Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Vũ Ngọc Dương thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp), thuộc chuyên ngành Luật Quốc tế, mã số 93 80 108, bảo vệ năm 2021 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Thuận và TS. Nguyễn Toàn Thắng.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tình hình tội phạm xuyên quốc gia gia tăng nhanh chóng và diễn biến phức tạp tại khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và mở cửa kinh tế. Đông Nam Á là khu vực có vị trí địa chính trị quan trọng nhưng đồng thời là địa bàn của nhiều loại tội phạm xuyên quốc gia:

  • Về ma túy: Khu vực Tam giác vàng là trung tâm sản xuất và buôn bán chất ma túy phức tạp. Báo cáo của Cơ quan phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) ghi nhận năm 2019 các quốc gia Đông Á và Đông Nam Á đã thu giữ lượng Methamphetamine lên tới 115 tấn.
  • Về cướp biển: Theo Tổ chức Hợp tác khu vực về chống cướp biển và cướp có vũ trang trên biển Châu Á (ReCAAP), số vụ tấn công tại eo biển Malacca và Singapore gia tăng liên tục qua các năm (nửa đầu năm 2016 ghi nhận 1 vụ, cùng kỳ năm 2017 là 2 vụ, năm 2018 là 5 vụ, năm 2019 là 8 vụ và 6 tháng đầu năm 2020 tăng lên 13 vụ).
  • Về buôn bán người: Khu vực ghi nhận các thảm họa nhân đạo như vụ việc 2.000 thuyền nhân trôi dạt năm 2013 trong vùng biển Malaysia và Indonesia, cùng hàng trăm ngôi mộ chôn người nhập cư trái phép Rohingya (Myanmar) và Bangladesh được phát hiện tại miền Nam Thái Lan năm 2013.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ những bất cập của hệ thống pháp luật Cộng đồng ASEAN:

  • Tỷ trọng các văn kiện mang tính khuyến nghị, "luật mềm" (Tuyên bố, Kế hoạch hành động, Bản ghi nhớ) chiếm phần lớn, có tính ràng buộc pháp lý thấp, dẫn đến tình trạng áp dụng tùy tiện tại các quốc gia thành viên.
  • Hệ thống văn bản thiếu sự phân định thứ bậc hiệu lực pháp lý minh định như mô hình Liên minh châu Âu (EU) (nơi có sự phân tầng rõ ràng giữa luật gốc, điều ước quốc tế ký với bên thứ ba, luật phái sinh và điều ước giữa các thành viên).
  • Trong cùng một lĩnh vực tồn tại nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương chồng chéo nhưng ASEAN chưa xây dựng được văn kiện điều ước khu vực về dẫn độ tội phạm.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ hệ thống lý luận và thực tiễn về tội phạm xuyên quốc gia; phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung của Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; đánh giá thực trạng thực hiện của Việt Nam và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số cụ thể theo văn bản:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội phạm xuyên quốc gia, làm rõ khái niệm về tội phạm xuyên quốc gia.
  2. Nghiên cứu Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia dưới các góc độ khái niệm, đặc điểm, tính chất, nội dung; đánh giá tổng thể hệ thống pháp luật này.
  3. Phân tích, đánh giá vấn đề thực thi Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia tại Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện cơ chế thực thi của Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu bao gồm:

  • Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia.
  • Pháp luật các quốc gia thành viên về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia.
  • Thực tiễn hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia trong Cộng đồng ASEAN (tập trung vào ba loại tội phạm điển hình: buôn bán phụ nữ và trẻ em; tội phạm ma túy; tội phạm khủng bố).
  • Việc thực hiện pháp luật Cộng đồng ASEAN tại các quốc gia thành viên, trọng tâm là Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Khu vực ASEAN và Việt Nam (có đối chiếu, tham khảo quy định của một số quốc gia thành viên).
  • Thời gian: Khảo sát quá trình tham gia của Việt Nam từ khi gia nhập ASEAN năm 1995 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án phân chia các công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài thành bốn nhóm chính:

Nhóm 1: Nhóm công trình nghiên cứu lý luận chung về tội phạm xuyên quốc gia và hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm:

