Luận văn: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh về nhãn hiệu trong thương mại điện tử

Luận văn về cạnh tranh không lành mạnh trên thương mại điện tử liên quan đến nhãn hiệu. Nghiên cứu dưới góc độ pháp luật cạnh tranh Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2024

118
19
13

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN NHÂN HIỆU TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1. Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử

1.2. Khái niệm, đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử

1.2.1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử

1.3. Phân loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu

1.4. Khái quát pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu trong thương mại

1.5. Nội dung và nguồn pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh đến nhãn hiệu trong thương mại

1.6. Mối quan hệ giữa pháp luật chồng cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử

2.2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh hành vì cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử theo Luật cạnh tranh

2.3. Thực trạng pháp luật quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử theo Luật sở hữu trí tuệ

2.4. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử

2.5. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hành vi vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử. Một số thuận lợi và bắt cập trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỤC THI PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

3.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử tại Việt Nam

3.2. Hoàn thiện pháp luật về quyên sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong mỗi trường thương mại điện tử

3.3. Hoàn thiện các tiêu chỉ xác định hành vì cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu

3.4. Giải pháp nham nâng cao hiệu qua thực thi pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử tại Việt Nam

3.5. Đối với các cơ quan nhà HƯỚC

3.6. Đối với san thương mại đIỆN ÍỨ

3.7. Đối với chủ thể sở hữu nhãn hiệu, chủ sở hữu website bản hàng trên

PHẦN MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan CTKLM nhãn hiệu TMĐT Rủi ro pháp lý cần biết

Trong bối cảnh bùng nổ của kinh tế số, hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử (TMĐT) đã trở thành một thách thức pháp lý nghiêm trọng. Đây là những hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, và các chuẩn mực kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác. Không giống thương mại truyền thống, môi trường TMĐT tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm lan truyền với tốc độ chóng mặt, phạm vi ảnh hưởng rộng và khó kiểm soát. Các hành vi này không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu công nghiệp mà còn trực tiếp làm suy giảm uy tín, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và làm méo mó môi trường cạnh tranh. Theo luận văn của tác giả Phạm Trung Kiên (2024), pháp luật cạnh tranh Việt Nam, cụ thể là Luật Cạnh tranh 2018 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022), tạo thành một khung pháp lý kép để điều chỉnh vấn đề này. Việc hiểu rõ bản chất, đặc điểm và các quy định pháp luật liên quan là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để các doanh nghiệp xây dựng giải pháp pháp lý cạnh tranh hiệu quả, bảo vệ tài sản vô hình quan trọng nhất của mình trên không gian mạng. Đây không chỉ là vấn đề bảo hộ thương hiệu đơn thuần, mà còn là yếu tố sống còn quyết định lợi thế cạnh tranh bền vững trong kỷ nguyên số.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của CTKLM nhãn hiệu trong TMĐT

Hành vi CTKLM nhãn hiệu TMĐT được hiểu là các hành vi sử dụng các yếu tố liên quan đến nhãn hiệu của đối thủ trên không gian mạng nhằm mục đích cạnh tranh không chính đáng. Đặc điểm nổi bật của hành vi này trong TMĐT bao gồm: (1) Phương thức thực hiện tinh vi thông qua công cụ số như quảng cáo từ khóa, SEO, tên miền tương tự; (2) Tốc độ lan truyền nhanh và phạm vi ảnh hưởng rộng lớn, có thể tiếp cận hàng triệu người dùng trong thời gian ngắn; (3) Tính ẩn danh cao của chủ thể vi phạm, gây khó khăn cho việc thu thập bằng chứng vi phạm và xử lý. Những đặc điểm này đòi hỏi một cách tiếp cận pháp lý toàn diện, kết hợp giữa quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính và Luật Sở hữu trí tuệ về xâm phạm nhãn hiệu.

1.2. Mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ

Pháp luật chống CTKLM và pháp luật về bảo hộ thương hiệu có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ. Luật Sở hữu trí tuệ tập trung bảo vệ quyền tài sản đối với nhãn hiệu đã được đăng ký, trong khi Luật Cạnh tranh bảo vệ trật tự thị trường và chống lại các hành vi gây rối loạn môi trường kinh doanh, ngay cả khi đối tượng bị xâm phạm chưa được bảo hộ chính thức. Luận văn nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hành vi xâm phạm nhãn hiệu trên sàn thương mại điện tử thường đồng thời cấu thành hai vi phạm: xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (theo Luật SHTT) và lôi kéo khách hàng bất chính (theo Luật Cạnh tranh). Sự giao thoa này tạo ra một cơ chế bảo vệ kép, cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu lựa chọn con đường pháp lý phù hợp nhất để giải quyết tranh chấp thương hiệu.

