Khóa luận pháp luật về tái định cư cho người có đất bị thu hồi

Khóa luận tốt nghiệp luật học về pháp luật tái định cư cho người có đất bị thu hồi, phân tích quy định hiện hành và đánh giá thực tiễn thi hành chi tiết.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

80
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là chính sách nhân văn quan trọng trong pháp luật đất đai Việt Nam. Khóa luận tốt nghiệp luật học nghiên cứu toàn diện các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo Luật Đất đai 2024. Mục tiêu cốt lõi của công tác tái định cư là bảo đảm người bị thu hồi đất có chỗ ở hợp pháp. Điều kiện sống tại nơi ở mới phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Pháp luật đất đai quy định cụ thể các nguyên tắc bắt buộc trong quá trình thu hồi đất. Nguyên tắc công khai, minh bạch và dân chủ luôn được đặt lên hàng đầu. Cơ quan có thẩm quyền phải lập và phê duyệt phương án tái định cư trước khi ban hành quyết định thu hồi đất. Điều này giúp người dân chủ động sắp xếp cuộc sống và giảm thiểu các xung đột xã hội phát sinh. Bên cạnh đó, các hình thức tái định cư bao gồm giao đất ở, nhà ở tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền. Việc nghiên cứu cơ sở lý luận giúp làm sáng tỏ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai.

1.1. Khái niệm và nguyên tắc pháp lý về tái định cư

Tái định cư là quá trình Nhà nước bố trí nơi ở mới, hỗ trợ tài chính và tạo lập sinh kế cho hộ gia đình, cá nhân có đất ở bị thu hồi. Theo Điều 87 Luật Đất đai 2024, nguyên tắc bố trí tái định cư phải bảo đảm tính khách quan, công bằng và công khai. Nơi tái định cư phải hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ trước khi bàn giao. Địa điểm tái định cư cần phù hợp với phong tục tập quán và truyền thống văn hóa của từng địa phương. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc pháp lý giúp bảo vệ quyền cư trú hợp pháp của công dân, đồng thời ngăn chặn các hành vi tùy tiện từ cơ quan thực thi.

1.2. Các hình thức và điều kiện bố trí tái định cư

Pháp luật hiện hành quy định ba hình thức tái định cư chủ yếu: nhận đất ở tái định cư, nhận nhà ở tái định cư hoặc tự lo chỗ ở bằng tiền hỗ trợ. Người sử dụng đất được quyền lựa chọn hình thức phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh thực tế. Điều kiện được bố trí tái định cư đòi hỏi người bị thu hồi đất phải mất toàn bộ đất ở hoặc phần diện tích còn lại không đủ điều kiện sinh sống. Đồng thời, hộ gia đình không còn đất ở, nhà ở nào khác trong cùng địa bàn cấp xã. Khu tái định cư phải bảo đảm kết nối giao thông, hệ thống cấp thoát nước, điện chiếu sáng và các tiện ích giáo dục, y tế thiết yếu.

II. Thực trạng thực tiễn thi hành pháp luật về tái định cư hiện nay

Thực tiễn thi hành pháp luật về tái định cư cho người có đất bị thu hồi ghi nhận nhiều kết quả tích cực song vẫn còn tồn tại không ít bất cập. Công tác giải phóng mặt bằng tại nhiều dự án trọng điểm được đẩy nhanh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, tình trạng khiếu nại, tranh chấp đất đai liên quan đến bồi thường và tái định cư vẫn diễn biến phức tạp. Nhiều khu tái định cư xây dựng chậm tiến độ, hạ tầng thiếu đồng bộ và chất lượng công trình kém. Người dân chuyển đến nơi ở mới gặp khó khăn trong việc ổn định sinh kế do mất việc làm truyền thống. Chênh lệch giữa giá đất bồi thường và giá thị trường tạo tâm lý so sánh, bức xúc trong cộng đồng. Ngoài ra, công tác xử lý vi phạm hành chính đối với các chủ đầu tư thi công sai thiết kế khu tái định cư còn mang tính hình thức, mức xử phạt quá nhẹ chưa đủ sức răn đe. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá đúng nguyên nhân nhằm tìm kiếm các biện pháp tháo gỡ triệt để.