  • Trần Văn Thắng và Lê Mai Anh (2001) trong giáo trình "Luật quốc tế - Lí luận và thực tiễn" phân loại tội phạm thành ba nhóm: tội phạm quốc tế, tội phạm hình sự quốc tế và tội phạm thông thường.
  • Nguyễn Thị Thuận (2007) trong "Luật hình sự quốc tế"; Nguyễn Ngọc Chí (2011, 2012) trong các giáo trình và chuyên khảo về luật hình sự quốc tế; Nguyễn Thị Phương Hoa (2010, 2014) nghiên cứu về tội phạm hóa và bảo đảm quyền con người, chỉ ra tính quốc tế thể hiện qua phương thức, địa điểm và hậu quả hành vi.
  • Dương Tuyết Miên (2006, 2012) phân tích các dấu hiệu đặc trưng của tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia theo Công ước Liên Hợp Quốc (UNTOC).
  • Các nghiên cứu của Đinh Xuân Nam và Nguyễn Xuân Hưởng (2009), Hoàng Anh Tuyên (2009), Phạm Quý Ngọ (2010), Trần Đức Châm và Nguyễn Khắc Sâm (2011), Trịnh Tiến Việt và Trịnh Thị Hồng Lê (2012), Dương Minh Hảo, Nguyễn Quốc Tuấn và Nguyễn Tiến Đạt (2009), Vũ Ngọc Bừng (2001), Hồ Thể Hoè và Nguyễn Thị Thư (2012) tập trung luận giải khái niệm và vai trò của hợp tác quốc tế.

Nhóm 2: Nhóm công trình nghiên cứu về hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia trong ASEAN:

  • Nghiên cứu an ninh khu vực và an ninh phi truyền thống của Viện Nghiên cứu bảo vệ hoà bình và an ninh Nhật Bản (1994), PGS. Nguyễn Mạnh Hưởng (2011), Thavideth Saviengvilay (2011), Nguyễn Đỗ Ngân Giang (2011), Nguyễn Bích Nga (2005), Hoàng Thị Hà (2005), Trần Khánh (2003), Nguyễn Huy Hoàng (2013). Các tác giả chỉ ra rằng ASEAN thu hẹp khái niệm an ninh phi truyền thống trong Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Chính trị - An ninh (APSC) chủ yếu vào nhóm tội phạm xuyên quốc gia.
  • Nghiên cứu kênh đối thoại không chính thức (Kênh 2 - Track 2) của TS. Luận Thùy Dương (2010).
  • Nghiên cứu về hợp tác cảnh sát: Vũ Ngọc Bừng (2001), Phạm Hỗ (2003, 2007), PGS. Nguyễn Ngọc Anh (2007), TS. Nguyễn Thị Kim Ngân và TS. Nguyễn Đức Phúc (2008), TS. Lê Hồng Hải (2015), Kỷ yếu hội thảo Học viện Cảnh sát nhân dân Việt Nam và Học viện Cảnh sát Hoàng gia Thái Lan (2016).
  • Nghiên cứu từng loại tội phạm cụ thể: Vũ Quang Vinh (2003) về ma túy; Vũ Lê Thái Hoàng (2004) về cướp biển; Lê Sĩ Hưng (2009), GS. Nguyễn Ngọc Anh (2013), TS. Phạm Văn Lợi (2009) về khủng bố; Cheng Pun Lork (2010), Lê Thị Hà (2008) về buôn bán người; TS. Trần Văn Hoà (2011) về tội phạm công nghệ cao.

Nhóm 3: Nhóm công trình nghiên cứu hệ thống pháp luật của ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia:

  • Nguyễn Ngọc Anh (2009) phân tích Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự (AMLAT 2004).
  • Bộ Công an (2013, 2014, 2015, 2016) công bố các tài liệu tuyển tập văn kiện pháp lý và sổ tay nghiệp vụ về tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án phạt tù.

