CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VE HANH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MANH LIÊN QUAN DEN NHAN HIỆU TRONG THUONG MẠI ĐIỆN TU VÀ PHÁP LUẬT VẺ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIEN QUAN DEN NHAN HIỆU TRONG THUONG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử 1. Khái niệm, đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử 1. Khải niệm hành vì cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tứ (i) Khái quát về thương mại điện tứ, nhãn hiệu và hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, con người tiếp cận nhiều với mạng xã hội, Internet từ đó tạo điều kiện cho các loại hình kinh đoanh được mở rộng và đa dạng hóa - trong đó có thương mại điện tử. Theo Từ điển Anh — Anh Cambrige: E-commerce (is short for electronic commerce) có nghĩa là “the business of buying and selling goods and services on the internet”,! có thé dịch ra là hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ trên mạng. Tổ chức Thuong mại Thế giới (WTO) đưa ra, “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mang Internet”? Có thể thấy định nghĩa trên cũng hoàn toàn phù hợp đối đối với quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về ' https://dictionary.org/dictionary/english/e-commerce , truy cập ngày 15/10/2024 ?https://www.org/english/thewto_e/minist e/mell e/briefñng notes e/bfscom e.htm#:~:text=Electronie %20commerce%2C%200r%20e%2Dcommerce, Work%20programme , truy cập ngày 15/10/2024 thương mại điện tử giải thích: “Hoạ động thương mại điện tử là việc tiễn hành một phan hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mai bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viên thông di động hoặc các mạng mở khác”. Và cũng phù hợp với dịch vụ thương mại điện tử được quy định lại Khoản 3 Điều 1 Nghị định 85/2021/NĐ-CP có hiệu lực tử ngày 01/01/2022.
Như vậy, đây là một hình thức kinh doanh trực tuyến diễn ra trên các trang mạng Internet. Các cửa hàng bán sản phẩm trên các kênh thương mại điện tử có thể là cửa hàng online hoặc các doanh nghiệp. Các kênh thương mại điện tử có tác dụng giúp cho người đùng thực hiện các công việc mua bán hàng hóa trực tuyến. Mô hình kinh doanh thương mại điện tử được xem như một trong những giải pháp thúc day sự phát triển của nền kinh tế quốc gia.
Nhãn hiệu đóng một vai trò quan trọng và có giá trị lớn trên thị trường. Nhà sản xuất, các nhà bán buôn và bán lẻ, đại lý, cũng như người tiêu đùng đều sứ dụng nhãn hiệu như một công cụ hữu hiệu dé nhận diện, đặt hàng, quảng cáo và giao dịch hàng hóa. Mặc dù nhãn hiệu có nhiều chức năng khác nhau, nhưng có thể tóm gọn lại vào bốn mục tiêu chính: Một là, nhãn hiệu là công cụ "đánh dâu" những hàng hóa, dịch vụ mang chung một nhãn hiệu là xuất phát từ cùng một nguồn sản xuất. Hai là, nhãn hiệu đem lại cho người tiêu dùng sự dam bao về chất lượng các sản phẩm có nguồn gốc mà họ tin tưởng, bởi vì khi đã trở nên phô biến, được nhiều người mua, chất lượng và giá trị của loại hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đó đã được khẳng định trên thị trường.
Ba là, nhãn hiệu cho phép nhà sản xuất phân biệt hàng hóa, dịch vụ của họ với các đối thủ cạnh tranh khác. Bon là, nhãn hiệu giúp thúc đây sự phát triển của các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu”. Khi một dau hiệu đáp ứng đầy đủ các tiêu chí và chức năng của nhãn hiệu, thương nhân có thê lựa chọn và sử dụng nó đê găn liên với sản phâm và dịch vụ 3PGS.Vũ Thị Hải Yến (chủ biên, 2021), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxn Công an nhân dân, Hà Nội, tr 168, 169 của mình. Sự phát triển liên tục của đời sống kinh tế, văn hóa, và công nghệ, cùng với tính cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, tạo nên áp lực gia tang trong việc lựa chọn và sử dụng các dấu hiệu làm nhãn hiệu.
Điều này đòi hỏi cả những tiêu chuân khắt khe đối với bản thân dấu hiệu lẫn việc bảo vệ bởi hệ thống pháp luật của từng quốc gia. Các quy định pháp luật về nhãn hiệu nhằm bảo vệ uy tín và danh tiếng của các doanh nghiệp đã xây dựng được thương hiệu trên thị trường. Nhìn chung, pháp luật nhãn hiệu tập trung vào việc bảo đảm nhận diện và xác định nguồn gốc sản phẩm. Do đó, yếu tố "dùng dé phân biệt" là yêu cầu tối thiểu đối với bat kỳ dấu hiệu nào được công nhận là nhãn hiệu của doanh nghiệp.
