Tổng quan luận án
Chế định Thừa phát lại là một thiết chế bổ trợ tư pháp có lịch sử hình thành lâu đời trên thế giới và từng tồn tại ở Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc cũng như giai đoạn trước năm 1975 ở miền Nam. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Sắc lệnh số 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạm thời giữ lại một số thể chế tư pháp cũ không phương hại đến nền độc lập. Tuy nhiên, sau đó hoạt động này bị gián đoạn trong một thời gian dài. Bước vào thời kỳ đổi mới và thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp theo chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc tái lập và xã hội hóa một số hoạt động bổ trợ tư pháp trở thành nhu cầu cấp bách nhằm giảm áp lực cho hệ thống Tòa án và Cơ quan Thi hành án dân sự. Từ năm 2009 đến năm 2019, chế định Thừa phát lại được thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, sau đó sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 135/2013/NĐ-CP và mở rộng ra một số địa phương.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: mặc dù quá trình thí điểm đã đạt được những kết quả ban đầu, hệ thống văn bản điều chỉnh hoạt động Thừa phát lại tại Việt Nam vẫn chủ yếu dừng lại ở cấp Nghị định và Thông tư liên tịch, thiếu tính ổn định, chưa đồng bộ với các đạo luật tố tụng và thi hành án. Các công trình nghiên cứu trước đây phần lớn dừng lại ở việc tổng kết cục bộ, khảo sát kinh nghiệm nước ngoài hoặc chỉ tập trung vào một phân mảng nghiệp vụ đơn lẻ mà chưa có một công trình tiến sĩ luật học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống từ cơ sở lý luận, bản chất pháp lý, thực tiễn 10 năm thí điểm đến khung lập pháp đồng bộ để xây dựng Luật Thừa phát lại tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu tổng quát của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận về Thừa phát lại và pháp luật về Thừa phát lại; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành từ giai đoạn thí điểm đến năm 2019; trên cơ sở đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ cụ thể):
- Tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận và thực tiễn liên quan đến Thừa phát lại và pháp luật về Thừa phát lại trong và ngoài nước; chỉ ra các khoảng trống khoa học cần tiếp tục giải quyết.
- Nghiên cứu, hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về Thừa phát lại và pháp luật về Thừa phát lại (khái niệm, bản chất pháp lý, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ và các mối quan hệ phối hợp).
- Phân tích thực trạng các quy định pháp luật về Thừa phát lại và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2019; chỉ ra các thành tựu, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
- Xác định các quan điểm, định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam, cung cấp cơ sở khoa học cho việc ban hành Luật Thừa phát lại.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Khái niệm, bản chất pháp lý, đặc điểm và chức năng, nhiệm vụ của Thừa phát lại là gì? Pháp luật về Thừa phát lại bao gồm những nội dung cơ bản nào?
- Thực trạng pháp luật và thực tiễn tổ chức, hoạt động của Thừa phát lại ở Việt Nam trong giai đoạn thí điểm và mở rộng hiện nay diễn ra như thế nào? Những vướng mắc, bất cập pháp lý chủ yếu phát sinh từ đâu?
- Cần xác định những định hướng và giải pháp lập pháp nào để hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam, bảo đảm tính khả thi và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội?
Giả thuyết nghiên cứu: Nếu các quy định pháp luật về Thừa phát lại được nghiên cứu hoàn thiện một cách đồng bộ trên nền tảng lý luận vững chắc, nâng từ cấp nghị định lên thành một đạo luật độc lập (Luật Thừa phát lại), kết hợp việc mở rộng thẩm quyền hợp lý và thiết lập cơ chế quản lý nhà nước kết hợp tự quản nghề nghiệp, thì tổ chức và hoạt động Thừa phát lại sẽ phát huy hiệu quả hỗ trợ tư pháp, giảm tải cho các cơ quan công quyền và bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế thị trường.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về Thừa phát lại và pháp luật về Thừa phát lại; các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật tại các Văn phòng Thừa phát lại.
