Chương 1: Những van đề lý luận về phòng, chống tham nhũng trong cơ quan phòng, chống tham nhũng Chương 2: Thực trạng pháp luật và hoạt động phòng, chống tham nhũng trong cơ quan phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng trong cơ quan phòng, chống tham những ở Việt Nam. 12 CHUONG I - NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE PHÒNG, CHONG THAM NHŨNG TRONG CƠ QUAN PHÒNG, CHÓNG THAM NHŨNG 1. Khái lược về phòng, chống tham nhũng 1. Khái niệm về tham nhũng Tham nhũng là lạm dụng chức vụ, quyền hạn dé thực hiện hành vi tham nhũng; Trong Từ điển Merriam Webster, tham những là sự khuyến khích điều xau bằng những cách thức sai trái hoặc phi pháp.
Theo pháp luật Việt Nam, tham nhũng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn dé tham 6, tham nhũng, tiêu cực. Do vậy, người có chức vụ, quyền hạn muốn tham nhũng sẽ cố ý thực hiện trái pháp luật nhằm thực hiện hành vi tham nhũng [46]. Theo Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng, tham nhũng là một tập hợp những hành vi tham nhũng. Theo Công ước của Hội đồng Châu Âu, tham nhũng là đòi hỏi, gợi ý hoặc đưa ra yêu cầu trực tiếp hay gián tiếp để nhận của hối lộ hay thu lợi bất chính, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ [48].
Trong thực tiễn, một số tổ chức quốc tế đã đề xuất định nghĩa về tham nhũng dé phục vu cho các hoạt động cua họ như sau: Tham nhũng là hành vi lạm dụng quyền lực công dé thu lợi ích bất chính cho riêng cá nhân (Ngân hàng thế giới ) [50]; Tham những là hành vi lạm dụng nhiệm vụ, quyền lực được giao đề thu lợi bất chính cho riêng cá nhân (Tổ chức Minh bạch quốc tế) [50]. Tham nhũng là sự lạm dụng quyên lực công hoặc tư dé thu lợi riêng: hoặc là: Tham nhũng là hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn dé làm giàu bat chính, bat hợp pháp (Ngân hang Phát triển Châu A ) [51]. Pháp luật Việt Nam định nghĩa tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi, trong đó [2]: 13 - Người có chức vụ, quyền hạn là người được bổ nhiệm, bau cử, tuyên dụng, hợp đồng., có hoặc không hưởng lương, được giao nhiệm vụ, công vu nhất định, quyền hạn nhất định. Người có chức vụ, quyền hạn gồm: Cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân; người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; người giữ chức vụ trong doanh nghiệp, tô chức; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyên trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
Từ những phân tích trên, có thé thấy đặc điểm nổi bật của tham nhũng là hành vi lợi dụng, lạm dụng quyền han và vị thế dé thu lợi bat chính. Đối tượng hưởng lợi không chỉ là người trực tiếp thực hiện hành vi mà bao gồm cả những chủ thể khác như người thân, đồng nghiệp, bạn bè. Tham nhũng có thê diễn ra cả ở khu vực công và tư, mặc dù thường được chú ý hơn ở khu vực công [46]. Về bản chất, tham nhũng là hệ quả của sự tha hoá về đạo đức của những chủ thé nam giữ quyền lực.
Sự tha hoá đó được xem như là một van đề mang tính quy luật: “Quyền lực có xu hướng dẫn tới sự tha hoá, đôi bại, quyên lực độc đoán sẽ dẫn tới sự tha hoá, đồi bại tuyệt đối”. Từ lý luận trên cho thấy, tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn thực hiện trái quy định của pháp luật dé thực hiện hành vi tham nhũng [46]. Nguyên nhân của tham những Thứ nhất là, Hệ thông văn bản quy phạm pháp luật phức tạp, thiếu chặt chẽ, đồng bộ. Sự phức tạp, thiếu chặt chẽ, đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật dẫn đến tình trạng tùy tiện trong áp dụng.
Đồng thời, việc sửa đồi, bồ sung, thay đổi thường xuyên các văn bản, chính sách làm cho người dân, đặc biệt là các doanh nghiệp không kịp cập nhật, nắm bắt được các quyền và nghĩa vụ của họ. 14 Thứ hai là, Việc tuyên truyền, công khai, minh bạch còn hạn chế: Hoạt động của cơ quan, tô chức, đơn vị nếu thiếu công khai, minh bạch thì người có chức vụ, quyền hạn sẽ không bị giám sát bởi những chủ thé khác, hoặc nếu hành vi tham nhũng của họ có bị phát giác cũng khó có thể đánh giá được toàn diện, chi tiết do thiếu thông tin. Hậu quả là trong bối cảnh đó người có chức vụ, quyền hạn thường có xu hướng lạm dụng quyền lực được giao vì mục đích vụ lợi. Đây là những nguyên nhân dẫn đến hành vi tham nhũng.
Thứ ba là, thiểu cơ ché, môi trường kinh doanh lành mạnh: Nếu môi trường kinh doanh còn hiện tượng độc quyền trong cung cấp dịch vụ, hàng hóa thì các doanh nghiệp thay vì nâng cao năng lực cạnh tranh một cách lành mạnh sẽ tìm cách phát triển quan hệ với các cơ quan nhà nước, các đối tác kinh doanh. Họ sẵn sàng chi trả các khoản chi phí không chính thức dé giành được các hợp đồng lớn hoặc trúng những gói thầu cung cấp hàng hóa thiết bị, đặc biệt trong hoạt động mua săm công. Sự thiếu hoàn thiện của các quy định pháp luật về đấu thầu, thiếu cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích. đều là những điều kiện thúc đây nguy cơ thực hiện các hành vi tham nhũng.