2.1. Hạn chế về chất lượng hạ tầng và sinh kế tại khu tái định cư

Nhiều dự án tái định cư sau khi bàn giao bộc lộ rõ tình trạng xuống cấp nhanh chóng về chất lượng xây dựng. Các tiện ích công cộng như trường học, trạm y tế, chợ dân sinh chưa được hoàn thiện kịp thời theo cam kết. Vấn đề chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm mới cho người dân sau thu hồi đất nông nghiệp chưa được quan tâm đúng mức. Đa số lao động lớn tuổi không thể tiếp cận các khu công nghiệp, dẫn đến suy giảm thu nhập nghiêm trọng. Nơi ở mới tuy hiện đại hơn nhưng chi phí sinh hoạt tăng cao, gây áp lực tài chính lớn cho các hộ gia đình bị giải tỏa trắng.

2.2. Bất cập trong xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại đất đai

Quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai còn kéo dài qua nhiều cấp, gây lãng phí thời gian và nguồn lực xã hội. Các sai phạm trong thi công khu tái định cư, như làm sai thiết kế hoặc dùng vật liệu kém phẩm chất, chỉ bị phạt vi phạm hành chính ở mức thấp. Các mức phạt vài chục triệu đồng không tương xứng với quy mô dự án hàng chục tỷ đồng và nguồn lợi thu về. Trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan phê duyệt phương án bồi thường chưa được làm rõ. Cơ chế giám sát độc lập đối với chất lượng công trình tái định cư còn thiếu vắng và hoạt động kém hiệu quả.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tái định cư và thu hồi đất

Hoàn thiện pháp luật về tái định cư cho người có đất bị thu hồi đòi hỏi sự đồng bộ giữa chính sách lập pháp và khâu thực thi. Luật Đất đai 2024 cần được cụ thể hóa bằng các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết về tiêu chuẩn kỹ thuật khu tái định cư. Cơ quan nhà nước phải xây dựng bảng giá đất sát với giá trị thị trường để bảo đảm công bằng trong tính toán bồi thường. Công tác tái định cư cần thực hiện theo phương châm "đi trước một bước", hoàn thành hạ tầng trước khi thu hồi đất. Bên cạnh đó, chính sách đào tạo nghề, hỗ trợ tín dụng ưu đãi và giới thiệu việc làm phải gắn liền với từng phương án di dời. Chế tài xử phạt đối với các hành vi gian dối, thi công sai quy hoạch tại các khu dân cư mới cần được tăng nặng. Áp dụng quy trình chuyển đổi số và công khai dữ liệu quy hoạch đất đai trên môi trường điện tử sẽ nâng cao tính minh bạch, hạn chế tối đa nguy cơ tham nhũng, trục lợi chính sách.

3.1. Nâng cao vai trò trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước

Ủy ban nhân dân các cấp cần siết chặt kỷ luật trong việc lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Cán bộ trực tiếp thực hiện công tác giải phóng mặt bằng phải nâng cao đạo đức công vụ và kỹ năng đối thoại với người dân. Việc tham vấn ý kiến cộng đồng dân cư trước khi triển khai dự án phải diễn ra thực chất, tránh hình thức. Cơ quan thanh tra xây dựng cần tăng cường kiểm tra định kỳ chất lượng các công trình nhà ở và hạ tầng kỹ thuật tái định cư. Xử lý nghiêm minh mọi hành vi bao che, tiêu cực hoặc thông đồng gây thất thoát ngân sách nhà nước.