- Phạm vi nội dung và không gian: Luận án tập trung nghiên cứu tổ chức và hoạt động Thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam, đặt trong bối cảnh cải cách tư pháp và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; có so sánh với mô hình Thừa phát lại (Bailiff, Huissier de Justice) của một số quốc gia.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát, đánh giá thực tiễn hoạt động Thừa phát lại từ khi triển khai thí điểm theo Nghị quyết của Quốc hội và Nghị định 61/2009/NĐ-CP năm 2009 cho đến năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu dựa trên 4 nhóm hướng nghiên cứu chính trong và ngoài nước:
| Nhóm hướng nghiên cứu | Các tác giả, công trình và năm công bố tiêu biểu | Nội dung chính được điểm lại |
|---|---|---|
| 1. Khái niệm, bản chất và lịch sử Thừa phát lại | - K. W. (1999): The main principle of the new Judicial Execution System is in the Civil Court. - DPK Consulting & USAID (2008): Feasibility study of Armenian on a private Bailiff system. - P. R. A. & C. P. Martis (2009): Judicial versus private. - Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (2000): Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại. - Nguyễn Đức Chính (2014): Thừa phát lại, ông là ai?, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. - Tổng cục THADS & Học viện Tư pháp (2016): Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ Thừa phát lại, kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại một số nước. |
Phân tích nguồn gốc chức danh Bailiff/Huissier de Justice, bản chất nhân danh quyền lực công thực thi dịch vụ tư pháp, tiêu chuẩn nghề nghiệp và so sánh mô hình công - tư. |
| 2. Chế định Thừa phát lại và mô hình tổ chức | - Ryann Elizabeth Manning (2010): Interactive judicial system. - James Michel (2011): Solving replacement disputes and legal principles in international development. - A. S. & M. Azam (2011): Programming justice development in areas of vulnerability and conflict. - Bộ Tư pháp (2009): Đề án thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh. - Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý & Sở Tư pháp TP.HCM (1995): Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại (TS. Nguyễn Đức Chính chủ nhiệm). - Nguyễn Đức Chính (sách): Tổ chức Thừa phát lại, Nxb Tư pháp. - Bộ Tư pháp (2014): Kỷ yếu hội thảo khoa học: Chế định Thừa phát lại. - Hà Hùng Cường (2014): Giá trị lịch sử, quan điểm chính trị - pháp lý về Chế định Thừa phát lại. |
Làm rõ sự cần thiết của việc giảm tải tư pháp, chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước, mô hình tổ chức Văn phòng Thừa phát lại trong cấu trúc tư pháp tương tác. |
| 3. Thực tiễn thi hành và hoạt động nghiệp vụ | - A. (2008): Law enforcement process. - E. S., A. H., K. H. (2003): Barriers to implementation. - Henderson, Keith, Angana Shah, Sandra Elena và Vi A. M. (2004): Practical implementation of the Court's judgments - Lessons from Latin America. - Tổng cục THADS (2010): Sổ tay Thừa phát lại, Nxb Tư pháp. - Nguyễn Quang Minh, Nguyễn Văn Nghĩa (2010): Tìm hiểu chế định Thừa phát lại và các biểu mẫu của Văn phòng Thừa phát lại. - Vũ Hoài Nam: Tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay. - Các luận văn: Phạm Phương Thảo (2014), Lê Xuân Hồng (2001), Nguyễn Minh Tùng (2011), Nguyễn Anh Tuấn (2012), Huỳnh Đức Thái Lâm Hoàng (2014), Huỳnh Minh Sang (2018), Nguyễn Kim Lan (2017). |
Đánh giá những rào cản trong thi hành án dân sự, quy trình tống đạt, kỹ năng lập vi bằng, những vướng mắc về mẫu biểu, chi phí và sự phối hợp liên ngành. |
| 4. Định hướng hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại | - Alan Uzelac (2005): The role played by the profession of Bailiffs in the proper and efficient functioning of the judicial system.... - L. Z. O. (2009): Macedonian Government: Court Reform - Multitasking is maintained. - Krzysztof Józefowicz (2007): Taking on the Bailiff monopoly in Poland. - H. K., G. M., K. W., F. A. (2011): Justice sector reform in Mongolia: Looking back, looking ahead. - Lê Thu Hà (2011): Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự. - Nguyễn Văn Hương (2017): Tạp chí Khoa học Kiểm sát. - Nguyễn Văn Nghĩa (2018): Định hướng phát triển nghề Thừa phát lại ở Việt Nam và những vấn đề pháp lý mới cần hoàn thiện. - Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (2018): Xác định những định hướng chính sách lớn phục vụ cho việc xây dựng Luật Thừa phát lại (đề xuất 5 chính sách lớn). |
Đề xuất giải pháp cải cách tòa án, chống độc quyền, đa dạng hóa dịch vụ bổ trợ tư pháp và các định hướng chính sách cụ thể để xây dựng văn bản luật tại Việt Nam. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Qua tổng thuật, tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây còn tồn tại 5 điểm chưa được giải quyết thấu đáo:
- Chưa có công trình nào đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh, đa chiều và chuẩn xác về mặt khoa học pháp lý đối với Thừa phát lại và pháp luật về Thừa phát lại tại Việt Nam.