II. Top 3 hình thức xâm phạm nhãn hiệu TMĐT phổ biến nhất

Thực tiễn cho thấy, các hành vi CTKLM nhãn hiệu TMĐT ngày càng đa dạng và tinh vi, tập trung vào việc lợi dụng uy tín của các thương hiệu đã có tên tuổi để trục lợi. Việc nhận diện chính xác các hình thức vi phạm là nền tảng để doanh nghiệp có thể chủ động phòng chống và yêu cầu xử lý kịp thời. Các hành vi này không chỉ dừng lại ở việc bán hàng giả hàng nhái mà còn mở rộng sang các kỹ thuật số phức tạp hơn, gây ra thiệt hại kép về cả doanh thu và hình ảnh thương hiệu. Nghiên cứu của Phạm Trung Kiên (2024) đã hệ thống hóa các hành vi này dựa trên quy định tại Điều 130 Luật SHTT. Các sàn thương mại điện tử lớn như Shopee, Lazada trở thành môi trường lý tưởng cho các hành vi này phát triển do lượng người dùng khổng lồ và cơ chế kiểm duyệt còn tồn tại kẽ hở. Việc hiểu rõ từng hình thức vi phạm giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược giám sát thương hiệu chủ động và chuẩn bị các bằng chứng vi phạm thuyết phục khi cần đến sự can thiệp của pháp luật. Đây là những thách thức trực tiếp đối với nỗ lực xây dựng một môi trường cạnh tranh không lành mạnh và minh bạch.

2.1. Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn

Đây là hành vi phổ biến nhất, bao gồm việc sử dụng tên, logo, bao bì, kiểu dáng sản phẩm trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được biết đến. Trên TMĐT, hành vi này biểu hiện qua việc đăng bán các sản phẩm có hình ảnh, tên gọi cố tình bắt chước thương hiệu nổi tiếng. Mục đích là khiến người tiêu dùng tin rằng họ đang mua sản phẩm chính hãng hoặc sản phẩm có liên quan, từ đó trục lợi từ uy tín của người khác. Ví dụ điển hình là việc một cửa hàng sử dụng tên "Adibas" hoặc thiết kế logo ba sọc tương tự Adidas. Việc này không chỉ cấu thành hành vi xâm phạm nhãn hiệu mà còn là hành vi lôi kéo khách hàng bất chính điển hình, cần phải có biện pháp gỡ bỏ sản phẩm vi phạm ngay lập tức.

2.2. Chiếm hữu và sử dụng tên miền tương tự nhãn hiệu

Hành vi này liên quan đến việc đăng ký các tên miền (domain) trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại của doanh nghiệp khác. Mục đích có thể là để bán lại tên miền với giá cao, chuyển hướng người dùng đến website bán hàng giả hàng nhái, hoặc làm giảm uy tín của thương hiệu chính hãng. Ví dụ, một đối thủ đăng ký tên miền thegioididong-store.com để bán điện thoại không rõ nguồn gốc. Theo Luật SHTT sửa đổi 2022, hành vi "chiếm hữu, sử dụng tên miền" với dụng ý xấu nhằm thu lợi bất chính được xác định rõ là một dạng CTKLM, tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho việc xử lý các tranh chấp thương hiệu liên quan đến tên miền.

2.3. Sử dụng nhãn hiệu làm từ khóa quảng cáo trực tuyến

Đây là một thủ đoạn tinh vi trong marketing kỹ thuật số. Đối thủ cạnh tranh mua tên nhãn hiệu của doanh nghiệp khác làm từ khóa quảng cáo trên các nền tảng như Google Ads, Facebook Ads. Khi người dùng tìm kiếm nhãn hiệu chính hãng, kết quả quảng cáo của đối thủ sẽ hiển thị ở vị trí đầu tiên, lôi kéo khách hàng tiềm năng về trang của họ. Mặc dù hành vi này chưa được quy định rõ ràng trong luật, nó vẫn có thể bị xem xét dưới góc độ lôi kéo khách hàng bất chính hoặc các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác, vì nó lợi dụng trực tiếp vào danh tiếng và nỗ lực marketing của đối thủ để thu hút khách hàng.

