Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dan tộc thiểu số khu vực Tây Bắc Việt Nam. Chương 2: Thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiêu số khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay. Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay. 5 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU LIEN QUAN DEN DE TAI LUAN AN VA NHUNG VAN DE DAT RA CHO LUAN AN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý Là đề tài mang nhiều giá trị cả về khoa học, lý luận và thực tiễn, TGPL từ lâu đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiêu thế hệ trong và ngoài nước dưới nhiều cấp độ nghiên cứu khác nhau như sách chuyên khảo, bài báo khoa học, đề tài nghiên cứu các cấp, với nhiều cách tiếp cận đa dạng, phong phú nhằm vào những mục đích cụ thể nhất định. Dù dưới cách tiếp cận nào thì các công trình nghiên cứu đều mang lại nhiều giá trị cho ngành khoa học pháp lý nói chung và cho. để tài TGPL nói riêng.
Đặc biệt, các đề tài đã có những đóng góp nhất định đẻ hoàn thiện lý luận về TGPL, làm cơ sở đề thực hiện TGPL trong thực tiễn tại các quốc gia cũng như cho từng nhóm đối tượng đặc thù. Về khải niệm trợ giúp pháp lý Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP) là một tổ chức trực thuộc Liên Hợp quốc thực hiện nhiều nhiệm vụ trọng tâm là tuyên truyền vận động cho sự đổi mới và là cầu nối giữa các nước để giúp xây dựng cuộc sống tốt đẹp hon’. UNDP là một trong những tổ chức quốc tế có những đóng góp to lớn nhất và có tầm ảnh hưởng nhất dé thúc day hoạt động TGPL trên toàn cầu. Công trình đáng chú ý gần đây nhất của UNDP về TGPL là Bộ công trình *Nghiên cứu toàn câu về trợ giúp pháp lý" (The Global Study on Legal Aid).
Bộ công trình này được ƯNDP thực hiện cùng sự hỗ trợ của Văn phòng Liên Hợp quốc về phòng chống ma tuý và tội phạm (UNODC) với nỗ lực thiết lập những hiểu biết cơ bản, nên tảng về việc nhận điện và các biểu hiện của hoạt động TGPL trong các vụ án dân sự, hình sự và hành chính trên toàn thế giới. Toan bộ dữ liệu và kết quả của Bộ công trình nghiên cứu dựa trên sự phản hồi khảo sát của các quốc gia là thành viên Liên Hợp quốc và các chuyên gia độc lập ở 106 quốc gia, đại diện cho hon một nửa (53%) các quốc gia trên tất cả các khu vực ' UNDP, “Sustainable Development Goals” đăng tải trên website chính thức của UNDP, wwav,undp. 6 của thể giới”. Bộ công trình nghiên cứu này gồm ba công trình nghiên cứu: (i) Báo cáo toàn cầu; (ii) Những nghiên cứu điền hình (iii) Hồ sơ quốc gia.
Nhìn chung, Bộ tài liệu này đã cung cấp toàn diện những nội dung căn bản của hoạt động TGPL. Cụ thể: công trình nghiên cứu “Báo cáo toàn cầu” tiếp cận van để từ những yếu tố căn bản nhất như khái niệm TGPL (trong đó đã đưa ra định nghĩa về TGPL), khung pháp lý quốc tế cho hoạt động TGPL, cách thức thiết lập quyền TGPL ở cấp độ quốc gia, tong quan các cách tiếp cận việc tổ chức và thực hiện hoạt động TGPL. Cách giải quyết đề tài này đã đưa ra cách nhìn chung nhất về hoạt động TGPL trên phạm vi toản thé giới, trong đó có các quốc gia dang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên, khái niệm này chưa chuẩn mực với trình độ phát triển của các quốc gia, chưa đủ độ bao quát đối với các quốc gia dang phát triển - nơi mà hoạt động TGPL thực sự đúng ý nghĩa của nó.
Do vậy, cách tiếp cận khái niệm TGPL, khung pháp lý, cách tiếp cận việc tô chức và thực hiện hoạt động TGPL theo nghiên cứu của đề tài này tại Việt Nam là khó khả thi và đạt hiệu quả thiết thực. Đối với, công trình “Hồ sơ quốc gia”, tác giả đánh giá cao cách thức thể hiện vấn đề của công trình này khi mô hình hoá các nội dung truyền tải dưới dạng hình ảnh. Tuy nhiên, việc nghiên cứu hoạt động TGPL mới chỉ dừng lại ở tầm vĩ mô mà chưa đi sâu nghiên cứu những điểm đặc thù của từng nhóm đối tượng là một hạn chế của bộ tài liệu. Đặc biệt khi Việt Nam nói chung và nhóm đối tượng thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án nói riêng là đồng bào DTTS khu vực Tây Bắc thì không thuộc nhóm đối tượng được nghiên cứu kỹ lưỡng hoặc đối tượng đặc thù như một ví dụ điển hình để đánh giá.