Vì vậy, nhãn hiệu là các dấu hiệu được các chủ thể thương mại lựa chọn và sử dụng để thực hiện chức năng phân biệt hàng hóa và dịch vụ được sản xuất từ các nguồn khác nhau. Để nhận diện và xác định nhãn hiệu, cần xem xét và lầm rõ các điều kiện dé dấu hiệu đó có thể được báo hộ là nhãn hiệu. Nhãn hiệu được hiểu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. La một trong những đổi tượng được bảo hộ quyền SHTT, là một trong những chi dan thương mại được bảo hộ trong các đối tượng được hành vi cạnh tranh không lành mạnh đề cập theo điều quy định tại Điều 130 LSHTT 2005.
Trên thực tế, hành vi cạnh tranh dién ra rất đa dạng, có thể là hành vi cạnh tranh lành mạnh (CTLM), hay hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM). CTLM hiểu đơn giản là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thang giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh đoanh.” Đối với dang hành vi này, các doanh nghiệp trong thị trường không ngừng cải tiến, đối mới hàng hóa, dịch vụ nhằm hoàn thiện mình, từ đó đem lại các giá trị tích cực cho người tiêu dùng, xã hội. Tuy nhiên trên thực té, bên cạnh hành vi CTLM, thị trường luôn tồn tại hành vi cạnh tranh có tính chất ganh đua, mà ở đó, các chủ thể kinh doanh nâng cao năng lực của mình bang thái độ không trung thực, gian déi. Điều này được lý giải rang, bất kỳ doanh * Khoản 4 Điều 16 Văn ban hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ số 11/VBHN-VPQH ngày 08/07/2022 > Black's law Dictionary ( 9" edition), Thomson Reuters, 2009, tr.
Nguyén van nhu sau: “fair competition is open, equitable, and just competition between business competitors”. 10 nghiệp nào khi tham gia vào thị trường luôn muốn thị phần của mình trong thị trường đó được tối đa hóa. Muốn vậy, doanh nghiệp phải tìm cách chiếm lĩnh được thị trường. Khi đó, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ có xu hướng sử dụng thủ đoạn không minh bạch, lợi dụng thành quả đầu tư của chủ thể kinh doanh khác nham mang lại lợi nhuận cho ban thân mình, dẫn tới xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng cũng như cả nền kinh tế.
Các hành vi bất chính, thiếu thiện chí, trái ngược với những nguyên tắc của nền kinh tế như vậy được gọi là hành vi CTKLM. Hiện nay, khái niệm hành vi CTKLM có nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra. Song về cơ bản, khái niệm được thừa nhận rộng rãi nhất là khái niệm được ghi nhận tại Khoản 2 Điều 10bis Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp (SHCN): “Bát cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh”. Đối với khái niệm CTKLM trong Công ước Paris, một số ý kiến cho rằng, quy định CTKLM trong Công ước Paris là một quy định mở”, theo đó tiêu chí đánh giá quan trọng nhất về tính lành mạnh hay không lành mạnh của các hành vi cạnh tranh theo ghi nhận của Công ước là “các thông lệ trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại”.
Đây là tiêu chí không có sự 16 rang và thống nhất áp dụng giữa trên toàn thế giới bởi nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử của chính quốc gia đó.” Khi đó, mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện của mình, sẽ tự định đoạt về “thông lệ trung thực, thiện chi’ dựa trên các quy định của Công ước. Chang hạn, tại Bi và Luxembourg, luật về CTKLM sử dụng thuật ngữ “thông lệ thương mại trung thực”; tại Tây Ban Nha và Thụy Sĩ, “nguyên tắc ngay tình” lại là tiêu chí xác định hành vi; còn tại Hoa Kỳ, do thiếu các quy định pháp luật chuyên ngành, các tòa án đã định nghĩa CTLM là “các nguyên tắc giải quyết trung thực và công bằng” hoặc “đạo đức thị trường”.Š a Nguyễn Thị Kim Liên, Hanh vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu theo Luật Sở hữu tri tuệ năm 2005, Luận văn Thạc sĩ Luật học — Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2013, tr.26 ; Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2020, tr.281 Š Tổ chức SHTT thé giới, Cẩm nang sở hữu trí tuệ (Cục Sở hữu trí tuệ dich), 2001, tr.136 II Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng, quan niệm về hành vi CTKLM trong Công ước Paris còn hẹp, chủ yếu hướng tới các hành vi mang tính chất gian đối trong hoạt động thương mại, không bao hàm một số hành vi cũng được coi là các hành vi CTKLM trong pháp luật của nhiều quốc gia như hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, xâm phạm bí mật kinh doanh. bu Tuy nhiên, nhìn chung, Điều 10bis Công ước Paris chi đưa ra khái niệm khái quát về hành vi CTKLM, còn chi tiết các dạng hành vi hay cách thức xác định các dạng hành vi sẽ do các nước thành viên Công ước tự định đoạt. Tại Việt Nam, định nghĩa về CTKLM được quy định cụ thê lần đầu tiên trong LCT 2004.
Theo Khoản 4 Điều 3 LCT 2004: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thé gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dung”.