III. Giải pháp từ Luật Cạnh tranh Xử lý CTKLM nhãn hiệu

Luật Cạnh tranh 2018 cung cấp một giải pháp pháp lý cạnh tranh quan trọng để xử lý hành vi CTKLM nhãn hiệu TMĐT thông qua quy định về "hành vi lôi kéo khách hàng bất chính" tại Điều 45. Cách tiếp cận này không tập trung vào việc nhãn hiệu có được đăng ký nhãn hiệu hay không, mà tập trung vào bản chất hành vi: liệu nó có trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực và có gây nhầm lẫn cho khách hàng nhằm thu hút họ từ đối thủ cạnh tranh hay không. Điều này tạo ra một cơ chế bảo vệ rộng hơn, đặc biệt hữu ích trong các trường hợp nhãn hiệu chưa được bảo hộ chính thức nhưng đã có uy tín nhất định trên thị trường. Cơ quan có thẩm quyền xử lý là Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, với một quy trình tố tụng cạnh tranh rõ ràng từ điều tra đến ra quyết định xử lý. Theo phân tích trong tài liệu nghiên cứu, việc áp dụng Luật Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải chứng minh được hành vi của đối thủ đã gây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại, làm sai lệch nhận thức của khách hàng, từ đó tác động đến quyết định mua sắm của họ. Giải pháp này đặc biệt hiệu quả để chống lại các hành vi tinh vi như sử dụng từ khóa quảng cáo hay tạo các trang bán hàng có giao diện gây nhầm lẫn.

3.1. Xác định hành vi lôi kéo khách hàng bất chính theo Điều 45

Điểm a Khoản 5 Điều 45 LCT 2018 cấm hành vi "đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ... nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác". Trong bối cảnh TMĐT, việc một gian hàng sử dụng hình ảnh, logo, slogan tương tự thương hiệu khác chính là hành vi đưa thông tin gây nhầm lẫn. Yếu tố cốt lõi để xác định vi phạm là mục đích "thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác" và hậu quả "gây nhầm lẫn". Doanh nghiệp cần thu thập các bằng chứng vi phạm như ảnh chụp màn hình website, quảng cáo, phản hồi của khách hàng để chứng minh hai yếu tố này.

3.2. Thẩm quyền và quy trình xử lý của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia

Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia là cơ quan chuyên trách xử lý các vụ việc cạnh tranh, bao gồm cả hành vi lôi kéo khách hàng bất chính. Quy trình xử lý bắt đầu từ việc tiếp nhận hồ sơ khiếu nại, tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ và ra quyết định xử lý. Thời hạn điều tra một vụ việc CTKLM là 60 ngày, có thể gia hạn. Doanh nghiệp bị ảnh hưởng có quyền khiếu nại và cung cấp thông tin. Các chế tài xử phạt có thể bao gồm phạt tiền (lên đến 200.000.000 VNĐ đối với cá nhân và 400.000.000 VNĐ đối với tổ chức), buộc cải chính công khai và các biện pháp khắc phục hậu quả khác. Việc tìm đến sự tư vấn pháp lý TMĐT từ các luật sư nhãn hiệu là cần thiết để đảm bảo hồ sơ khiếu nại chặt chẽ.

IV. Cách bảo hộ thương hiệu TMĐT theo Luật Sở hữu trí tuệ

Bên cạnh Luật Cạnh tranh, Luật Sở hữu trí tuệ là công cụ pháp lý trực tiếp và mạnh mẽ nhất để bảo hộ thương hiệu trên các sàn thương mại điện tử. Giải pháp này tập trung vào việc bảo vệ quyền tài sản đã được xác lập của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu. Nền tảng của cơ chế này là việc đăng ký nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ. Một khi nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu có toàn quyền sử dụng và ngăn cấm người khác thực hiện các hành vi xâm phạm nhãn hiệu được quy định tại Điều 129 và hành vi CTKLM tại Điều 130 của Luật. So với Luật Cạnh tranh, việc xử lý vi phạm theo Luật SHTT thường nhanh chóng hơn, đặc biệt là các thủ tục yêu cầu hành chính tại các cơ quan thực thi như Thanh tra Bộ KH&CN, Quản lý thị trường. Hơn nữa, việc có văn bằng bảo hộ là một bằng chứng vi phạm không thể chối cãi, giúp doanh nghiệp dễ dàng yêu cầu các sàn TMĐT như Shopee, Lazada thực hiện chính sách thương hiệu của sàn và tiến hành gỡ bỏ sản phẩm vi phạm.

