sẽ rũi ro với NLD không may mắt việc lâm, họ sẽ còn không phải chi trả một khoản chỉ phí lớn cho việc giải quyết chế 46 cho NLD khi ho mắt việc làm Mất khác, các chính sách BHTN cung cấp các thông tin, tư vẫn giúp kết nổi cho người cén việc làm và người can lao động tim thay nhau, từ đó hiệu quả lao động tạo ra cao hơn. + BHTN thé hiện vai trò của Nhà nước trong việc tao ra môi xã hội nhiên văn, giảm thiéu sự bắt công và các tê nan xã lội: BHTN không chỉ hỗ trợ những thiểu hụt vé tải chính cho NLD trong thời gian mắt việc mà còn là một chính sách ASXH của mỗi quốc gia. Với nhu cầu. bảo vệ quyển, lợi ích hợp pháp của NLĐ, đòi hỏi nha nước phải có sự can thiệp, điều tiết nhất định, cân đổi mức phí cin đóng đảm bảo người có thu nhập cao đóng cao, người có thu nhập thâp đóng thấp, thậm chi xem xét miễn " đóng cho người có thu nhập quá thấp, tránh tỉnh trang cảo bang.
Việc chuyển một phan ngân sách nha nước vào quỹ BHTN chính la một trong những giải pháp bảo dim ASXH nói trên Khi tham gia BHTN, không chỉ có NLB được hỗ trợ mi NSDLĐ va Nha nước cũng giảm bớt gánh néng tải chính khi xảy ra sự kiện bão hiểm Với quy định nay, NLD tham gia BHTN vừa thể hiện trách. nhiệm với bản thân mình, vừa thể hiện trách nhiệm với công đồng NSDLĐ đóng phí bảo hiểm thể hiện trách nhiệm của mình với người đã cổng hiền, góp phân tăng hiệu quả sử dung lao động, còn nhà nước đóng thể hiện chức năng xã hội, chức năng quản lý xã hồi. Mắt việc làm có tác động rất lớn dén tâm lý của người lao động Nó la một trong những nguyên nhân tạo diéu kiện cho các tệ nạn như cờ bạc, trộm cắp, cướp giật, lita dao, mại dâm,. phát triển + BHTN thé hiện sự tiễn bộ.
hoàn chỉnh trong hệ thông pháp luật: "Trong xu thé toan cầu hóa hiện nay, thé giới dang dẫn hội nhập trên moi phương diện, trong dé bao gồm cả yếu tổ pháp luật. Năm 1992, Việt Nam chúng ta chính thức quay trở lại tham gia vào ILO va ngày càng mỡ rộng quan hệ với các nước thanh viên trong Tổ chức nay trong các lĩnh vực lao động, việc làm. Cũng từ đó, các chính sich được ban hành có liên quan đến những van dé trên được sửa đổi, bo sung để thích nghỉ kip thời với diễn biến kinh tế, xã hội trong nước va phủ hợp với sự phát triển của pháp luật thể giới. Sự ra đi các quy định có liên quan đến BHTN trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia là thể hiện sự tôn trọng quyển con người cơ bản Quyển được hưởng BHXH 1a một trong những quyển cơ bản ma con người được nhân, được ghi nhận rất rõ trong Tuyên ngôn vé nhân quyền của Liên hợp quốc thông qua năm 1948.
La một phân không thể thiếu trong tổng thể các chính sách BHXH, BHTN cũng cén được dam bao.