đặt vấn đề trong bài nghiên cứu “Thực hiện chính sách, pháp luật đối với người cao tuổi” của tác giả Trần Thị Diệu Oanh, đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước tháng 11/2020 [83]. Phân tích chỉ ra hệ thống cơ sở pháp lý để điều chỉnh những nội dung liên quan đến NCT như Luật NCT 2008, Luật Lao động năm 2009,.cùng với những nghị định và thông tư hướng dẫn. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách pháp luật về NLĐCT còn nhiều hạn chế: một số văn bản ban hành còn chậm, gây khó khăn cho các địa phương trong quá trình thực hiện, một số chính sách, quy định chưa phù hợp, chế độ thấp. Hướng dẫn, quy trình, biểu mẫu cho thực hiện chăm sóc sức khỏe NCT ở cấp cơ sở chưa được xây dựng đồng bộ dẫn tới các địa phương lúng túng trong thực hiện.
Để đảm bảo thực hiện chính sách, pháp luật đối với NCT ở Việt Nam, tác giả đã nêu một số giải pháp khắc phục như: hoàn thiện các chính sách và các văn bản pháp luật về NCT, đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với NCT, thực hiện nghiêm túc các quy định của Chính phủ và các bộ, ngành,. Với công trình luận án tiến sĩ “Chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay” (2018), Học viện Khoa học Xã hội [77], tác giả Bùi Nghĩa cho rằng chính sách đối với NCT là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội của Việt Nam. Nội dung của chính sách đối với NCT bao gồm: Thứ nhất, chính sách bảo đảm thu nhập cho NCT. NCT do mất cơ hội về việc làm và sức khỏe kém nên nguồn thu bị giảm sút nếu như không có tài sản hoặc tiền bạc tiết kiệm trước đó.
Điều này làm cho một bộ phận không nhỏ rơi vào tình trạng nghèo khổ, lệ thuộc vào con cháu và gia đình vốn ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến cả đời sống vật chất, tinh thần của NCT. Vấn đề đảm bảo thu nhập của NCT bao gồm: (1) chế độ lương hưu; (2) hỗ trợ từ nhà nước; (3) và tài chính vi mô. Thứ hai, chính sách về chăm sóc sức khỏe cho NCT. Thứ ba, chính sách hỗ trợ NCT trong việc đi lại, di chuyển trong cuộc sống.
Thứ tư, chính sách an toàn cho NCT. Khi đánh giá về thực trạng chính sách đối với NCT ở Việt Nam, tác giả Bùi Nghĩa thấy rằng đang thiếu hẳn về nội dung hỗ trợ NCT trong việc lập kế hoạch về nhu cầu tài chính của họ và nhà nước chưa có khoản hỗ trợ nào dành cho NCT đang tham gia thị trường sức lao động mặc dù đã hết tuổi lao động, từ đó tác giả đưa ra giải pháp cần thúc đẩy NCT tham gia hoạt động kinh tế, đặc biệt những người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật 9 cao, góp phần nâng cao đời sống và duy trì hoạt động của NCT. Đây là đánh giá khá xác đáng của tác giả Bùi Nghĩa về các chính sách cho NCT. Tuy nhiên, những giải pháp mà tác giả đề xuất vẫn còn lan man, thiếu trọng tâm trọng điểm.
Bài nghiên cứu “Thực hiện chính sách cho người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay” (2020) của tác giả Nguyễn Thị Linh Giang- Tạp chí Quản lý nhà nước [38] đã khái quát hệ thống chính sách, phân tích và đánh giá kết quả thực hiện chính sách cho NCT hiện nay ở một số nội dung: -) chính sách y tế cho việc chăm sóc sức khỏe NCT; -) Chính sách bảo đảm thu nhập và cuộc sống cho NCT; -) Chính sách hỗ trợ sử dụng phương tiện giao thông công cộng; -) Chính sách hỗ trợ NCT trong về lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch. Cuối bài nghiên cứu là những kiến nghị đối với xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dành cho NCT ở Việt Nam, bao gồm các kiến nghị như: i) cần bố trí ngân sách hằng năm phù hợp để thực hiện chính sách chăm sóc và phát huy vai trò NCT; ii) cần có các chính sách phù hợp nhằm tạo điều kiện cho NCT phát huy trí tuệ, kinh nghiệm quý và phẩm chất tốt đẹp trong các hoạt động của đời sống xã hội; iii) cần tạo môi trường và điều kiện để phát huy vai trò NCT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tham gia các phong trào khuyến học, khuyến tài, hỗ trợ giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng người có đức, có tài và các cuộc vận động khác tại cộng đồng; iv) cần có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tuyên truyền, giáo dục ý thức kính trọng, biết ơn NCT, chăm sóc, phát huy vai trò NCT. Ở góc độ pháp luật ASXH đối với NCT, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học Luật Hà Nội có công trình nghiên cứu với tiêu đề “Pháp luật an sinh xã hội đối với NCT ở Việt Nam-thực trạng và phương hướng hoàn thiện” (2018), chủ nhiệm đề tài Đỗ Thị Dung [20]. Nhóm tác giả tập trung nghiên cứu pháp luật ASXH đối với NCT theo những quy định của Luật NCT năm 2009, Luật BHYT năm 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014, Luật BHXH năm 