Thứ tu là, Ché độ đãi ngộ chưa phù hợp: Nếu có sự chênh lệch về tiền lương và chế độ đãi ngộ quá lớn giữa khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước sẽ làm phát sinh động cơ tham nhũng của cán bộ, công chức, viên chức trong các tình huống xung đột lợi ích. Trong trường hợp tiền lương và những lợi ích vật chất chính thức có được từ công việc không đủ đề đáp úng nhu cầu sinh hoạt của bản thân và gia đình, ho sé tim cách thực hiện những hành vi bat chính dé trục lợi cá nhân do chính chức vu, quyền hạn của họ tạo lên. Thứ năm là, Môi trường văn hóa: Môi trường văn hóa ở Việt Nam vẫn chứa đựng các phong tục, tập quán dễ bị lợi dụng dé thực hiện hành vi tham nhũng. Chang hạn như: phong bì đi trước là phong bì không; miếng trau là 15 đầu câu chuyện; có gì đóng cửa bảo nhau; không vạch áo cho người xem lung; ăn quả nhớ người trồng cây.
Văn hóa nhận phong bì; Thủ trưởng nói, làm cái gì cũng đúng: phục tùng vô điều kiện cấp trên. Do vậy, những phong tục, tập quán này mặc dù có bản chất tốt, nhưng có thé bị lợi dụng, sử dụng như công cụ cho tham nhting[46]. Thứ sáu là, Bất cập trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: Nếu tô chức và hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, của bộ máy nhà nước nói riêng còn nhiều bất hợp lý thì hiệu quả hoạt động sẽ không cao và tạo ra nhiều kẽ hở cho những hành vi tham nhũng. Hậu quả của tham những Thứ nhất là, Hậu quả về mặt chính trị, xã hội: Tệ nạn tham nhũng, hối lộ, ăn chơi phung phí gây tác hại rất lớn, làm tốn hại thanh dành của đảng chính trị cầm quyền, gây bất bình đối và giảm lòng tin của nhân dân đối với chính đảng đó và với nhà nước.
Tham nhũng dẫn đến xung đột lợi ích trong xã hội. Tham những đã phan phân chia xã hội thành hai nhóm giàu, nghèo, trong đó, một nhóm giầu hưởng thụ với của cải tham nhũng; nhóm nghèo phải vất vả làm việc để kiếm sống: hỗ phân cách giữa nhóm giàu, nhóm nghèo tăng lên rất nhanh dẫn đến lòng đố ky, ghen ghét, va mâu thuẫn giữa các nhóm tăng cao. Hậu quả là mất đoàn kết cộng đồng, an ninh, trật tự xã hội bị đảo lộn [46]. Thứ hai là, Hậu quả về kinh tế: Tham nhũng gây ra thiệt hại tài nguyên của đất nước và của người dân trong xã hội.
Tác hại của tham nhũng không những thiệt hại về kinh tế mà còn biến tài sản công thành tài sản riêng của một nhóm người tham nhũng đã gây thất thoát, lãng phí nghiêm trọng nền kinh tế của đất nước. Tham nhũng không chỉ gây thất thoát tiền của, từ đó làm giảm nguôn thu vào ngân sách của các nhà nước, mà còn khiên người dân và 16 doanh nghiệp phải trả những “chi phí bôi trơn” và phải đối mặt với sự nhũng nhiễu, gây khó khăn của các cơ quan, nhân viên công quyên, từ đó khiến hoạt động sản xuất, kinh doanh bị ảnh hưởng tiêu cực [46]. Về phòng, chỗng tham nhũng Tham nhũng là một hiện tượng tat yêu của xã hội có sự phân chia giai cấp, có nhà nước; bơi tham nhũng luôn gắn với quyền lực nhà nước; một số người có chức vụ, quyền han trong bộ máy nhà nước đã lợi dụng quyền lực nhà nước đề nhằm thu lợi ích bất chính về cho mình, cho gia đình, cho người thân của mình. Tham những không những đã gây hậu quả trực tiếp cho nền kinh tế, mà còn làm suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước; tham nhũng làm cho bộ máy nhà nước hoạt động kém hiệu quả, bộ máy nhà nước bị đe dọa dẫn đến ảnh hưởng sự tồn vong của đất nước.
Chính vì vậy mà cấp thiết Đảng và nhà nước, nhân dân phải có những phương pháp, chương trình nhằm hạn chế, tiến tới tiêu diệt những mâm họa này. Công tác phòng, chống tham những là nhiệm vụ quan trong của Đảng và Nhà nước trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi tham nhũng. Các giải pháp phòng, chống tham nhũng phải dựa trên hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ngoài ra, phòng, chống tham nhũng cần có những biện pháp giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của người tham nhũng và chống tham nhũng.
Phòng, chống tham nhũng là hoạt chống tham những của toàn xã hội nhằm làm giảm thiểu nguy cơ tham nhũng. Dé phòng, chống tham nhũng hiệu quả cần ban hành các văn bản quy phạm để điều chỉnh các hành vi tham nhũng: cần công khai minh bạch đúng theo quy định của pháp luật; công khai 17 minh bạch tài sản thu nhập; xây dựng chế độ, chính sách phù hợp cho những người làm công tác phòng, chống tham nhũng. Cần xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng trong các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.