Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VE TO CHỨC VÀ HOẠT DONG CUA THANH TRA HUYỆN Ở VIỆT NAM 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm thanh tra Thanh tra (Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh "Inspectare" với ý nghĩa "nhìn vào bên trong" để chỉ việc kiểm tra và xem xét một cách tỉ mỉ và chi tiết về hoạt động hoặc đối tượng cụ thé. Theo Từ điển pháp luật Anh - Việt động từ “inspect” có nghĩa là thanh tra và được giải thích là hoạt động kiểm tra, kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra [24]; còn theo nghĩa của danh từ “inspectare” lai có nghĩa là một cơ quan, tô chức, bộ phận thanh tra ví dụ như ban thanh tra, cơ quan thanh tra,.
có rất nhiều khái niệm khác nhau về thanh tra. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học năm 2016, thanh tra là “xem xét và ngăn chặn những gì trái với quy định” [69]. Theo Đại từ điển tiếng Việt năm 2008 do Nguyễn Như Ý làm chủ biên thì “thanh tra” có nghĩa là “điều tra, xem xét dé làm rõ sự việc” [70. Với nghĩa này thì thanh tra bao hàm cả nghĩa điều tra.
Theo cuốn sách "Thuật ngữ pháp lý phổ thông" (1986) của Nxb. Pháp lý thì thanh tra được định nghĩa là một biện pháp, phương pháp của kiểm tra. Nhiệm vụ thanh tra được ủy quyền cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm [33, tr. Đối với nghĩa này, thanh tra có nội hàm hẹp hơn kiểm tra, thanh tra gan liền với chức năng QLNN.
Nhiệm vụ của thanh tra cũng là kiểm tra, nhưng chỉ là kiểm tra của sở hữu nhà nước, kiểm tra tính hợp pháp của các hoạt động kinh tế, xã hội,. Từ thời kỳ phong kiến, mặc dù khái niệm thanh tra chưa được sử dụng, tuy nhiên đã có các chức quan làm công việc giống như thanh tra. Triều Lý có chức quan “Gián nghị đại phu”. Gián nghị đại phu là chức quan cao cấp, đứng đầu là Tả gián nghị đại phu và Hữu gián nghị đại phu.
Nhiệm vụ của gián nghị đại phu là can gián nhà vua, giúp vua trong việc theo dõi, xem xét các công việc hệ trọng của triều đình. Triều Trần có cơ quan gọi là “Wgự sử dai” đứng đầu là “Quan ngự sử”. Ngự sử đài là cơ quan chuyên trách về việc can gián nhà vua và các quan lại trong triều đình. Quan ngự sử có quyền lên tiếng can gián, đả kích những việc làm sai trái của nhà vua và các quan lại.
Có thé nói, các chức quan gián nghị đại phu và ngự sử trong thời kỳ phong kiến là tiền thân của các cơ quan thanh tra nhà nước hiện nay [33]. Lần đầu tiên, thuật ngữ "thanh tra" xuất hiện trong Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký dé thành lập Ban Thanh tra đặc biệt. Sắc lệnh nêu rõ “Chinh phủ sẽ lập tức ngay một Ban thanh tra đặc biệt, có kỷ niệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phú ” [9, tr. Từ sắc lệnh này, khái nệm thanh tra đã được củng cô và phát triển trong các bản Hiến pháp và văn ban quy phạm pháp luật của Việt Nam, khăng định thanh tra là một hoạt động quan trọng và không thé thiếu trong hoạt động QLNN.
Sac lệnh này đặt nền móng cho hệ thong thanh tra của Việt Nam va nhắn mạnh tam quan trọng của việc thanh tra trong việc đảm bảo sự tuân thủ và hiệu quả của hoạt động của các cơ quan và tô chức. Trong Hiến pháp năm 1992, tại Khoản 7 Điều 112, có quy định rằng “Chính phủ có nhiệm vụ tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thong kê của nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra nhà nước, chong quan liêu, tham những trong bộ máy nhà nước, công tác giải quyết KNTC của công dan” [34. Trong Hiến pháp năm 2013, tại Khoản 5 Điều 96, quy định rằng “Chính phủ tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết KNTC, phòng, chong quan liêu tham những trong bộ máy nhà nước ” [41, tr. Điều này thể hiện sự liên tục và sự nhân mạnh của vai trò của Chính phủ trong việc quản lý, kiêm tra và dam bao 10 tính chất trong bộ máy nhà nước cũng như chống lại hành vi quan liêu và tham nhũng trong hoạt động của các cơ quan và tổ chức của nhà nước.