- Chưa phân tích sâu sắc các yếu tố bản chất, đặc điểm pháp lý mang tính đặc thù của Thừa phát lại trong mối tương quan với các chủ thể tư pháp khác.
- Chưa làm rõ các đặc thù về kinh tế - xã hội, văn hóa pháp lý tác động đến sự tiếp nhận mô hình Thừa phát lại ở Việt Nam sau thời gian dài gián đoạn.
- Các công trình chủ yếu phân tích thực trạng trong phạm vi hẹp thời kỳ thí điểm tại TP.HCM, chưa bao quát toàn diện giai đoạn mở rộng đến năm 2019 dưới góc độ một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh.
- Thiếu các luận cứ khoa học có tính hệ thống nhằm phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng một đạo luật độc lập (Luật Thừa phát lại) thay thế các quy định phân tán hiện hành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh: Về Nhà nước và Pháp luật, về dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp.
- Chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam: Về cải cách tư pháp (Nghị quyết số 49-NQ/TW), xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh xã hội hóa một số hoạt động bổ trợ tư pháp.
- Lý thuyết về kinh tế thị trường và dịch vụ công: Xác định hoạt động Thừa phát lại là một loại hình dịch vụ công do Nhà nước ủy quyền cho tư nhân thực hiện có điều kiện, vận hành theo cơ chế thị trường nhưng chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Nhà nước.
- Lý thuyết về quyền tiếp cận công lý và bảo vệ chứng cứ: Làm rõ vai trò của vi bằng và hoạt động tống đạt văn bản trong việc bảo đảm quyền tự chứng minh, quyền được xét xử công bằng và thi hành án kịp thời của đương sự.
Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể thuộc khoa học pháp lý:
- Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật (nghiên cứu tại bàn): Phân tích, mổ xẻ nội dung các quy định tại Nghị định 61/2009/NĐ-CP, Nghị định 135/2013/NĐ-CP, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: Tập hợp, xử lý và hệ thống hóa các dữ liệu thực tế về số lượng Văn phòng Thừa phát lại, số lượng việc tống đạt, vi bằng đã lập, các vụ việc xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án giai đoạn 2009-2019.
- Phương pháp so sánh pháp luật: So sánh các quy định về Thừa phát lại ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (trước 1945, giai đoạn 1954-1975 ở miền Nam và giai đoạn hiện nay); so sánh mô hình Thừa phát lại Việt Nam với mô hình Bailiff / Huissier de Justice của Pháp, một số nước Châu Âu (Hà Lan, Bỉ, Ba Lan, Macedonia...) và các nước đang phát triển.
- Các hướng tiếp cận: Tiếp cận hệ thống (đặt Thừa phát lại trong tổng thể hệ thống pháp luật và hệ thống cơ quan tư pháp); Tiếp cận lịch sử (xem xét tiến trình phát triển và gián đoạn của thể chế); Tiếp cận liên ngành (kết hợp luật học, xã hội học pháp luật và kinh tế học).
Nguồn tư liệu/dữ liệu:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2019.