3.2. Đổi mới chính sách tạo lập sinh kế bền vững cho người dân

Nhà nước cần xây dựng quỹ hỗ trợ sinh kế dài hạn dành riêng cho các hộ gia đình bị thu hồi đất sản xuất. Các chương trình đào tạo nghề phải bám sát nhu cầu thực tế của thị trường lao động và năng lực của người dân địa phương. Doanh nghiệp tiếp nhận mặt bằng dự án có nghĩa vụ ưu tiên tuyển dụng lao động thuộc diện di dời vào làm việc. Ngoài ra, chính quyền địa phương cần bố trí các diện tích mặt bằng thương mại tại khu tái định cư để người dân tiếp tục kinh doanh buôn bán. Hỗ trợ tài chính kết hợp tư vấn hướng nghiệp là chìa khóa bảo đảm an sinh xã hội lâu dài.

IV. Ý nghĩa ứng dụng khóa luận tốt nghiệp luật học về tái định cư

Khóa luận tốt nghiệp luật học về pháp luật tái định cư mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc cho sinh viên ngành luật và cán bộ thực thi chính sách. Công trình nghiên cứu hệ thống hóa toàn bộ khung pháp lý từ Hiến pháp, Luật Đất đai đến các văn bản hướng dẫn thi hành mới nhất. Các phân tích thực tiễn cung cấp góc nhìn khách quan về những khó khăn trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại các địa phương. Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan lập pháp trong quá trình sửa đổi, bổ sung chính sách đất đai. Đối với sinh viên, đề tài rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học, phương pháp tiếp cận án lệ và khả năng phản biện pháp luật chuyên sâu. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế giúp nâng cao hiệu quả tuyên truyền pháp luật, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người có đất bị thu hồi và giữ vững ổn định trật tự an toàn xã hội.

4.1. Giá trị tham khảo trong hoạt động nghiên cứu và lập pháp

Khóa luận đóng góp hệ thống luận cứ khoa học vững chắc về quyền tài sản và quyền có chỗ ở của công dân khi bị thu hồi đất. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật xuất phát từ số liệu thực tế, có tính khả thi cao đối với cơ quan quản lý. Tài liệu này giúp các nhà nghiên cứu so sánh đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với các mô hình tái định cư tiến bộ trên thế giới. Đây cũng là nguồn tư liệu phong phú phục vụ công tác giảng dạy, học tập chuyên ngành Luật Kinh tế và Luật Đất đai tại các cơ sở đào tạo luật.

4.2. Định hướng áp dụng thực tiễn cho sinh viên và người hành nghề

Sinh viên ngành luật có thể vận dụng các phát hiện trong khóa luận để nâng cao kỹ năng tư vấn pháp lý đất đai. Luật sư và chuyên viên pháp chế sử dụng các phân tích này để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho khách hàng trong các vụ việc tranh chấp thu hồi đất. Cán bộ địa chính cấp cơ sở nắm vững quy trình bố trí tái định cư đúng chuẩn mực pháp luật, giảm thiểu rủi ro pháp lý. Công trình khẳng định tinh thần thượng tôn pháp luật và sứ mệnh phụng sự công lý của người làm công tác pháp luật.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học pháp luật về tái định cư cho người có đất bị thu hồi và thực tiễn thi hành

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁI ĐỊNH CƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ TÁI ĐỊNH CƯ CHO NGƯỜI CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI 1. Lý luận về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Đường lối, chính sách của Đảng về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Từ thời điểm khởi nguồn hình thành quốc gia đến nay, đất đai đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế và chi phối sự vận động của chế độ chính trị. Thời kỳ cổ đại, đất đai là công cụ giúp Nhà vua quản lý trật tự xã hội, là ân điển đặc biệt dành cho chiến tích của các vị anh hùng đã lập công lớn như thời vua Lý Thái Tông, vua Trần Minh Tông, vua Lê Nhân Tông, vua Lê Thánh Tông.4 Những năm đầu của thế kỷ XX, tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc được truyền bá rộng rãi, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bắt đầu hình thành nền móng của chính quyền cộng sản.