2014, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Nghiên cứu chỉ ra rằng ASXH đối với NCT luôn là nội dung quan trọng được pháp luật các quốc gia trên thế giới ghi nhận và điều chỉnh. Nội dung pháp luật ASXH đối với NCT gồm: i) bảo hiểm thu nhập đối với NCT, trong đó trọng tâm là thực hiện bảo hiểm hưu trí hàng tháng; ii) Chăm sóc y tế đối với NCT, trong đó nòng cốt là BHYT; iii) Trợ giúp xã hội, trong đó thực hiện bảo trợ xã hội đối với NCT; và iv) các dịch vụ xã hội cơ bản khác đối với NCT. Sau khi phân tích thực trạng pháp luật về ASXH đối với NCT, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện vấn đề này, trong đó có giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thu nhập cho NCT bằng cách tạo điều kiện hỗ trợ cần thiết để NCT làm việc như không nên phân biệt tuổi tác, tạo điều kiện để NCT có thời giờ làm việc linh hoạt. Vẫn là phân tích nội dung pháp luật về ASXH đối với NCT nhưng không gian nghiên cứu không phải trên phạm vi cả nước mà trên địa bàn TP.Hà Nội, tác giả Trần Phương Nga với công trình “Pháp luật về an sinh xã hội đối với NCT và thực tiễn thực hiện tại TP.Hà Nội” (2019) [74] phân tích cho người đọc thấy những thành tựu 10 đạt được trong thực tiễn thực hiện quy định pháp luật ASXH về bảo hiểm hưu trí, BHYT, trợ giúp xã hội và một số chế độ an sinh khác đối với NCT như Thành phố đã tích cực tuyên truyền, vận động NLĐ tham gia BHXH để được hưởng lương hưu khi về già, bảo đảm chi trả lương hưu đúng hạn,…Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế đó là số NCT được hưởng chế độ hưu trí trên địa bàn thành phố chưa cao, mức trợ cấp xã hội hàng tháng còn thấp so với điều kiện sống tại Hà Nội, NCT gặp khó khăn khi tiếp cận các cơ sở bảo trợ xã hội,…Cuối bài nghiên cứu, tác giả đưa ra 8 kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ASXH đối với NCT.
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu liên quan đến các chính sách đối với NCT như: Chính sách an sinh xã hội với xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam (2019) của Giang Thanh Long, Đỗ Thị Thu [70]; Chính sách xã hội dành cho người cao tuổi (2020) của Nguyễn Thị Thu Hoài [48]; Chính sách đối với người cao tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh – thực trạng và một số kiến nghị (2021) của Đặng Kim Quyên [96], “Thực trạng chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay- vấn đề và kiến nghị” của Bùi Nghĩa - Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một số 02/2019 [78]. Nghiên cứu về hợp đồng lao động và tranh chấp giữa người sử dụng lao động với người lao động cao tuổi Mặc dù tiêu đề bài viết không đề cập trực tiếp chế định hợp đồng với người lao động cao tuổi nhưng trong phân tích của mình “Hoàn thiện chế định hợp đồng lao động - Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp” của tác giả Đỗ Ngân Bình đăng trên tạp chí Luật học số 06/2017 [10], tác giả cũng dành khá nhiều nội dung đề cập đến loại hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi. Có 3 loại hợp đồng lao động gồm hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Trường hợp ký hợp đồng lao động xác định thời hạn thì người sử dụng lao động và người lao động chỉ được ký liên tiếp tối đa 02 hợp đồng, nếu sau đó người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Quy định này được áp dụng đối với người lao động cao tuổi thì không hợp lý vì lý do sức khỏe NCT không thể gắn bó lâu dài với công việc nên sẽ thuận lợi hơn nếu giao kết hợp đồng lao động xác định thời hạn với người lao động cao tuổi, đồng thời không nên hạn chế số lần ký hợp đồng. Với tiêu đề bài viết “Đánh đố lao động cao tuổi” (2015) của tác giả Mai Chi đăng trên báo điện tử Người lao động [16] có đề cập đến nhiều quy định bất cập gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật, đặc biệt là một số điều khoản áp dụng cho lao động là NCT. Theo đó, tác giả thấy rằng có sự mâu thuẫn giữa luật và nghị định, cụ thể BLLĐ năm 2012 quy định người lao động khi có đủ cả 2 điều kiện về thời gian đóng BHXH và tuổi hưởng lương hưu theo quy định thì đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động. Khoản 4, Điều 36 BLLĐ 2012 quy định người lao động (NLĐ) đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 11 187 thì đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ).
Như vậy có nghĩa nếu NLĐ thiếu 1 trong 2 yếu tố, chẳng hạn đủ tuổi hưu nhưng chưa đủ thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu thì sẽ không bị chấm dứt hợp đồng. Thế nhưng, tại Khoản 2, Điều 6 Nghị định 05/2015/NĐ-CP lại quy định: “Khi người sử dụng lao động không có nhu cầu hoặc NLĐ cao tuổi không đủ sức khỏe thì 2 bên thực hiện chấm dứt HĐLĐ”.