trong quá trình hình thành, phát triển 20 năm kề từ thời điểm hoạt động TGPL xuất hiện, khoa học pháp lý ghi nhận có những đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ được nhắc đến với các dấu mốc quan trong phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn đặt ra trong từng giai đoạn, cụ thể như sau: - Đề tài “M6 hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay” do Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp chủ trì, Tạ Thị Minh Lý làm chủ nhiệm đề tài, thực hiện từ năm 1996 đến 1998. Trong công trình này, nhóm tác giả đã xây dựng được khái niệm TGPL, đưa ra hai 3 UNDP (2016), Global Study on Legal Aid - Country Profiles, United Nation, US, tr. 7 cách hiểu về khái niệm TGPL. Theo nghĩa rộng, TGPL được hiểu là cung cấp dịch vụ pháp lý của nhà nước và xã hội cho người nghèo, đối tượng chính sách và déng bào DTTS thông qua các hình thức: tư vấn pháp lý, đại điện, bào chữa nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội.
Theo nghĩa hẹp, TGPL là sự giúp đỡ của các tô chức thực hiện trợ giúp pháp luật của nhà nước cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào DTTS tiếp cận với các dich vụ pháp lý (tư vấn pháp lý, đại diện, bào chữa), nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội”. Từ hai góc tiếp cận trên, dé tài đã đưa ra cách hiểu chung nhất về TGPL là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý của Nhà nước miễn phí cho những người có hoàn cảnh khó khăn, không đủ kha năng dé sử dung dich vụ pháp lý có thu phí nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội”. Với cách tiếp cập này, khái niệm TGPL còn chưa chuẩn và không bao quát hết đối với hoạt động TGPL tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, do đó dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn, khái niệm TGPL của đề tài này không còn phù hợp với tình hình mới. - Luận án Tiến sĩ luật học “Quản bi nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay” thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật của tác giả Nguyễn Văn Tùng, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2007; Luận án Tiến sĩ luật học "Thue hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý: trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật của tác giả Nguyễn Huỳnh Huyện, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012: Các luận án này đều xây dựng khái niệm TGPL, tuy cách diễn đạt có khác nhau, nhưng nhìn chung đều đề cập những nội hàm cơ bản của khái niệm này như: điều chỉnh tất cả các hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo và các đối tượng.
thuộc điện người được TGPL khác, bao. gồm cả TGPL do Nhà nước bảo đảm kinh phí và TGPL của xã hội. Các luận án đã thẻ hiện tương đối đầy đủ nội hàm của khái > Viện Nghiên cửu Khoa học Pháp ly - Bộ Tư pháp (1998), M6 hinh tổ chite và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay, NXB Tư pháp, ` Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp (1998), M6 hình 16 chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện biên nay, NXB Tư pháp, Hà Nội. 8 niệm nhưng lại thiên nhiều về ý nghĩa va vai trò của TGPL, chưa làm rõ các loại chủ thể của quan hệ pháp luật (chủ thé chịu trách nhiệm và chủ thé thực hiện).
~ Đặc san TGPL, số 10/2006 “Khái niệm trợ giúp pháp lý, một số vấn đề cần bàn thêm” của TS. Ta Thị Minh Lý: Trong bài viết này, tác giả đã xây dựng khái niệm TGPL, theo đó, khái niệm TGPL được hiểu là cùng cấp địch vụ pháp lý của nha nước và xã hội cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bao DTTS thông qua các hình thức: tư vấn pháp lý, đại diện, bào chữa nhằm bảo đảm cho mọi công dan đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã Tom lại, nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã dé cập khái niệm TGPL; nhìn chung, các cách hiểu này đã thể hiện ba tính chất của TGPL là: kinh tế, pháp lý và nhân đạo. Tính kinh té, tính nhân đạo thẻ hiện ở chỗ hoạt động này nhằm giúp đỡ cho những người không có khả năng tài chính hoặc khó khăn về tài chính không thé chỉ trả cho các chỉ phí khi tiếp cận với các dich vụ pháp lý có thu phí. Tính pháp lý thê hiện ở chỗ, sự giúp đỡ, hỗ trợ về các van đề có liên quan đến pháp.
luật như tư vấn pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích được pháp luật quy định. Đây sẽ là cơ sở lý luận để tác giả luận án nghiên cứu kế thừa một phần khi xây dựng mới khái niệm TGPL cho người dân các DTTS ở Việt Nam. Mặc dù các công trình trên đều có nội dung đề cập và đã xây dựng được khái niệm TGPL, tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu luận giải những đặc điểm, đặc thù trong công tác TGPL cho một nhóm đối tượng cụ thé, nhất là đối với nhóm người DTTS.