Trong Luận cương Chính trị năm 1930, Đảng ta đã xác định: “coi thổ địa Cách mạng (Cách mạng ruộng đất) cùng với Cách mạng tư sản dân quyền là một trong hai mục tiêu chiến lược quan trọng của Cách mạng Việt Nam, với các nhiệm vụ cụ thể là: “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, phong kiến, địa chủ, làm cho người cày có ruộng”5. Ngay từ thời điểm mới thành lập, Đảng đã chú trọng tới vấn đề đất đai cho người dân. Xuyên suốt quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc (1930-1945), Đảng và Nhà nước luôn giữ vững chủ trương xác định nhiệm vụ chiến lược bao gồm: chống đế quốc- giải phóng dân tộc và chống phong kiến- giải phóng giai cấp. Trong tình thế cấp bách, nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đưa lên hàng đầu nhưng nhiệm vụ chống phong kiến, đòi đất cho người nông dân vẫn luôn là nhiệm vụ quan trọng.

“Hậu phương là nhân tố thường xuyên, quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh”6, người nông dân là động lực to lớn của Cách mạng, sẵn sàng chiến đấu vì độc lập dân tộc, nhưng lợi ích trước mắt của họ là có được tư liệu sản xuất- đất đai, nên cần đáp ứng quyền lợi để khích lệ họ hăng hái tham gia đấu tranh vì độc lập dân tộc. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954) và kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), Đảng và Nhà nước luôn chú trọng bảo toàn phát triển hậu phương- yếu tố quan trọng hàng đầu trong cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện: Chính phủ ra sắc lệnh giảm tô 25%, giảm tức, chia lại ruộng đất công, tạm cấp ruộng đất vắng chủ, ruộng đất lấy từ tay đế quốc và bọn phản động. Tính đến cuối năm 1950, chính quyền cách mạng 4 https://caNĐ.vn/Khoa-hoc-Van-Minh/an-dien-vua-ban-i655024/ truy cập ngày 22/01/2025. 5 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2 (1930), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr94.

6 Nguyễn Văn Quang (2012): Tạp chí cộng sản, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát huy vai trò hậu phương quân đội”, https://www.vn/nghien-cu/-/2018/17926/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-xay- dung--va-phat-huy-vai-tro-hau-phuong-quan-doi.aspx truy cập ngày 22/01/2025. 6 đã tạm cấp được 253.863 hécta ruộng đất cho gần 500.000 nông dân; năm 1953 Đảng và Chính phủ quyết định phát động quần chúng triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất. Sau khi hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm tới việc QSDĐ của người dân. Ngày 13/01/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 100/CT-TW về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp”.

Chính sách khoán và giao đất sử dụng ổn định đã từng bước đưa người lao động gắn bó chặt chẽ, lâu dài với đất đai và bước đầu động viên nông dân hăng hái lao động, sản xuất, đồng thời là “bước đầu quá trình xác lập địa vị làm chủ ruộng đất thực sự của người lao động”7. Ngày 05/4/1988, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10/NQ/TW về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1989) khởi xướng đã làm thay đổi to lớn định hướng phát triển kinh tế Việt Nam, đất đai từ chỗ do tập thể các hợp tác xã, các đơn vị, tổ chức của Nhà nước quản lý đã từng bước được giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Các văn kiện của Đảng đã ghi nhận rõ sự thay đổi trong tư duy quản lý đất đai: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 và các Hội nghị Trung ương tiếp theo (đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ 2 – khóa VII, tháng 2/1991 và Hội nghị Trung ương lần thứ 5 – Khóa VII, tháng 6/1992).

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI và các Hội nghị Trung ương lần thứ IX (khóa IX) đã khẳng định quan điểm của Đảng về vấn đề duy trì, củng cố chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đi đôi với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDĐ, trong đó chú trọng thực hiện việc BT cho NSDĐ khi Nhà nước THĐ. Và gần nhất, ngày 16/6/2022, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 18/NQ-TW nhằm hoàn thiện quy định về BT, HT, TĐC, THĐ vì mục đích quốc phòng, an ninh,; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Trong đó nhấn mạnh phải thực hiện TĐC cho người dân trước khi THĐ và phải hoàn thiện bộ máy, tinh gọn, hiệu quả các tổ chức phát triển quỹ đất, các cơ quan Nhà nước liên quan. Cơ sở của việc tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Thứ nhất, xuất phát từ chế độ chính trị của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chủ nghĩa Mác-Lênin hướng tới là một chế độ xã hội mới về chất trên thế giới, là xã hội lý tưởng của nhân loại, đặc biệt là người lao động, nhưng xã hội đó phải dựa trên nền tảng căn bản là tư liệu sản xuất thuộc sở hữu chung của tất cả mọi người.