4.1. Tầm quan trọng của thủ tục đăng ký nhãn hiệu độc quyền

Việc đăng ký nhãn hiệu là bước đi chiến lược để xác lập quyền sở hữu độc quyền. Quá trình này không chỉ mang lại sự bảo hộ pháp lý chính thức mà còn là một tuyên bố về quyền ưu tiên sử dụng nhãn hiệu trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Khi có tranh chấp xảy ra, văn bằng bảo hộ là cơ sở pháp lý vững chắc nhất. Nó giúp doanh nghiệp chứng minh quyền của mình một cách rõ ràng, rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp thương hiệu và tăng cường vị thế trong các cuộc đàm phán. Hơn nữa, đây là điều kiện tiên quyết để tham gia các chương trình bảo vệ thương hiệu của các sàn TMĐT lớn (như Shopee Mall, LazMall).

4.2. Các biện pháp xử lý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

Khi phát hiện hành vi xâm phạm nhãn hiệu, chủ sở hữu có thể áp dụng các biện pháp xử lý sau: (1) Biện pháp dân sự: Khởi kiện ra tòa án yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại. (2) Biện pháp hành chính: Yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan) xử phạt vi phạm hành chính. Đây là biện pháp phổ biến và hiệu quả trong thực tế. (3) Biện pháp hình sự: Áp dụng đối với các hành vi xâm phạm có quy mô thương mại lớn, đặc biệt là sản xuất và buôn bán hàng giả hàng nhái. Việc lựa chọn biện pháp nào phụ thuộc vào mức độ và tính chất của hành vi vi phạm.

4.3. Hướng dẫn báo cáo vi phạm trên Shopee và Lazada

Các sàn thương mại điện tử lớn đều có cổng thông tin riêng để chủ sở hữu báo cáo vi phạm sở hữu trí tuệ. Quy trình chung bao gồm: (1) Đăng ký tài khoản bảo vệ thương hiệu trên cổng thông tin của sàn (ví dụ: Shopee Brand IP Portal, Lazada IPP Platform). (2) Cung cấp giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhãn hiệu (văn bằng bảo hộ). (3) Gửi khiếu nại, chỉ ra các sản phẩm/gian hàng vi phạm và cung cấp bằng chứng vi phạm (link sản phẩm, hình ảnh so sánh). Các sàn thường sẽ xem xét và thực hiện gỡ bỏ sản phẩm vi phạm trong vòng vài ngày làm việc. Đây là giải pháp nhanh chóng để ngăn chặn hành vi chống bán phá giá và bảo vệ người tiêu dùng.

V. Case Study Quy trình xử lý tranh chấp nhãn hiệu TMĐT

Để cung cấp một cái nhìn thực tiễn về giải pháp pháp lý cạnh tranh, việc phân tích một quy trình xử lý tranh chấp thương hiệu điển hình là vô cùng cần thiết. Giả sử Doanh nghiệp A, chủ sở hữu nhãn hiệu thời trang "Elegance" đã được bảo hộ, phát hiện một cửa hàng trên Shopee đang bán sản phẩm giống hệt về thiết kế và sử dụng tên "Elegance Fashion" để gây nhầm lẫn. Quy trình xử lý sẽ là một chuỗi các hành động pháp lý và kỹ thuật được phối hợp nhịp nhàng. Bước đầu tiên và quan trọng nhất là thu thập bằng chứng một cách có hệ thống. Tiếp theo, doanh nghiệp sẽ phải lựa chọn kênh xử lý phù hợp nhất: thông qua cơ chế của sàn TMĐT, thông qua cơ quan hành chính nhà nước, hay khởi kiện ra tòa. Mỗi lựa chọn đều có ưu và nhược điểm riêng về thời gian, chi phí và hiệu quả. Việc có sự tư vấn pháp lý TMĐT từ một luật sư nhãn hiệu chuyên nghiệp sẽ giúp Doanh nghiệp A điều hướng quy trình này một cách hiệu quả, tối đa hóa khả năng bảo vệ quyền lợi và giảm thiểu thiệt hại do hành vi CTKLM nhãn hiệu TMĐT gây ra.