Nhóm 4: Nhóm công trình nghiên cứu việc thực hiện pháp luật Cộng đồng ASEAN tại Việt Nam:

  • Phạm Minh Hưởng (2011) nghiên cứu đấu tranh chống rửa tiền; Nguyễn Duy Chiến (2009), GS. Nguyễn Ngọc Anh (2013) nghiên cứu về Công ước ASEAN về chống khủng bố (ACCT 2007); Lê Thị Yến (2005) về phòng chống tài trợ khủng bố.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình hiện có chủ yếu tiếp cận theo góc độ nghiệp vụ ngành công an, cảnh sát hoặc khảo cứu riêng lẻ từng tội danh, từng thiết chế mà chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống hệ thống quy phạm pháp luật của Cộng đồng ASEAN dưới góc độ chuyên ngành Luật Quốc tế gắn liền với thực tiễn thực thi nghĩa vụ thành viên của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý luận của Công pháp quốc tế và Luật hình sự quốc tế về đấu tranh phòng ngừa, trừng trị tội phạm có tính chất quốc tế:

  • Khái niệm nền tảng: Luận án phân định thuật ngữ "tội phạm xuyên quốc gia" (transnational crimes) với "tội phạm quốc tế" (international crimes - các hành vi vi phạm trật tự pháp lý quốc tế nghiêm trọng nhất như diệt chủng, chiến tranh, chống lại loài người, do tòa án quốc tế xét xử), "tội phạm có tính quốc tế" và "tội phạm có yếu tố nước ngoài". Khái niệm tội phạm xuyên quốc gia được xác định là hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc thẩm quyền tài phán hình sự của quốc gia, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế bảo vệ.
  • Khung thể chế và chính sách: Khung phân tích dựa trên ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN, trong đó trọng tâm là Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSC Blueprint 2009 và APSC Blueprint 2025).

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) cùng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
  • Phương pháp so sánh luật: Dùng để đối chiếu quy định trong các văn kiện pháp lý của ASEAN với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và pháp luật một số nước ASEAN khác, từ đó chỉ ra mức độ tương thích và bất cập.
  • Phương pháp mô tả, phân tích, bình luận: Áp dụng khi làm rõ bản chất pháp lý của các khái niệm, cơ chế điều chỉnh và các điều khoản điều ước.
  • Phương pháp tổng hợp, lịch sử, thống kê: Dùng để phân tích quá trình hình thành hệ thống văn kiện ASEAN qua các thời kỳ lịch sử và tổng hợp dữ liệu thực tiễn về tình hình tội phạm xuyên quốc gia.
  • Phương pháp tiếp cận hệ thống và liên ngành: Khảo cứu các thiết chế trong mối liên hệ hữu cơ giữa pháp luật, an ninh và quan hệ ngoại giao.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Văn kiện điều ước quốc tế của ASEAN: Hiến chương ASEAN (2007); Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC); Tuyên bố ZOPFAN; Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự ASEAN (AMLAT 2004); Công ước ASEAN về chống khủng bố (ACCT 2007); Công ước ASEAN phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (ACTIP 2015).
  • Văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp 2013, Bộ luật Hình sự, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Luật Phòng, chống khủng bố, Luật Phòng, chống mua bán người, Luật Phòng, chống ma túy.
  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo của UNODC, ReCAAP, Cục Hàng hải quốc tế (IMB), các kỷ yếu hội thảo và tài liệu của Bộ Công an, Bộ Tư pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước thành bốn nhóm chủ đề: lý luận tội phạm xuyên quốc gia, hợp tác trong khối ASEAN, hệ thống pháp luật ASEAN và thực tiễn thực hiện của Việt Nam. Tác giả luận giải về tính cấp thiết của việc nghiên cứu toàn diện khung pháp luật Cộng đồng ASEAN kể từ thời điểm thành lập chính thức ngày 31/12/2015. Trên cơ sở đó, chương xác định mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ba nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm, các câu hỏi nghiên cứu và phương pháp tiếp cận của đề tài.

Chương 2: Lí luận chung về tội phạm xuyên quốc gia và Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia

Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận:

  • Định nghĩa và đặc điểm của tội phạm xuyên quốc gia, phân biệt với tội phạm quốc tế và tội phạm thông thường có yếu tố nước ngoài.
  • Thực trạng tội phạm xuyên quốc gia tại khu vực ASEAN đối với các loại tội danh nổi cộm: ma túy, cướp biển, mua bán người.