- Các báo cáo tổng kết thực tiễn thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại của Chính phủ, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Báo cáo số liệu chuyên môn của Tổng cục Thi hành án dân sự và các Văn phòng Thừa phát lại.
- Các giáo trình, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học và bài báo chuyên ngành luật học trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án
Chương này tập trung tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài theo 4 nhóm nội dung lớn: khái niệm/bản chất, mô hình chế định, thực tiễn thi hành và định hướng hoàn thiện pháp luật. Tác giả chỉ rõ các kết quả đã đạt được trong lịch sử nghiên cứu, đồng thời khẳng định 5 khoảng trống học thuật cần được luận án giải quyết. Bên cạnh đó, chương 1 xác lập khung cơ sở lý thuyết (chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý thuyết cải cách tư pháp, lý thuyết kinh tế thị trường định hướng XHCN), đưa ra 3 câu hỏi nghiên cứu, 1 giả thuyết khoa học và xác định 3 hướng tiếp cận chính (hệ thống, lịch sử, liên ngành) làm kim chỉ nam cho toàn bộ công trình.
Chương 2: Những vấn đề lý luận pháp luật về Thừa phát lại
Chương 2 xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về Thừa phát lại và pháp luật về Thừa phát lại:
- Nguồn gốc và lịch sử thuật ngữ: Thuật ngữ "Thừa phát lại" là từ Hán - Việt ("Thừa" nghĩa là vâng mệnh, tuân theo; "Phát" nghĩa là ban hành, chuyển đi; "Lại" nghĩa là chức quan nhỏ, người thừa hành công vụ). Tác giả truy nguyên lịch sử chức danh Bailiff từ thời La Mã cổ đại, Anh, Pháp (Huissier de Justice theo Bộ luật Dân sự Napoleon 1804), sự xuất hiện tại Việt Nam thời Pháp thuộc và sự tồn tại tạm thời sau năm 1945 theo Sắc lệnh 10/10/1945.
- Khái niệm và đặc điểm của Thừa phát lại: Luận án định nghĩa Thừa phát lại là người có đủ tiêu chuẩn, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để thực hiện việc tống đạt văn bản, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại có các đặc điểm cơ bản: là công dân Việt Nam có phẩm chất và tiêu chuẩn chuyên môn luật; được Nhà nước bổ nhiệm theo quy trình chặt chẽ; hoạt động theo hình thức nghề nghiệp độc lập, tự chủ về tài chính; nhân danh quyền lực tư pháp được Nhà nước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ công.
- Bốn chức năng, nhiệm vụ cơ bản:
- Tống đạt văn bản: Thực hiện việc chuyển giao các văn bản, giấy tờ của Tòa án và Cơ quan Thi hành án dân sự đến đương sự và người có liên quan.
- Lập vi bằng: Ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức để làm nguồn chứng cứ trong tố tụng và giải quyết các quan hệ pháp lý.
- Xác minh điều kiện thi hành án: Tìm kiếm, thu thập thông tin về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án theo yêu cầu của đương sự.
- Trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án: Thực hiện các biện pháp theo luật định nhằm bảo đảm bản án dân sự được thi hành trên thực tế (ngoài ra có phân tích thêm nhiệm vụ duy trì trật tự phiên tòa trong kinh nghiệm quốc tế).
- Tính chất pháp lý: Hoạt động Thừa phát lại mang tính quyền lực công kết hợp tính dịch vụ chuyên môn độc lập; mang tính kinh tế - xã hội (thu thù lao dịch vụ theo thỏa thuận/biểu phí, tự hạch toán, không nhận lương từ ngân sách nhà nước); chịu sự giám sát, quản lý chặt chẽ của cơ quan tư pháp và có trách nhiệm pháp lý cao (bắt buộc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp).
- Mối quan hệ phối hợp: Luận án phân tích mối quan hệ công tác giữa Thừa phát lại với Tòa án nhân dân, Cơ quan Thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân, Công chứng viên, Luật sư và Chính quyền cơ sở.