5.1. Bước 1 Thu thập và lập vi bằng các bằng chứng vi phạm

Đây là bước nền tảng. Doanh nghiệp A cần thu thập đầy đủ các bằng chứng vi phạm một cách hợp pháp. Các bằng chứng bao gồm: ảnh chụp màn hình gian hàng, các sản phẩm vi phạm, các đoạn chat với người bán, các quảng cáo liên quan. Để tăng tính pháp lý, Doanh nghiệp A nên sử dụng dịch vụ lập vi bằng của Thừa phát lại. Vi bằng sẽ ghi nhận lại tình trạng vi phạm tại một thời điểm cụ thể, là một nguồn chứng cứ khách quan và có giá trị cao khi làm việc với cơ quan chức năng hoặc tòa án. Việc này đảm bảo bằng chứng không bị mất đi nếu đối thủ gỡ bỏ sản phẩm vi phạm.

5.2. Bước 2 Gửi thư cảnh báo và yêu cầu chấm dứt vi phạm

Trước khi tiến hành các biện pháp mạnh hơn, Doanh nghiệp A có thể gửi một thư cảnh báo (thư khuyến cáo) chính thức do luật sư nhãn hiệu soạn thảo tới bên vi phạm. Thư này nêu rõ quyền sở hữu trí tuệ đã được xác lập của Doanh nghiệp A, chỉ ra các hành vi vi phạm cụ thể, và yêu cầu bên vi phạm chấm dứt ngay lập tức mọi hành vi, gỡ bỏ sản phẩm và cam kết không tái phạm trong một thời hạn nhất định. Biện pháp này đôi khi mang lại hiệu quả nhanh chóng và ít tốn kém, thể hiện thiện chí giải quyết tranh chấp của Doanh nghiệp A.

5.3. Bước 3 Lựa chọn cơ quan và nộp đơn yêu cầu xử lý

Nếu thư cảnh báo không hiệu quả, Doanh nghiệp A sẽ tiến hành nộp đơn yêu cầu xử lý. Có hai hướng chính: (1) Nộp đơn lên cơ quan hành chính (Thanh tra Khoa học và Công nghệ) để yêu cầu xử phạt vi phạm hành chính. Đây là lựa chọn phổ biến vì thủ tục nhanh gọn. (2) Nộp đơn khiếu nại lên Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia nếu muốn xử lý theo hướng hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hồ sơ yêu cầu phải bao gồm đơn, văn bằng bảo hộ, vi bằng và các bằng chứng khác. Cơ quan chức năng sẽ thụ lý và tiến hành xác minh, kiểm tra và ra quyết định xử phạt nếu có đủ căn cứ.

11/09/2025
Luận văn thạc sĩ luật học hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử dưới góc độ pháp luật cạnh tranh việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VE HANH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MANH LIÊN QUAN DEN NHAN HIỆU TRONG THUONG MẠI ĐIỆN TU VÀ PHÁP LUẬT VẺ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIEN QUAN DEN NHAN HIỆU TRONG THUONG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử 1. Khái niệm, đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tử 1. Khải niệm hành vì cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong thương mại điện tứ (i) Khái quát về thương mại điện tứ, nhãn hiệu và hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ, con người tiếp cận nhiều với mạng xã hội, Internet từ đó tạo điều kiện cho các loại hình kinh đoanh được mở rộng và đa dạng hóa - trong đó có thương mại điện tử. Theo Từ điển Anh — Anh Cambrige: E-commerce (is short for electronic commerce) có nghĩa là “the business of buying and selling goods and services on the internet”,! có thé dịch ra là hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ trên mạng. Tổ chức Thuong mại Thế giới (WTO) đưa ra, “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mang Internet”? Có thể thấy định nghĩa trên cũng hoàn toàn phù hợp đối đối với quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về ' https://dictionary.org/dictionary/english/e-commerce , truy cập ngày 15/10/2024 ?https://www.org/english/thewto_e/minist e/mell e/briefñng notes e/bfscom e.htm#:~:text=Electronie %20commerce%2C%200r%20e%2Dcommerce, Work%20programme , truy cập ngày 15/10/2024 thương mại điện tử giải thích: “Hoạ động thương mại điện tử là việc tiễn hành một phan hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mai bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viên thông di động hoặc các mạng mở khác”. Và cũng phù hợp với dịch vụ thương mại điện tử được quy định lại Khoản 3 Điều 1 Nghị định 85/2021/NĐ-CP có hiệu lực tử ngày 01/01/2022.