Bảng tổng hợp số liệu về tình hình tội phạm tại khu vực Đông Nam Á được luận án trích dẫn từ các báo cáo quốc tế:

Loại hình tội phạm Cơ quan công bố dữ liệu Thời gian ghi nhận Số liệu thực tế trong văn bản
Thu giữ Methamphetamine UNODC Đông Á & ĐNA Năm 2019 115 tấn ma túy bị thu giữ
Cướp biển (Malacca & Singapore) ReCAAP 6 tháng đầu 2016 01 vụ
Cướp biển (Malacca & Singapore) ReCAAP 6 tháng đầu 2017 02 vụ
Cướp biển (Malacca & Singapore) ReCAAP 6 tháng đầu 2018 05 vụ
Cướp biển (Malacca & Singapore) ReCAAP 6 tháng đầu 2019 08 vụ
Cướp biển (Malacca & Singapore) ReCAAP 6 tháng đầu 2020 13 vụ
Cướp biển và cướp có vũ trang ReCAAP / IMB Năm 2014 183 vụ tại ĐNA (Châu Á chiếm 75% trong tổng số 245 vụ toàn cầu)
Di dân và buôn bán người Báo cáo thực tế Năm 2013 2.000 thuyền nhân bị bỏ đói trên biển Malaysia - Indonesia

Chương cũng phân tích quá trình hình thành, phát triển của pháp luật Cộng đồng ASEAN và cơ cấu nguồn luật: nguồn thành văn (điều ước quốc tế ràng buộc và các văn kiện chính trị - pháp lý mang tính khuyến nghị) cùng các nguồn bổ trợ.

Chương 3: Pháp luật Cộng đồng ASEAN điều chỉnh hoạt động hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia

Nội dung Chương 3 phân tích cơ chế điều chỉnh pháp lý của ASEAN:

  • Các nguyên tắc pháp lý: Bao gồm các nguyên tắc chung (tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ theo TAC và Hiến chương ASEAN) và các nguyên tắc đặc thù trong hợp tác phòng, chống tội phạm.
  • Các quy định hợp tác phòng ngừa: Hài hòa hóa và hoàn thiện hệ thống pháp luật; thiết lập cơ chế trao đổi thông tin, phát hiện và cảnh báo sớm; quản lý, kiểm soát vũ khí và biên giới; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chung khu vực.
  • Các quy định hợp tác trừng trị: Xác lập quyền tài phán hình sự; truy nã tội phạm; tương trợ tư pháp hình sự (dựa trên Hiệp định AMLAT 2004); vấn đề dẫn độ tội phạm. Luận án chỉ rõ hạn chế khi ASEAN chưa xây dựng được hiệp định dẫn độ đa phương khu vực, dẫn tới việc thực thi phụ thuộc vào các hiệp định song phương.
  • Hệ thống thiết chế pháp lý của ASEAN: Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC); Hội nghị quan chức cấp cao ASEAN về tội phạm xuyên quốc gia (SOMTC); Tổng giám đốc ASEAN phụ trách vấn đề nhập cư và người đứng đầu cơ quan lãnh sự thuộc Bộ Ngoại giao (DGTCM); Hội nghị Bộ trưởng và Hội nghị quan chức cấp cao ASEAN về vấn đề ma túy (ASOD); Hiệp hội Cảnh sát các nước Đông Nam Á (ASEANAPOL); Hội nghị Bộ trưởng Tư pháp ASEAN (ALAWMM).
  • Quy định cụ thể đối với các tội danh: Tội phạm buôn bán người (theo Công ước ACTIP 2015); tội phạm ma túy; tội phạm cướp biển; tội phạm khủng bố (theo Công ước ACCT 2007).
  • Đánh giá tổng quát: Pháp luật ASEAN tạo nền tảng chính trị và hợp tác ban đầu nhưng còn thiếu tính ràng buộc bắt buộc, cơ chế tài phán chung chưa có thẩm quyền tài phán cưỡng chế, tỷ lệ luật mềm cao.