- Khái niệm pháp luật về Thừa phát lại: Là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, hoạt động của Thừa phát lại, Văn phòng Thừa phát lại, trình tự thủ tục thực hiện các công việc chuyên môn, giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.
Chương 3: Thực trạng pháp luật về Thừa phát lại và thực tiễn thi hành ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 phân tích sâu sắc thực trạng văn bản pháp luật và kết quả thực tiễn thi hành giai đoạn 2009-2019:
- Đánh giá khung pháp lý: Cơ sở pháp lý hiện hành dựa chủ yếu vào Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP. Việc các quy định chỉ nằm ở cấp Nghị định dẫn đến sự thiếu tương thích với Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thi hành án dân sự và Luật Đất đai.
- Thực trạng 4 mảng nghiệp vụ chuyên môn:
- Tống đạt văn bản: Đã thực hiện hàng trăm nghìn văn bản, giảm áp lực lớn cho Tòa án và Cơ quan THADS; tuy nhiên mức chi phí tống đạt quy định còn thấp, thủ tục tống đạt ngoài địa bàn cấp tỉnh còn phức tạp, thiếu cơ chế tống đạt điện tử.
- Lập vi bằng: Là mảng nghiệp vụ phát triển mạnh mẽ nhất, đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân trong việc tạo lập chứng cứ; tuy nhiên phạm vi lập vi bằng còn thiếu rõ ràng, dễ bị lạm dụng hoặc gây nhầm lẫn với hoạt động công chứng hợp đồng, giao dịch.
- Xác minh điều kiện thi hành án: Giúp đương sự chủ động tìm kiếm chứng cứ tài sản; tuy nhiên gặp nhiều khó khăn do các cơ quan giữ thông tin (Văn phòng đăng ký đất đai, tổ chức tín dụng) thường từ chối cung cấp thông tin cho Thừa phát lại do chưa có quy định bắt buộc trong các luật chuyên ngành.
- Trực tiếp tổ chức thi hành án: Số lượng việc thi hành án do Thừa phát lại thụ lý còn thấp do người dân chưa có thói quen yêu cầu, đồng thời thẩm quyền và cơ chế phối hợp sử dụng lực lượng hỗ trợ cưỡng chế (Công an) của Thừa phát lại chưa được pháp luật bảo đảm rõ ràng như Chấp hành viên nhà nước.
- Thực trạng tổ chức bộ máy và quản lý nhà nước: Các Văn phòng Thừa phát lại hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh; chất lượng đội ngũ chưa đồng đều; công tác thanh tra, kiểm tra của Sở Tư pháp còn lúng túng; chưa thành lập được tổ chức xã hội - nghề nghiệp (Hội/Hiệp hội Thừa phát lại) để thực hiện chức năng giám sát đạo đức nghề nghiệp.
Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 đưa ra hệ thống quan điểm, định hướng và các nhóm giải pháp lập pháp cụ thể:
- Quan điểm và định hướng: Thể chế hóa đầy đủ các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng; gắn hoàn thiện pháp luật Thừa phát lại với việc đồng bộ hóa hệ thống pháp luật tố tụng; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; phát triển nghề Thừa phát lại theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
- Hệ thống giải pháp cụ thể:
- Giải pháp lập pháp trung tâm: Xây dựng và trình Quốc hội ban hành Luật Thừa phát lại nhằm tạo khung pháp lý có giá trị hiệu lực cao, ổn định và đồng bộ.
- Hoàn thiện quy chế pháp lý Thừa phát lại: Nâng cao tiêu chuẩn bổ nhiệm, chuẩn hóa chương trình đào tạo nghiệp vụ tại Học viện Tư pháp, quy định chặt chẽ về miễn nhiệm, chế độ bảo hiểm nghề nghiệp và quy tắc đạo đức hành nghề.
- Hoàn thiện quy định về 4 mảng nghiệp vụ:
- Mở rộng phạm vi và công nhận tính pháp lý của phương thức tống đạt điện tử; quy định rõ trách nhiệm tài chính của cơ quan tư pháp khi ký hợp đồng dịch vụ tống đạt.
