CHƯƠNG 1. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LUẬT QUỐC TẾ VÀ NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ Mục tiêu cần đạt được của chương: - Phân biệt được công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế, hiểu được bản chất của môn công pháp quốc tế là luật quốc tế. - Nắm được nguồn gốc hình thành và pháp triển của hệ thống pháp luật quốc tế nói chung và luật quốc tế hiện đại nói riêng. - Nắm được định nghĩa, đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
- Xác định được các vấn đề cơ bản liên quan đến nguồn của luật quốc tế. - Nêu và phân tích được vai trò và tầm quan trọng của các nguồn cơ bản của luật quốc tế. - Xác định được các nguồn bổ trợ của luật quốc tế, thứ tự áp dụng các nguồn này trong quan hệ pháp lý quốc tế. Khái quát chung về luật quốc tế 1.
Nguồn gốc hình thành và phát triển của luật quốc tế Trên cơ sở chủ nghĩa Mac-Lenin, khẳng định, sự ra đời của nhà nước và pháp luật là một hiện tượng khách quan, là sản phẩm tất yếu của một xã hội có giai cấp. Chính vì vậy, lịch sử hình thành của pháp luật quốc tế cũng không nằm ngoài quy luật phát triển chung của nhà nước và pháp luật 1. Bởi lẽ, nếu không có sự hình thành của nhà nước và pháp luật của mỗi quốc gia sẽ không có sự hình thành và phát triển của luật pháp quốc tế. Xét trên phương diện lịch sử, việc hình thành hệ thống pháp luật quốc gia là tiền đề cho sự ra đời, và phát triển của hệ thống pháp luật quốc tế.
Chính sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật ở các khu vực địa lý khác nhau trên thế giới 1 Nguyễn Minh Tuấn, Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, 2016, trang 40 - 41. Lê Thị Xuân Phương Tieu luan đã làm phát sinh nhu cầu liên kết, hợp tác giữa các quốc gia nhằm thiết lập một mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia và hình thành một trật tự chung để giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến các vấn đề như: phân định biên giới, lãnh thổ; trao đổi hàng hóa; giải quyết các vấn đề về chiến tranh và hòa bình,. Đây là những tiền đề quan trọng làm cơ sở cho sự hình thành và phát triển hệ thống các quy tắc ứng xử giữa các quốc gia với nhau, hay nói cách khác luật quốc tế hình thành và phát triển là một tất yếu khách quan của lịch sử, là một sản phẩm của xã hội có giai cấp và gắng liền với sự hình thành, tồn tại và phát triển của nhà nước và pháp luật nói chung.2 Tóm lại, có thể khẳng định rằng, nguồn gốc xuất hiện của hệ thống pháp luật quốc tế chính là nguồn gốc xuất hiện của nhà nước và pháp luật quốc gia. Có thể khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật quốc tế qua 04 giai đoạn sau đây: (1) Luật quốc tế thời cổ đại Luật quốc tế thời cổ đại hay còn gọi là luật quốc tế thời kỳ chiếm hữu nô lệ được hình thành đầu tiên tại khu vực Lưỡng Hà và Ai Cập, nơi hình thành hai nền văn minh của thế giới vào khoảng thế kỷ thứ XL (40) đầu thế kỷ thứ XXX trước công nguyên.
Tiếp theo đó, luật quốc tế được hình thành ở một số nền văn minh khác của thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc ở Phương Đông hay Hy Lạp, La Mã ở Phương Tây,. Có thể kể đến một trong những văn bản pháp lý quốc tế được hình thành sớm nhất trên thế giới là hiệp ước giữa những người cai trị Lagash và Umma (khu vực Lưỡng Hà) vào khoảng năm 2100 Trước công nguyên về phân định biên giới giữa các bên.3 Trong giai đoạn này, luật quốc tế được hình thành trên nền tảng kinh tế thấp kém, mối quan hệ giữa các quốc gia yếu ớt và rời rạc, bị cản trở bởi các điều kiện tự nhiên và phát triển xã hội còn nhiều hạn chế nên luật quốc tế thời kỳ này chủ yếu mang tính khu vực, khép kín, tồn tại chủ yếu dưới dạng các luật 2 Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2010, trang 18. 3 Malcolm Shaw, International law, Cambridge University Press, Sixth edition, p14. Lê Thị Xuân Phương Tieu luan lệ, tập quán về chiến tranh và phân định lãnh thổ.
Nhìn chung, trong thời kỳ này, khoa học luật quốc tế chưa được hình thành. Tuy nhiên việc xuất hiện của một số chế định cũng cho thấy sự tiến bộ trong nên lập pháp thời kỳ cổ đại. Có thể kể đến như: tính nhân đạo trong việc quy định cấm dùng thuốc độc và vũ khí tẩm thuốc độc khi đánh nhau tại vùng La Mã, Hy Lạp, hay quy định “hai nước giao tranh không giết sứ giả” giữa Trung Quốc và một số quốc gia trong khu vực. (2) Luật quốc tế thời kỳ trung đại Luật quốc tế trong thời kỳ này phản ánh tính chất phức tạp và vô cùng đa dạng của xã hội phong kiến, luật quốc tế trong thời kỳ này cũng mang bản chất phong kiến, phần lớn thể hiện ý chí của giai cấp thống trị.