Chương 4: Việt Nam với việc thực hiện Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia

Chương 4 nghiên cứu thực tiễn áp dụng tại Việt Nam:

  • Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về hội nhập quốc tế và tham gia các cơ chế an ninh, phòng chống tội phạm của ASEAN.
  • Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thiết chế pháp lý trong nước nhằm thực thi các nghĩa vụ thành viên (Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Văn phòng Interpol Việt Nam).
  • Phân tích mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam đối với các điều ước quốc tế của ASEAN: Khảo sát chi tiết việc thực thi Công ước ACCT 2007 (vấn đề xác định tội danh khủng bố, cơ chế dẫn độ theo Điều XIII khoản 2 của Công ước) và Công ước ACTIP 2015 (các quy định về bảo vệ nạn nhân buôn bán người, trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân).
  • Đánh giá các vướng mắc thực tiễn: Khó khăn trong việc tiếp nhận và xử lý yêu cầu dẫn độ do thiếu hiệp định song phương với một số nước ASEAN; sự khác biệt về quy định tội danh trong hệ thống pháp luật giữa các quốc gia thành viên.
  • Đề xuất giải pháp: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và tương trợ tư pháp; xây dựng Luật Dẫn độ riêng biệt; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tư pháp và cảnh sát; tham khảo kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia trong khu vực.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khái niệm, tính chất, đặc trưng của tội phạm xuyên quốc gia dưới góc độ Công pháp quốc tế, phân biệt rõ với tội phạm quốc tế và tội phạm có yếu tố nước ngoài.
  • Xây dựng định nghĩa khoa học và xác định đặc điểm, cơ cấu nguồn (nguồn thành văn, nguồn bổ trợ) cùng hệ thống nguyên tắc (chung và đặc thù) của Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Phân tích toàn diện hệ thống thiết chế pháp lý của ASEAN gồm AMMTC, SOMTC, ASOD, DGTCM, ASEANAPOL, ALAWMM; chỉ rõ thực trạng các thiết chế này chủ yếu mang tính phối hợp hành chính, thẩm quyền chế tài trực tiếp chưa được thiết lập và Trung tâm ASEAN về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia vẫn chưa vận hành trên thực tế.
  • Đánh giá mức độ tương thích giữa pháp luật Việt Nam với các cam kết pháp lý khu vực, tập trung vào hai văn kiện có hiệu lực bắt buộc là Công ước ACCT 2007 và Công ước ACTIP 2015.
  • Đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể cho Việt Nam:
    • Hoàn thiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, hướng tới xây dựng các đạo luật chuyên biệt như Luật Dẫn độ và Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
    • Sửa đổi các quy định hình sự để bảo đảm sự tương thích với chuẩn mực khu vực về tội danh khủng bố, mua bán người, rửa tiền.
    • Tăng cường năng lực chuyên môn và đào tạo nghiệp vụ cho các lực lượng chuyên trách trực tiếp tham gia hợp tác quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Các hạn chế được chỉ ra từ quá trình đánh giá của hội đồng thẩm định:

  • Luận án chưa đi sâu phân tích và đối chiếu toàn diện các quy định của hai văn kiện ACCT 2007 và ACTIP 2015 với hệ thống chuẩn mực pháp lý toàn cầu của Liên Hợp Quốc (như Công ước Palermo và các Nghị định thư bổ sung).
  • Phần luận giải về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật nội định của Việt Nam còn khái lược, nhất là cơ sở pháp lý trực tiếp áp dụng điều ước quốc tế trong hoạt động dẫn độ (nhận định về việc Việt Nam không coi điều ước quốc tế là căn cứ trực tiếp để dẫn độ cần thêm căn cứ pháp lý).
  • Kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia thành viên ASEAN được đưa ra khảo cứu chưa mang tính đại diện đầy đủ cho toàn bộ 10 quốc gia trong khối; giải pháp đề xuất về việc thành lập các ủy ban chuyên biệt trực thuộc bộ ngành cần được lập luận thuyết phục hơn.
  • Luận án chưa khai thác sâu các khía cạnh tiếp cận liên ngành về văn hóa, tôn giáo và các giải pháp kỹ thuật công nghệ trong phòng chống tội phạm công nghệ cao.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phân tích cơ chế chuyển hóa điều ước quốc tế khu vực vào hệ thống pháp luật nội địa.
  • Nghiên cứu khả năng đàm phán, xây dựng một Hiệp định đa phương của ASEAN về dẫn độ tội phạm.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Quốc tế, Luật Hình sự: Công trình cung cấp hệ thống tư liệu về cấu trúc pháp lý của Cộng đồng ASEAN, các văn bản điều ước khu vực và cơ chế vận hành của Trụ cột Chính trị - An ninh (APSC).
  • Đối với giảng viên và các cơ sở đào tạo luật: Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy các học phần Luật Quốc tế, Luật Hình sự quốc tế, Pháp luật Cộng đồng ASEAN và Luật So sánh.
  • Đối với các cơ quan làm chính sách, lập pháp và thực thi pháp luật (Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao): Các phân tích về tính tương thích và vướng mắc thực tiễn là cơ sở khoa học phục vụ công tác xây dựng luật (Luật Dẫn độ, Luật Tương trợ tư pháp sửa đổi) và đàm phán các thỏa thuận quốc tế song phương, đa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt tội phạm xuyên quốc gia với tội phạm quốc tế dựa trên những tiêu chí nào?