- Quy định minh thị các trường hợp không được lập vi bằng; chuẩn hóa giá trị chứng cứ của vi bằng trước Tòa án, phân định ranh giới rõ ràng với văn bản công chứng.
- Sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Đất đai để quy định nghĩa vụ bắt buộc của ngân hàng, cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất trong việc cung cấp thông tin tài sản cho Thừa phát lại khi xác minh thi hành án.
- Quy định cụ thể quy trình cưỡng chế và cơ chế phối hợp bắt buộc của cơ quan Công an trong các vụ việc Thừa phát lại trực tiếp tổ chức thi hành án dân sự.
- Hoàn thiện mô hình tổ chức Văn phòng và cơ chế quản lý: Chuẩn hóa mô hình Công ty hợp danh cho Văn phòng Thừa phát lại; tăng cường hiệu lực thanh tra của Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp; thành lập Hiệp hội Thừa phát lại Việt Nam nhằm phát huy vai trò tự quản nghề nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa và xây dựng một hệ thống lý luận toàn diện, khoa học về Thừa phát lại và pháp luật về Thừa phát lại trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
- Phân tích sâu sắc bản chất pháp lý kép của Thừa phát lại: vừa mang tính quyền lực nhà nước thông qua cơ chế ủy quyền tư pháp, vừa mang tính chất của một nghề cung cấp dịch vụ pháp lý độc lập.
- Làm sáng tỏ vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và các mối quan hệ phối hợp giữa Thừa phát lại với hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án và các tổ chức hành nghề bổ trợ tư pháp khác.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Đánh giá một cách khách quan, toàn diện bức tranh 10 năm thực hiện thí điểm và mở rộng chế định Thừa phát lại (2009-2019) trên phạm vi toàn quốc; chỉ ra các nguyên nhân căn cốt dẫn đến những hạn chế, vướng mắc trong thực tế áp dụng.
- Cung cấp cơ sở khoa học, thực tiễn vững chắc và hệ thống đề xuất lập pháp chi tiết phục vụ cho việc soạn thảo, ban hành dự thảo Luật Thừa phát lại tại Việt Nam.
Kiến nghị, giải pháp đề xuất:
- Đề nghị Quốc hội đưa dự án Luật Thừa phát lại vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.
- Kiến nghị sửa đổi, bổ sung đồng bộ các quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thi hành án dân sự, Luật Đất đai và Luật Các tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm thẩm quyền thu thập thông tin, lập vi bằng và cưỡng chế thi hành án của Thừa phát lại.
- Kiến nghị Bộ Tư pháp thành lập Hội/Hiệp hội Thừa phát lại toàn quốc và ban hành bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại thống nhất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chủ yếu giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn trong mốc thời gian từ 2009 đến 2019 – giai đoạn chế định Thừa phát lại hoạt động dựa trên các văn bản quy định dưới luật (Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP). Dữ liệu thực tiễn tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn (đặc biệt là TP.HCM), mức độ khảo sát tại khu vực nông thôn và miền núi còn hạn chế do mạng lưới Văn phòng Thừa phát lại thời kỳ này chưa phủ kín toàn quốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết thi hành sau khi Luật Thừa phát lại được Quốc hội thông qua; nghiên cứu cơ chế chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin trong tống đạt văn bản điện tử và lập vi bằng điện tử; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh do lỗi tác nghiệp của Thừa phát lại.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp (Quốc hội, Bộ Tư pháp): Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị cao trong việc hoạch định chính sách tư pháp, xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Thừa phát lại và ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật học: Là công trình tổng khảo cứu hệ thống về chế định Thừa phát lại, phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu các môn Luật Tố tụng dân sự, Luật Thi hành án dân sự, Xã hội học pháp luật và So sánh pháp luật.
- Đối với Thừa phát lại, Thư ký nghiệp vụ và các Văn phòng Thừa phát lại: Cung cấp những luận giải rõ ràng về ranh giới thẩm quyền, kỹ năng thực hành 4 mảng nghiệp vụ chuyên môn và các biện pháp phòng ngừa rủi ro pháp lý trong quá trình hành nghề.