Như vậy, đây là một hình thức kinh doanh trực tuyến diễn ra trên các trang mạng Internet. Các cửa hàng bán sản phẩm trên các kênh thương mại điện tử có thể là cửa hàng online hoặc các doanh nghiệp. Các kênh thương mại điện tử có tác dụng giúp cho người đùng thực hiện các công việc mua bán hàng hóa trực tuyến. Mô hình kinh doanh thương mại điện tử được xem như một trong những giải pháp thúc day sự phát triển của nền kinh tế quốc gia.

Nhãn hiệu đóng một vai trò quan trọng và có giá trị lớn trên thị trường. Nhà sản xuất, các nhà bán buôn và bán lẻ, đại lý, cũng như người tiêu đùng đều sứ dụng nhãn hiệu như một công cụ hữu hiệu dé nhận diện, đặt hàng, quảng cáo và giao dịch hàng hóa. Mặc dù nhãn hiệu có nhiều chức năng khác nhau, nhưng có thể tóm gọn lại vào bốn mục tiêu chính: Một là, nhãn hiệu là công cụ "đánh dâu" những hàng hóa, dịch vụ mang chung một nhãn hiệu là xuất phát từ cùng một nguồn sản xuất. Hai là, nhãn hiệu đem lại cho người tiêu dùng sự dam bao về chất lượng các sản phẩm có nguồn gốc mà họ tin tưởng, bởi vì khi đã trở nên phô biến, được nhiều người mua, chất lượng và giá trị của loại hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đó đã được khẳng định trên thị trường.

Ba là, nhãn hiệu cho phép nhà sản xuất phân biệt hàng hóa, dịch vụ của họ với các đối thủ cạnh tranh khác. Bon là, nhãn hiệu giúp thúc đây sự phát triển của các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu”. Khi một dau hiệu đáp ứng đầy đủ các tiêu chí và chức năng của nhãn hiệu, thương nhân có thê lựa chọn và sử dụng nó đê găn liên với sản phâm và dịch vụ 3PGS.Vũ Thị Hải Yến (chủ biên, 2021), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxn Công an nhân dân, Hà Nội, tr 168, 169 của mình. Sự phát triển liên tục của đời sống kinh tế, văn hóa, và công nghệ, cùng với tính cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, tạo nên áp lực gia tang trong việc lựa chọn và sử dụng các dấu hiệu làm nhãn hiệu.

Điều này đòi hỏi cả những tiêu chuân khắt khe đối với bản thân dấu hiệu lẫn việc bảo vệ bởi hệ thống pháp luật của từng quốc gia. Các quy định pháp luật về nhãn hiệu nhằm bảo vệ uy tín và danh tiếng của các doanh nghiệp đã xây dựng được thương hiệu trên thị trường. Nhìn chung, pháp luật nhãn hiệu tập trung vào việc bảo đảm nhận diện và xác định nguồn gốc sản phẩm. Do đó, yếu tố "dùng dé phân biệt" là yêu cầu tối thiểu đối với bat kỳ dấu hiệu nào được công nhận là nhãn hiệu của doanh nghiệp.

Vì vậy, nhãn hiệu là các dấu hiệu được các chủ thể thương mại lựa chọn và sử dụng để thực hiện chức năng phân biệt hàng hóa và dịch vụ được sản xuất từ các nguồn khác nhau. Để nhận diện và xác định nhãn hiệu, cần xem xét và lầm rõ các điều kiện dé dấu hiệu đó có thể được báo hộ là nhãn hiệu. Nhãn hiệu được hiểu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. La một trong những đổi tượng được bảo hộ quyền SHTT, là một trong những chi dan thương mại được bảo hộ trong các đối tượng được hành vi cạnh tranh không lành mạnh đề cập theo điều quy định tại Điều 130 LSHTT 2005.