7 Nguyễn Quang Tuyến (2003); Địa vị pháp lý của người sử dụng đất trong các giao dịch dân sự, thương mại về đất đai, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 53 7 Sau khi thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước CHXHCN Việt Nam tập trung xây dựng đất nước theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tiến tới xã hội cộng sản. Dù chủ trương đường lối của Đảng có sự khác biệt theo từng thời kỳ (trước 1993 – cấm giao dịch đất đai hay sau 1993 – thừa nhận nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cho phép thực hiện giao dịch mua bán QSDĐ) thì Đảng vẫn luôn xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Kể từ đây QSDĐ đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai, được chủ sở hữu đất đai (toàn dân) chuyển giao cho NSDĐ thực hiện và trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của NSDĐ. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận xét: “Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta mang tính thuật ngữ.Quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước”.

Chính vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà quyền sở hữu của từng người dân với đất đai không phải toàn bộ, tuyệt đối nên Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu hoàn toàn có quyền quản lý, ra quyết định định đoạt đối với đất đai, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt tư cách pháp lý của NSDĐ, trong đó có hoạt động THĐ và BT bằng TĐC. Nhà nước quy định rất rõ về việc bảo hộ quyền sở hữu tài sản của công dân tại Điều 12 Hiến pháp 1946, Điều 58 Hiến pháp 1992 và Điều 32 Hiến pháp 2013. Bản chất Nhà nước CHXHCN Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng chung của nhân dân nên khi Nhà nước THĐ gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, Nhà nước có trách nhiệm BT, bù đắp tổn thất cho họ. Thứ hai, xuất phát từ hậu quả của việc THĐ đến người có đất bị thu hồi Đất đai là nguồn sinh kế, nơi duy trì, phát triển văn hóa của rất nhiều người dân, cộng đồng dân cư.

Khi Nhà nước THĐ, đồng nghĩa với việc họ buộc phải di dời khỏi nơi đang cư trú, từ bỏ nguồn sinh kế nuôi sống gia đình và thậm chí bị chia tách khỏi cộng đồng dân tộc của họ. Về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của NSDĐ là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi THĐ của Nhà nước. Điều này gây ra tâm lý e ngại và chống đối của người có đất bị thu hồi, nếu cơ quan Nhà nước không đảm bảo quyền lợi thích đáng cho họ, việc THĐ sẽ phải kéo dài và khó khăn. Vì vậy, trước hết cần đưa ra phương án BT phù hợp, quan tâm tới nơi ở TĐC mới cho người bị THĐ, đảm bảo cân bằng giữa lợi ích của người bị THĐ và lợi ích chung của cộng đồng xã hội đạt được khi THĐ.

Thứ ba, xuất phát từ sự khác biệt với nguyên tắc BT theo quy định pháp luật dân sự Theo quy định pháp luật về đất đai, việc BT khi Nhà nước THĐ không xuất phát từ việc Nhà nước có lỗi, mà Nhà nước đang thực hiện theo đúng quy định pháp luật, việc BT mang tính nhân văn, nhằm giúp NSDĐ yên tâm ổn định cuộc sống. Trong khi 8 đó, theo pháp luật dân sự, không chỉ cần có thiệt hại mà phải chứng minh được lỗi của người gây ra thiệt hại để thực hiện BT ngoài hợp đồng, nhằm khắc phục hành vi trái pháp luật và bảo vệ quyền lợi người bị vi phạm. Khái quát chung về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Khái niệm và đặc điểm Thứ nhất, THĐ: (1) Khái niệm: Theo Từ điển giải thích Luật học: “Thu hồi đất là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm.

Trường hợp cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