Câu hỏi thường gặp
Câu 1: Thuật ngữ "Thừa phát lại" có nguồn gốc từ nguyên và ý nghĩa như thế nào trong luận án?
Trả lời: Theo phân tích của luận án, "Thừa phát lại" là một từ Hán - Việt cổ. Trong đó, "Thừa" có nghĩa là vâng mệnh, tuân theo hoặc thừa hành mệnh lệnh; "Phát" có nghĩa là phát ra, ban hành hoặc chuyển giao đi; "Lại" là từ chỉ chức quan nhỏ hoặc người thừa hành công vụ trong bộ máy tư pháp. Do đó, Thừa phát lại có thể hiểu là người vâng lệnh cơ quan tư pháp để chuyển giao văn bản và thi hành các mệnh lệnh pháp luật.
Câu 2: Bốn chức năng, nhiệm vụ bổ trợ tư pháp cơ bản của Thừa phát lại tại Việt Nam gồm những gì?
Trả lời: Theo quy định hiện hành và tổng kết của luận án, Thừa phát lại có 4 chức năng, nhiệm vụ chính: (1) Thực hiện tống đạt văn bản, giấy tờ của Tòa án và Cơ quan Thi hành án dân sự; (2) Lập vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức; (3) Xác minh điều kiện thi hành án dân sự theo đơn yêu cầu; (4) Trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự.
Câu 3: Hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại khác biệt như thế nào so với hoạt động công chứng của Công chứng viên?
Trả lời: Luận án chỉ rõ sự khác biệt: Công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch dân sự (chứng nhận ý chí và nội dung giao dịch); trong khi Thừa phát lại lập vi bằng nhằm ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật diễn ra trên thực tế theo giác quan trực tiếp của Thừa phát lại (chứng kiến hiện trạng nhà đất, giao nhận tiền, giao thông báo...). Vi bằng có giá trị chứng cứ trước Tòa án và không thay thế cho văn bản công chứng hợp đồng theo quy định của pháp luật.
Câu 4: Những khó khăn lớn nhất của Thừa phát lại khi thực hiện nghiệp vụ xác minh điều kiện thi hành án được chỉ ra trong luận án là gì?
Trả lời: Khó khăn lớn nhất xuất phát từ việc thiếu các quy định bắt buộc trong các luật chuyên ngành (như Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Đất đai). Do đó, khi Thừa phát lại đến các ngân hàng để xác minh tài khoản, tiền gửi hoặc đến Văn phòng đăng ký đất đai để xác minh quyền sử dụng đất của người phải thi hành án, các cơ quan này thường từ chối cung cấp thông tin với lý do bảo mật hoặc do Thừa phát lại không phải là Chấp hành viên cơ quan nhà nước.
Câu 5: Vì sao luận án đề xuất việc ban hành Luật Thừa phát lại là giải pháp trọng tâm?
Trả lời: Bởi vì trong suốt 10 năm thí điểm (2009-2019), chế định Thừa phát lại chỉ được điều chỉnh bằng các Nghị định của Chính phủ, dẫn đến giá trị pháp lý thấp, không đồng bộ và thường xuyên xung đột với các đạo luật lớn như Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Thi hành án dân sự. Việc ban hành một đạo luật độc lập sẽ tạo ra địa vị pháp lý vững chắc, thống nhất thẩm quyền và bảo đảm giá trị bắt buộc của các hoạt động tác nghiệp Thừa phát lại trên phạm vi cả nước.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Huỳnh Đức Thái Lâm Hoàng là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về chế định Thừa phát lại và pháp luật về Thừa phát lại tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương cải cách tư pháp của Đảng với việc tổng kết thực tiễn 10 năm thí điểm (2009-2019), luận án đã làm sáng tỏ bản chất pháp lý kép, các đặc trưng nghề nghiệp và 4 nhóm nghiệp vụ cốt lõi của Thừa phát lại. Các định hướng và hệ thống giải pháp lập pháp được đề xuất trong công trình, đặc biệt là kiến nghị xây dựng Luật Thừa phát lại, có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần hoàn thiện thể chế bổ trợ tư pháp và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.