Trên thực tế, hành vi cạnh tranh dién ra rất đa dạng, có thể là hành vi cạnh tranh lành mạnh (CTLM), hay hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM). CTLM hiểu đơn giản là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thang giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh đoanh.” Đối với dang hành vi này, các doanh nghiệp trong thị trường không ngừng cải tiến, đối mới hàng hóa, dịch vụ nhằm hoàn thiện mình, từ đó đem lại các giá trị tích cực cho người tiêu dùng, xã hội. Tuy nhiên trên thực té, bên cạnh hành vi CTLM, thị trường luôn tồn tại hành vi cạnh tranh có tính chất ganh đua, mà ở đó, các chủ thể kinh doanh nâng cao năng lực của mình bang thái độ không trung thực, gian déi. Điều này được lý giải rang, bất kỳ doanh * Khoản 4 Điều 16 Văn ban hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ số 11/VBHN-VPQH ngày 08/07/2022 > Black's law Dictionary ( 9" edition), Thomson Reuters, 2009, tr.

Nguyén van nhu sau: “fair competition is open, equitable, and just competition between business competitors”. 10 nghiệp nào khi tham gia vào thị trường luôn muốn thị phần của mình trong thị trường đó được tối đa hóa. Muốn vậy, doanh nghiệp phải tìm cách chiếm lĩnh được thị trường. Khi đó, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ có xu hướng sử dụng thủ đoạn không minh bạch, lợi dụng thành quả đầu tư của chủ thể kinh doanh khác nham mang lại lợi nhuận cho ban thân mình, dẫn tới xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng cũng như cả nền kinh tế.

Các hành vi bất chính, thiếu thiện chí, trái ngược với những nguyên tắc của nền kinh tế như vậy được gọi là hành vi CTKLM. Hiện nay, khái niệm hành vi CTKLM có nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra. Song về cơ bản, khái niệm được thừa nhận rộng rãi nhất là khái niệm được ghi nhận tại Khoản 2 Điều 10bis Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp (SHCN): “Bát cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh”. Đối với khái niệm CTKLM trong Công ước Paris, một số ý kiến cho rằng, quy định CTKLM trong Công ước Paris là một quy định mở”, theo đó tiêu chí đánh giá quan trọng nhất về tính lành mạnh hay không lành mạnh của các hành vi cạnh tranh theo ghi nhận của Công ước là “các thông lệ trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại”.

Đây là tiêu chí không có sự 16 rang và thống nhất áp dụng giữa trên toàn thế giới bởi nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử của chính quốc gia đó.” Khi đó, mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện của mình, sẽ tự định đoạt về “thông lệ trung thực, thiện chi’ dựa trên các quy định của Công ước. Chang hạn, tại Bi và Luxembourg, luật về CTKLM sử dụng thuật ngữ “thông lệ thương mại trung thực”; tại Tây Ban Nha và Thụy Sĩ, “nguyên tắc ngay tình” lại là tiêu chí xác định hành vi; còn tại Hoa Kỳ, do thiếu các quy định pháp luật chuyên ngành, các tòa án đã định nghĩa CTLM là “các nguyên tắc giải quyết trung thực và công bằng” hoặc “đạo đức thị trường”.Š a Nguyễn Thị Kim Liên, Hanh vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu theo Luật Sở hữu tri tuệ năm 2005, Luận văn Thạc sĩ Luật học — Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2013, tr.26 ; Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2020, tr.281 Š Tổ chức SHTT thé giới, Cẩm nang sở hữu trí tuệ (Cục Sở hữu trí tuệ dich), 2001, tr.136 II Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng, quan niệm về hành vi CTKLM trong Công ước Paris còn hẹp, chủ yếu hướng tới các hành vi mang tính chất gian đối trong hoạt động thương mại, không bao hàm một số hành vi cũng được coi là các hành vi CTKLM trong pháp luật của nhiều quốc gia như hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, xâm phạm bí mật kinh doanh. bu Tuy nhiên, nhìn chung, Điều 10bis Công ước Paris chi đưa ra khái niệm khái quát về hành vi CTKLM, còn chi tiết các dạng hành vi hay cách thức xác định các dạng hành vi sẽ do các nước thành viên Công ước tự định đoạt. Tại Việt Nam, định nghĩa về CTKLM được quy định cụ thê lần đầu tiên trong LCT 2004.

Theo Khoản 4 Điều 3 LCT 2004: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thé gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dung”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