Tác giả phân biệt: Tội phạm quốc tế là những hành vi đặc biệt nguy hiểm xâm hại đến lợi ích của toàn thể cộng đồng quốc tế (diệt chủng, tội ác chiến tranh, tội ác chống lại loài người), bị truy cứu trách nhiệm trực tiếp dựa trên luật quốc tế và do các tòa án hình sự quốc tế xét xử. Tội phạm xuyên quốc gia là hành vi nguy hiểm thuộc thẩm quyền tài phán hình sự quốc gia, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện có lỗi cố ý, xâm hại trật tự xã hội được luật quốc gia và điều ước quốc tế bảo vệ, và do cơ quan tài phán quốc gia xử phạt.

2. Hệ thống pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia gồm các nguồn nào?

Khung pháp lý gồm hai bộ phận: Nguồn thành văn (gồm điều ước quốc tế ràng buộc như Hiến chương ASEAN 2007, Hiệp định AMLAT 2004, Công ước ACCT 2007, Công ước ACTIP 2015; và các văn kiện chính trị mang tính khuyến nghị dạng luật mềm như Tuyên bố chung của Hội nghị Thượng đỉnh, Tuyên bố Bộ trưởng AMMTC, Kế hoạch tổng thể APSC) cùng các nguồn bổ trợ khác.

3. Số liệu thực tế nào phản ánh tình hình tội phạm cướp biển tại eo biển Malacca và Singapore trong luận án?

Theo số liệu ReCAAP được trích dẫn trong luận án, số vụ việc tại eo biển Malacca và Singapore giai đoạn 2016-2020 tăng liên tục: nửa đầu năm 2016 có 1 vụ, cùng kỳ năm 2017 có 2 vụ, năm 2018 có 5 vụ, năm 2019 có 8 vụ và nửa đầu năm 2020 ghi nhận 13 vụ việc.

4. Đâu là rào cản lớn nhất trong hoạt động dẫn độ tội phạm giữa các nước ASEAN được luận án chỉ ra?

Rào cản lớn nhất là ASEAN chưa ký kết được hiệp định đa phương khu vực về dẫn độ tội phạm. Hoạt động dẫn độ hiện nay phụ thuộc vào các hiệp định song phương (vốn chưa bao phủ hết các cặp quốc gia thành viên) hoặc điều khoản dẫn độ trong từng công ước chuyên biệt, dẫn đến nhiều trường hợp yêu cầu dẫn độ bị từ chối do thiếu cơ sở pháp lý trực tiếp.

5. Luận án đề xuất giải pháp lập pháp trọng tâm nào cho Việt Nam?

Tác giả kiến nghị hoàn thiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 bằng việc tách bạch để xây dựng các đạo luật riêng biệt: Luật Dẫn độ và Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; đồng thời nội luật hóa đầy đủ các quy định về tội phạm khủng bố và mua bán người nhằm tương thích hoàn toàn với Công ước ACCT 2007 và ACTIP 2015.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Ngọc Dương là công trình nghiên cứu hệ thống về khung pháp luật của Cộng đồng ASEAN trong phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia gắn với thực tiễn thực thi tại Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Luật Quốc tế. Luận án đã làm rõ cấu trúc nguồn luật, các nguyên tắc pháp lý và hệ thống thiết chế khu vực, đồng thời phân tích những giới hạn nội tại bắt nguồn từ tỷ trọng lớn của các văn kiện luật mềm và sự thiếu vắng cơ chế dẫn độ đa phương. Công trình cung cấp các đánh giá về mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam đối với các công ước khu vực, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và kiện toàn thiết chế thực thi nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia.