Luận văn thạc sĩ: Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên

Phân tích pháp luật về thừa kế QSDĐ tại Hưng Yên, bao gồm quy định, thực tiễn áp dụng và những vướng mắc. Cập nhật kiến thức pháp lý mới nhất cho người dân.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ Luật học
97
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất

Thừa kế quyền sử dụng đất là chế định cơ bản trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Quyền sử dụng đất được xác định là di sản thừa kế khi người sử dụng đất chết. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu tài sản riêng của cá nhân, trong đó có quyền sử dụng đất. Luật Đất đai năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chi tiết về trình tự, thủ tục thực hiện thừa kế quyền sử dụng đất. Sau gần 35 năm đổi mới, hệ thống pháp luật đất đai đã được hoàn thiện đáng kể. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi quyền sở hữu tài sản của công dân phải được tôn trọng và bảo vệ. Sự công nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân là bước tiến quan trọng. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, nhưng quyền sử dụng đất được pháp luật bảo vệ. Quy định về thừa kế quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng ổn định, liên tục, có hiệu quả. Pháp luật thừa kế phản ánh truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt Nam trong việc chuyển giao đất đai giữa các thế hệ.

1.1. Cơ sở pháp lý của thừa kế quyền sử dụng đất

Cơ sở pháp lý của thừa kế quyền sử dụng đất được quy định trong hai văn bản luật chính. Luật Đất đai năm 2013 quy định về quyền thừa kế quyền sử dụng đất và trình tự thủ tục thực hiện. Bộ luật Dân sự năm 2015 dành Phần thứ tư từ Điều 609 đến Điều 662 đề cập đến thừa kế nói chung và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng. Các văn bản hướng dẫn thi hành cũng quy định chi tiết về vấn đề này. Người sử dụng đất có quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật. Di sản thừa kế bao gồm quyền sử dụng đất hợp pháp của người chết để lại.

1.2. Tính nhân văn trong quy định thừa kế quyền sử dụng đất

Tính nhân văn trong quy định thừa kế quyền sử dụng đất dựa trên truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam. Đất nước có nghề trồng lúa nước truyền thống, con người gắn bó máu thịt với mảnh đất canh tác. Cha mẹ nuôi dưỡng con cái từ chính mảnh đất đó, con cái lớn lên có nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà cha mẹ. Việc công nhận thừa kế quyền sử dụng đất là sự ghi nhận truyền thống tốt đẹp. Đất đai được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, đảm bảo sử dụng ổn định và có hiệu quả. Điều này tránh gây xáo trộn trong quá trình sử dụng đất.

II. Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật thừa kế QSDĐ tại Hưng Yên

Thực tiễn áp dụng pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất tại tỉnh Hưng Yên đặt ra nhiều vấn đề phức tạp. Trong nền kinh tế thị trường, đất đai ngày càng có giá trị, người dân nhận thức rõ giá trị của đất. Điều này dẫn đến việc thừa kế quyền sử dụng đất phát sinh nhiều tranh chấp, khiếu kiện phức tạp. Hậu quả của tranh chấp không chỉ phá vỡ sự ổn định trong gia đình mà còn gây mâu thuẫn giữa anh chị em ruột, họ hàng. Các cuộc tranh chấp kéo dài làm tổn hao sinh lực, sức khỏe, tiền bạc và thời gian của các bên. Bên cạnh đó, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất còn gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn khu dân cư. Việc quản lý đất đai bị xáo trộn qua các thời kỳ do chính sách pháp luật đất đai có những bất cập. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền gặp khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất. Tình trạng này đòi hỏi cần có giải pháp phù hợp để xử lý hiệu quả.

2.1. Vấn đề ghi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 quy định rõ về việc ghi tên vợ chồng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng phải ghi cả họ tên vợ và chồng. Các quy định trước đây không bắt buộc ghi tên cả hai vợ chồng trong trường hợp này. Thực tế tại tỉnh Hưng Yên, việc cấp Giấy chứng nhận thường chỉ ghi tên chủ hộ gia đình, thường là nam giới. Điều này tạo ra bất bình đẳng giới trong việc để thừa kế quyền sử dụng đất. Người chồng có vai trò quyết định, còn người vợ dường như không có tiếng nói đối với tài sản chung.

2.2. Tranh chấp và khó khăn trong giải quyết thừa kế quyền sử dụng đất

Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất tại Hưng Yên ngày càng gia tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp. Nhiều vụ việc liên quan đến xác định phần tài sản chung của vợ chồng, phần di sản của người chết để lại. Việc phân chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật thường phát sinh mâu thuẫn giữa các đồng thừa kế. Khó khăn trong việc thu thập chứng cứ, xác minh nguồn gốc đất đai cũng là nguyên nhân kéo dài thời gian giải quyết. Các cơ quan nhà nước gặp tình trạng tiến thoái lưỡng nan khi xử lý các vụ tranh chấp phức tạp. Ngoài ra, trình độ hiểu biết pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hạn chế.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất

Để bảo đảm thực hiện pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất đạt hiệu quả cao, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần nâng cao kiến thức pháp luật, trình độ chuyên môn và năng lực nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công chức. Giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống cho cán bộ quản lý đất đai và thẩm phán tòa án là nhiệm vụ quan trọng. Ý thức pháp luật của các chủ thể có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện pháp luật. Các chủ thể bao gồm cơ quan nhà nước, cán bộ công chức có thẩm quyền, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất và cộng đồng dân cư. Việc nâng cao trình độ văn hóa và hiểu biết pháp luật giúp giảm thiểu vi phạm pháp luật. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất đến mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai để đáp ứng yêu cầu quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.

3.1. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý đất đai và tư pháp

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý đất đai và tư pháp là giải pháp then chốt. Cán bộ công chức cần được đào tạo bài bản về chuyên môn pháp luật đất đai. Họ phải có trình độ chuyên môn vững vàng, kỹ năng nghiệp vụ tốt để giải quyết hiệu quả các vụ việc. Bên cạnh đó, phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ cũng cần được rèn luyện thường xuyên. Một bộ phận cán bộ công chức lợi dụng chức vụ quyền hạn để tham nhũng, tiêu cực cần được xử lý nghiêm minh. Uy tín và trách nhiệm trước cộng đồng là yếu tố quan trọng để thuyết phục người dân tuân thủ pháp luật.

3.2. Tăng cường ý thức pháp luật và tuyên truyền cho người dân

Ý thức pháp luật thể hiện sự nhận thức và thái độ của các chủ thể đối với quy định pháp luật. Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất được thực hiện tốt hay không phụ thuộc vào ý thức pháp luật của các chủ thể. Trong nhiều trường hợp, vi phạm pháp luật do trình độ văn hóa thấp và thiếu hiểu biết pháp luật. Tuy nhiên, cũng có trường hợp công dân có hiểu biết nhưng đạo đức nhân cách kém nên cố tình vi phạm. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua nhiều hình thức đa dạng. Việc nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân giúp giảm thiểu tranh chấp và đảm bảo thực thi pháp luật hiệu quả.

IV. Kết luận và hướng phát triển pháp luật thừa kế QSDĐ

Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp của công dân. Thực tiễn tại tỉnh Hưng Yên cho thấy nhiều vấn đề phức tạp trong quá trình áp dụng pháp luật. Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất không chỉ ảnh hưởng đến hòa thuận gia đình mà còn tác động đến ổn định xã hội. Việc hoàn thiện pháp luật đất đai là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý trong nền kinh tế thị trường. Cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật cho phù hợp với thực tiễn. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và ý thức pháp luật của người dân là nhiệm vụ lâu dài. Giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp về đất đai trong cộng đồng cần được duy trì và phát huy. Hướng phát triển pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất cần gắn liền với quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa đất nước. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo đất đai được sử dụng ổn định, liên tục và có hiệu quả vì lợi ích quốc gia và nhân dân.

4.1. Ý nghĩa của việc hoàn thiện pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất

Hoàn thiện pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Pháp luật hoàn thiện giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, hạn chế tranh chấp khiếu kiện kéo dài. Việc này góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội tại các địa phương. Đất đai được quản lý hiệu quả, sử dụng đúng mục đích và phát huy giá trị tối đa. Mối quan hệ gia đình được duy trì hòa thuận, dòng họ không bị rạn nứt vì tranh chấp tài sản. Pháp luật rõ ràng minh bạch tạo niềm tin cho người dân vào hệ thống tư pháp.

4.2. Hướng phát triển trong tương lai cho pháp luật thừa kế QSDĐ

Hướng phát triển pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất cần gắn với quá trình hiện đại hóa đất nước. Nghiên cứu áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ đất đai và giải quyết tranh chấp. Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai toàn quốc để tra cứu nguồn gốc quyền sử dụng đất dễ dàng hơn. Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc khai nhận di sản thừa kế quyền sử dụng đất. Tăng cường vai trò của hòa giải cơ sở trong giải quyết tranh chấp thừa kế đất đai. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật đất đai để học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Lv ths pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất từ thực tiễn tỉnh hưng yên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM 1. Lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất 1. Khái niệm và đặc điểm của quyền sử dụng đất 1. Khái niệm về quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất là một khái niệm được sử dụng rất phổ biến trong pháp luật đất đai Việt Nam.

QSDĐ được quan niệm theo hai phương diện: i) Phương diện chủ quan: Đây là một quyền năng của người sử dụng đất trong việc khai thác, sử dụng các thuộc tính có ích của đất để đem lại một lợi ích vật chất nhất định. Quyền năng này của người sử dụng đất được pháp luật đất đai ghi nhận và bảo hộ. Trên phương diện này, QSDĐ được các tài liệu, sách, báo pháp lý quan niệm như sau: - Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn: "Quyền sử dụng đất: Quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho… từ những chủ thể khác có quyền sử dụng đất; Người sử dụng đất có các quyền: 1. Quyền được cấp GCNQSDĐ; 2.

Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; 3. Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; 4. Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; 5. Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; 6.

Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất … theo quy định của pháp luật về đất đai" [40, tr. 8 - Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: "Quyền sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Xét về khía cạnh kinh tế, quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng vì nó làm thỏa mãn các nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất cho các chủ sử dụng trong quá trình sử dụng đất" [34, tr. Như vậy, xét trên phương diện chủ quan QSDĐ là một quyền năng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhằm khai thác các thuộc tính có ích của đất đai và đem lại lợi ích vật chất nhất định cho họ.

ii) Phương diện khách quan: QSDĐ là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật đất đai do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất như quan hệ làm phát sinh QSDĐ; quan hệ về thực hiện các quyền năng của QSDĐ; quan hệ về bảo hộ QSDĐ (giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về QSDĐ); Xét trên phương diện này, QSDĐ với tư cách là một chế định pháp luật bao gồm các quy định làm căn cứ pháp lý phát sinh QSDĐ; các quy định về thực hiện QSDĐ và các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về QSDĐ. Luật Đất đai năm 2013 đã dành hẳn một chương (Chương XI - Từ Điều 166 đến Điều 194) quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; bao gồm các quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng đất và các quyền và nghĩa vụ cụ thể của từng nhóm chủ thể sử dụng đất. Đặc điểm của quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất ở nước ta có nội hàm rộng hơn quyền sử dụng thông thường. Nó vượt khỏi khuôn khổ "chật hẹp" của quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản để tham gia vào các giao dịch dân sự trên thị trường; được sử dụng làm tài sản bảo đảm trong quan hệ thế chấp, bảo lãnh vay vốn tại ngân hàng, các tổ chức tín dụng; được sử dụng làm vốn góp liên doanh trong hoạt động sản xuất - kinh doanh.

QSDĐ mang một số đặc điểm cơ bản sau đây: 9 Thứ nhất, như phần trên đã phân tích, QSDĐ là một loại quyền về tài sản và được xác định giá trị và được phép chuyển đổi trên thị trường; Thứ hai, do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta nên QSDĐ được hình trên cơ sở quyền sở hữu toàn dân về đất đai. Điều này có nghĩa là người sử dụng đất có QSDĐ khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng ổn định lâu dài. Tuy nhiên, do pháp luật cho phép người sử dụng đất được chuyển QSDĐ (bao gồm các quyền năng: quyền chuyển đổi, quyền tặng cho, quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền cho thuê lại, quyền thừa kế QSDĐ; quyền thế chấp và quyền góp vốn bằng QSDĐ) nên QSDĐ tách khỏi quyền sở hữu đất đai và trở thành một loại quyền tương đối độc lập so với quyền sở hữu; Mặc dù, QSDĐ được tham gia vào các giao dịch chuyển nhượng trên thị trường song giữa quyền sở hữu toàn dân về đất đai và QSDĐ vẫn có sự khác nhau và chúng ta không thể đồng nhất giữa hai loại quyền này; bởi lẽ, giữa chúng có sự khác nhau cả về nội dung và ý nghĩa, cụ thể: - Quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu (có trước) còn QSDĐ đai là quyền phái sinh (có sau) xuất hiện khi được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, cho phép nhận chuyển QSDĐ hay công nhận QSDĐ; - Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ; còn QSDĐ đai là một loại quyền không trọn vẹn, không đầy đủ; Tính không trọn vẹn, không đầy đủ của QSDĐ thể hiện ở các khía cạnh sau: Một là, người sử dụng đất không có đầy đủ các quyền năng như Nhà nước với tính cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai; Hai là, không phải bất cứ người nào có QSDĐ hợp pháp cũng có quyền chuyển đổi, tặng cho, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ; Ví dụ: theo Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 thì chỉ hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức; đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, 10 được Nhà nước công nhận QSDĐ; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có quyền Chuyển đổi QSDĐ nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác. Còn các chủ thể sử dụng đất khác không được pháp luật cho hưởng quyền năng này; Hay Điều 175 Luật Đất đai năm 2013 quy định tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm chỉ có quyền bán, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với thuê mà không được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ thuê; Hơn nữa, không phải đối với bất cứ người sử dụng đất nào cũng có đầy đủ các quyền năng của chuyển QSDĐ do pháp luật đất đai quy định.

Về cơ bản, chỉ những người sử dụng đất theo các hình thức: giao đất trả tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, nhận chuyển nhượng QSDĐ … mới được pháp luật cho hưởng các quyền năng của chuyển QSDĐ; Ba là, quyền sở hữu đất đai là một loại quyền tồn tại độc lập còn QSDĐ lại là một loại quyền phụ thuộc. Tính phụ thuộc của QSDĐ thể hiện ở chỗ người sử dụng đất không được tự mình quyết định mọi vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng đất mà chỉ được quyết định một số vấn đề, còn cơ bản họ vẫn phải hành động theo ý chí của Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu đối với đất được giao; Ví dụ: Sau khi làm xong các thủ tục pháp luật để chuyển nhượng hoặc chuyển đổi QSDĐ… thì người nhận chuyển QSDĐ phải SDĐ theo đúng mục đích ban đầu trước khi chuyển giao, không được tùy tiện thay đổi mục đích sử dụng. Nếu làm trái quy định này được coi như là một hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật về đất đai và hậu quả của nó là Nhà nước sẽ thu hồi đất. Khái niệm và đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất 1.

Khái niệm về thừa kế quyền sử đất Trong đời sống thực tiễn, tài sản do cá nhân làm ra thuộc sở hữu của riêng họ. Pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân đối với tài sản. Điều này có 11 nghĩa là chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình; thậm chí trong trường hợp chết, họ cũng có toàn quyền quyết định việc để lại tài sản của mình cho những người còn sống tiếp tục chiếm hữu, sử dụng. Pháp luật gọi việc làm này là thừa kế.

Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn: "Thừa kế: Sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống; Thừa kế luôn gắn với sở hữu. Sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và thừa kế là phương tiện để duy trì, củng cố quan hệ sở hữu. Pháp luật quy định hai hình thức thừa kế: Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật" [40, tr. Trong lĩnh vực đất đai, vấn đề thừa kế QSDĐ được đặt ra khi Luật Đất đai năm 1993 được ban hành.

Việc ra đời chế định thừa kế QSDĐ nhằm đảm bảo tính ổn định, lâu dài trong việc sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân và gắn kết chặt chẽ người lao động với đất đai - tư liệu sản xuất quan trọng nhất. Vậy thừa kế QSDĐ là gì?; Câu hỏi này đã được BLDS năm 2015 và các công trình khoa học pháp lý trả lời; cụ thể: - Theo Điều 733 BLDS năm 2005: "Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai".

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