Văn bản pháp lý đầu tiên đề cập một cách đầy đủ và toàn diện đến việc tổ chức và hoạt động của thanh tra là Pháp lệnh thanh tra năm 1990. Theo đó, hoạt động thanh tra được coi là chức năng thiết yếu của cơ quan QLNN. Điều 1 của Pháp lệnh quy định rang “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan QLNN; là phương pháp bao đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong QLNN, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa ” [30, tr. Điều 8 của Pháp lệnh đề cập đến nhiệm vụ của các tô chức thanh tra nhà nước, đó là “Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tô chức và cá nhân, chữ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan Điều tra, Kiểm sát, Tòa án và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế của cơ quan trọng tài kinh tế” [30, tr.
Luật Thanh tra năm 2010 đã thay thế Luật Thanh tra năm 2004 và tiếp tục khang định vai trò quan trọng của công tác thanh tra. Định nghĩa về "thanh tra" được quy định tại Khoản 1 Điều 3 của Luật này: Thanh tra Nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thâm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tô chức, cá nhân. Nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm soát hoạt động hành chính Nhà nước trong thời kỳ đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường hội nhập với thế giới. Ngày 14/11/2022, Quốc hội Khóa XV đã ban hành Luật Thanh tra năm 2022.
Định nghĩa “thanh tra” được quy định tại Khoản 1, Điều 2 “Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xu lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyên hạn cua cơ quan, tô chức, 11 cá nhân. Như vậy, có thé thấy khái niệm “Thanh tra Nhà nước” được quy định tại Luật Thanh tra năm 2010 đã được thay thế bang khái niệm “Thanh tra”. Sự thay đôi này giúp mở rộng hơn phạm vi của hoạt động thanh tra khi không còn chỉ tập trung chủ yếu vào khu vực Nhà nước mà còn mở rộng ra cả khu vực tư nhân đặc biệt trong thời kỳ kinh tế thị trường với nhiều cơ hội nhưng cũng đi kèm với những thách thức cho công tác giám sát hoạt động hành chính Nhà nước. Tóm lại, thanh tra là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh gid việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, việc thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và cá nhân do các cơ quan thanh tra có thẩm quyền thực hiện nhằm phục vụ cho hoạt động QLNN, bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Khái niệm thanh tra huyện Thanh tra huyện là một tô chức cơ sở trong hệ thống các cơ quan thanh tra Nhà nước. Thanh tra cấp huyện gồm có Thanh tra huyện, thanh tra quận, thanh tra thị xã, thanh tra thành phố thuộc tỉnh, gọi chung là thanh tra huyện. Theo Luật Thanh tra năm 2022, đây là một cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) huyện, và chịu trách nhiệm giúp UBND huyện quản lý công việc thanh tra, giải quyết KNTC và PCTN theo quy định của pháp luật. Theo Khoản 1, Điều 9 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương 2015 quy định: Cơ quan chuyên môn thuộc UBND được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên [43].
Cơ cấu tô chức của thanh tra huyện bao gồm: Chánh Thanh tra huyện; Phó Chánh Thanh tra huyện; Thanh tra viên; Các công chức khác. Chánh 12 Thanh tra huyện do Chủ tịch UBND cấp huyện bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Chánh Thanh tra cấp tỉnh. Phó Chánh Thanh tra huyện giúp Chánh thanh tra cấp huyện thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh Thanh tra cấp huyện. Thanh tra cấp huyện có tư cách pháp nhân, có con dau và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo quản lý về tô chức, biên chế và công tác của UBND cấp huyện; đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Thanh tra cấp tỉnh.
Ngoài vai trò là một cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và có trách nhiệm hỗ trợ UBND cấp huyện trong việc quản lý công việc thanh tra, giải quyết KNTC và PCTN, thanh tra huyện cũng phải tuân theo hướng dẫn và kiểm tra chuyên môn từ phía Thanh tra cấp tỉnh theo hệ thống ngành dọc. Kết hợp các yếu tố này tạo nên một hệ thống “song trùng trực thuộc” trong tô chức cũng như hoạt động của thanh tra huyện. Như vậy, Thanh tra huyện là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện. Thanh tra huyện có con dấu, tài khoản riêng; thực hiện phối hợp cùng UBND cùng cấp QLNN về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết KNTC và phòng, chống tham những, tiêu cực theo quy định của pháp luật; thực hiện các công việc liên quan đến thanh tra trong phạm vi QLNN của UBND cấp huyện; dong thời chịu sự chỉ đạo về công tác, hướng dan về nghiệp vụ cua Thanh tra tinh.
Khái niệm tổ chức và hoạt động thanh tra huyện Theo định nghĩa từ Từ điển Bách khoa Việt Nam, "tô chức" được định nghĩa là một hình thức tập hợp và liên kết các thành viên trong xã hội (cá nhân hoặc tập thể) nhăm đáp ứng các yêu cau, nguyện vọng, và lợi ích của các thành viên đó, và họ cùng nhau thực hiện các hoạt động với mục tiêu chung. Trong khi đó, "hoạt động” đề cập đến việc tiến hành các công việc có quan hệ chặt chẽ với nhau, thường trong một lĩnh vực cụ thé, với mục đích đạt được một kết quả hoặc mục tiêu cụ thể [20].