Trong thời kỳ này, việc phân quyền, cát cứ và chiến tranh xảy ra liên miên, cùng với đó tôn giáo ngày càng phát triển mạnh và ảnh hưởng sâu sắc đến các mối quan hệ và nền tảng xã hội. Chính vì vậy, tôn giáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hình thành các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia. Cũng trong thời kỳ này, nền kinh tế của các quốc gia có sự phát triển hơn so với giai đoạn trước, chính vì vậy nhu cầu trao đổi hàng hóa đã vượt tra khỏi khuôn khổ khu vực, bước đầu hình thành tính liên khu vực, liên quốc gia trong quan hệ quốc tế. Một số trung tâm luật quốc tế đã được hình thành tại Châu Âu, Nga, Tây Nam Địa Trung Hải, Ấn Độ, Trung Hoa.
Khoa học luật quốc tế trong thời kỳ này cũng được hình thành với sự xuất hiện của nhiều học giả tiêu biểu với các tác phẩm pháp lý quốc tế quan trong làm tiền đề cho sự phát triển của một số nguyên tắc, chế định pháp lý quốc tế hiện tại. Có thể kể đến các tác phẩm của Hugo Grotius, cha đẻ của Luật quốc tế như: De Jure Belli ac Pacis (1625, Về quy luật của Chiến tranh và Hòa bình); Mare Liberum (1609, Về Tự do biển cả).4 (3) Luật quốc tế thời kỳ cận đại 4 Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2010, trang 21 - 22. Lê Thị Xuân Phương Tieu luan Trong thời kỳ này, luật quốc tế có sự phát triển đáng kể, vượt ra ngoài khuôn khổ khu vực và liên khu vực và hướng đến việc xây dựng các trật tự chung của thế giới. Luật quốc tế trong giai đoạn này có sự phát triển rực rỡ, trong đó, phải kể đến sự ra đời của các nguyên tắc mới về luật quốc tế như: nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, … Luật quốc tế trong giai đoạn này cũng phát triển trên 02 phương diện: luật thực định và khoa học pháp lý quốc tế.
Đáng chú ý hơn, trong giai đoạn này cũng đã đánh dấu sự ra đời của một số tổ chức quốc tế đầu tiên như: Liên minh điện tín quốc tế (1865), Liên minh bưu chính thế giới (1879). Điều này cho ta thấy quan hệ giữa các quốc gia trong cộng đồng quốc tế lúc bấy giờ đã phát triển vượt bậc. Đặt nền móng cho sự phát triển của các tổ chức quốc tế liên chính phủ sau này, đây cũng là một loại chủ thể đặc biệt trong luật quốc tế. Tuy nhiên, đặc trưng cơ bản của luật quốc tế thời kỳ này là luật quốc tế của các quốc gia tư bản vì chỉ có các quốc gia được gọi là văn minh mới có quyền tham gia vào các quan hệ quốc tế với tư cách là chủ thể của luật quốc tế.
Do đó, luật quốc tế thời kỳ này vẫn còn tồn tại những học thuyết, những tư tưởng mang tính chất lạc hậu như chế độ bảo hộ, nô dịch, quyền chiến tranh bị hạn chế nhưng chưa được ngăn cấm một cách triệt để. (4) Luật quốc tế thời kỳ hiện đại Luật quốc tế hiện đại bắt đầu từ những thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia và thành quả của cuộc Cách mạng tháng mười Nga 1917. Trong gia đoạn này, hàng loạt các quốc gia trên thế giới đứng lên đấu tranh giành quyền độc lập đã tác động tích cực và ảnh hưởng tiến bộ đến sự phát triển của luật quốc tế thông qua việc các quốc gia tham gia ngày càng nhiều hơn vào các diễn đàn, hội nghị, tổ chức quốc tế và ký kết các điều ước quốc tế song phương đa phương. Cũng trong giai đoạn này, các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được các quốc gia xây dựng và ghi nhận trong Hiến chương LHQ.
Lê Thị Xuân Phương Tieu luan Bên cạnh đó, các ngành luật độc lập của pháp luật quốc tế như luật điều ước quốc tế, Luật ngoại giao lãnh sự, Luật biển quốc tế, Luật hàng không dân dụng quốc tế, Luật môi trường quốc tế, Luật nhân đạo quốc tế,. và các nguyên tắc, quy phạm tiến bộ trước đó ngày càng được cũng cố, hoàn thiện, có tính kế thừa để điều chỉnh các quan hệ quốc tế phát sinh trong thời kỳ mới, đảm bảo hòa bình, an ninh và tiến bộ của xã hội. Định nghĩa và đặc điểm của luật quốc tế Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng cùng tồn tại và phát triển. Nhà nước hình thành và phát triển không thể thiếu pháp luật.
Ngược lại, pháp luật được ban hành bởi nhà nước. Do đó, không có nhà nước thì sẽ không có pháp luật. Các quan hệ xã hội trong một quốc gia được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật quốc gia còn quan hệ giữa các quốc gia với nhau được điều chỉnh bởi một hệ thống pháp luật đặc biệt còn gọi là luật quốc tế. Hệ thống pháp luật này tuy được hình thành và tồn tại độc lập, khác hẳn với trình tự và thẩm quyền lập pháp của pháp luật quốc gia nhưng nó có quan hệ tác động qua lại với hệ thống pháp luật quốc gia.
Luật quốc tế được phân chia thành luật xung đột (hay còn gọi là Tư pháp quốc tế) và công pháp quốc tế (hay còn gọi là luật quốc tế).