Tổng quan về luận án

Vận tải đa phương thức (Multimodal Transport - VTĐPT) đóng vai trò huyết mạch trong chuỗi cung ứng logistics toàn cầu và thương mại quốc tế. Tại Việt Nam, Chiến lược phát triển giao thông vận tải xác định: "Giao thông vận tải là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, một trong ba khâu đột phá cần ưu tiên phát triển đi trước một bước với tốc độ nhanh, bền vững nhằm tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước". Trong bối cảnh tăng trưởng GDP giai đoạn 2015–2019 luôn duy trì ở mức cao (năm 2015 đạt 6,68%, năm 2016 đạt 6,21%, năm 2017 đạt 6,81%, năm 2018 đạt 7,18%, năm 2019 đạt 7,02%), nhu cầu luân chuyển hàng hóa bùng nổ mạnh mẽ. Theo Báo cáo Logistics của Bộ Công Thương, sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển năm 2017 ước đạt 536,4 triệu tấn (tăng 17% so với năm 2016), vận chuyển đường biển chiếm khoảng 90% kim ngạch xuất nhập khẩu; trong 9 tháng đầu năm 2018, vận tải đường bộ đạt 934,7 triệu tấn (tăng 10,8%), đường thủy nội địa đạt 189,5 triệu tấn (tăng 7,3%).

Mặc dù quy mô thị trường tăng trưởng vượt bậc, hệ thống pháp luật điều chỉnh VTĐPT tại Việt Nam bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) chỉ rõ: "Xét về cơ sở hạ tầng và hành lang pháp lý, mạng lưới giao thông vận tải đa phương thức của Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển". Luận án tiến sĩ luật học "Pháp luật về vận tải đa phương thức trong điều kiện hội nhập quốc tế" (Chuyên ngành: Luật Kinh tế, Mã số: 938 01 07) do NCS. Nguyễn Thị Thu Hằng thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh và TS. Nguyễn Thị Yến đã giải quyết trực tiếp khoảng trống học thuật này.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu được thiết lập:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Bản chất pháp lý của vận tải đa phương thức và hợp đồng vận tải đa phương thức trong mối tương quan với các phương thức vận tải đơn thức truyền thống được xác lập như thế nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Hệ thống quy phạm pháp luật thực định Việt Nam (từ Nghị định số 125/2003/NĐ-CP, Nghị định số 87/2009/NĐ-CP đến Nghị định số 144/2018/NĐ-CP) có những xung đột, bất cập nào về điều kiện kinh doanh, chủ thể, chế độ trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO) và giải quyết tranh chấp?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những định hướng và giải pháp cụ thể nào cần được thực thi nhằm hài hòa hóa pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (AFAMT, UNCTAD/ICC Rules, Rotterdam Rules) đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế?
  • Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Việc thiếu vắng một văn bản luật chuyên ngành ở tầm đạo luật và sự xung đột giữa các luật chuyên ngành đơn thức làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics Việt Nam.
  • Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Xây dựng chế độ trách nhiệm thống nhất hoặc chế độ trách nhiệm từng chặng sửa đổi tương thích với các điều ước quốc tế sẽ bảo vệ tối ưu quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ VTĐPT.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn diện các quan hệ pháp luật phát sinh trực tiếp từ hoạt động VTĐPT tại Việt Nam từ mốc mở cửa hội nhập quốc tế (1996) đến năm 2021, đối chiếu có chọn lọc với pháp luật quốc tế và khu vực.

Literature Review và Positioning

Nghiên cứu về VTĐPT trên thế giới và tại Việt Nam hình thành qua ba dòng nghiên cứu (research streams) chủ đạo:

Dòng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào mối quan hệ giữa công ten nơ hóa (containerization) và sự hình thành chế độ pháp lý VTĐPT. Marian Hoeks (2010) trong công trình "Multimodal Transport Law: The law applicable to the multimodal contract for the carriage of goods" khẳng định cuộc cách mạng container từ những năm 1950 là động lực vật chất làm thay đổi căn bản cấu trúc hợp đồng vận tải. Quan điểm này được củng cố bởi Ruth Banomyong (2010) trong nghiên cứu về hành lang VTĐPT Đông Nam Á và Arthur Donovan (2000) khi phân tích lịch sử vận tải liên hợp tại Mỹ. Tuy nhiên, Caroline Colebunders (2013) và Ralph De Wit chỉ ra rằng thách thức pháp lý lớn nhất không nằm ở kỹ thuật xếp dỡ mà ở khoảng trống phân định trách nhiệm khi hàng hóa bị tổn thất không định vị được chặng vận chuyển (concealed damage).

Dòng nghiên cứu thứ hai xoay quanh bản chất pháp lý của hợp đồng VTĐPT và chế độ trách nhiệm của MTO. Tồn tại cuộc tranh luận học thuật sâu sắc giữa hai trường phái:

  • Trường phái Hợp đồng hỗn hợp (Mixed Contract Theory): Đại diện bởi Haedong Jeon (2013), lập luận rằng hợp đồng VTĐPT là sự kết hợp cơ học của các chặng vận tải đơn thức, tương ứng với việc duy trì Chế độ trách nhiệm từng chặng (Network Liability System) nhằm tôn trọng các công ước quốc tế chuyên ngành hiện hữu như Quy tắc Hague-Visby (đường biển), Công ước Warsaw/Montreal (hàng không), hay Công ước CMR (đường bộ).
  • Trường phái Hợp đồng đặc thù riêng biệt (Sui Generis Contract Theory): Đại diện bởi Christine Besong (2007) và Marian Hoeks (2010), bảo vệ quan điểm hợp đồng VTĐPT là một thể thống nhất không thể phân chia, đòi hỏi áp dụng Chế độ trách nhiệm thống nhất (Uniform Liability System) dựa trên chứng từ VTĐPT đơn nhất.

Dòng nghiên cứu thứ ba tại Việt Nam phần lớn tiếp cận dưới góc độ kinh tế và tổ chức kỹ thuật vận tải (Nguyễn Đình Đăng, 1994; GS.TS. Hoàng Văn Châu, 2003; Nguyễn Hồng Vân, 2007; Vũ Thế Bình, 2009; Nguyễn Thị Phương, 2008). Các nghiên cứu pháp lý trước đây chỉ dừng lại ở các chương tóm lược trong giáo trình luật thương mại quốc tế hoặc các bài báo đơn lẻ về trách nhiệm MTO (Dương Văn Bão, 2001).

Luận án định vị chính xác khoảng trống: Là công trình tiến sĩ luật học đầu tiên tại Việt Nam giải quyết toàn diện, có hệ thống khung lý thuyết pháp luật VTĐPT, đồng thời đặt hệ thống pháp luật thực định Việt Nam lên bàn cân so sánh với ít nhất hai hệ thống lập pháp quốc tế điển hình:

  1. Mô hình ban hành luật chuyên biệt: Đạo luật Vận tải đa phương thức hàng hóa của Ấn Độ (The Multimodal Transportation of Goods Act, 1993) và Luật Vận tải đa phương thức của Thái Lan (The Multimodal Transport Act, B.E. 2548 - 2005).
  2. Mô hình tích hợp trong luật thực định chung: Bộ luật Thương mại Đức (Handelsgesetzbuch - HGB, Điều 452–452d) và Luật Hợp đồng Trung Quốc 1999 (Contract Law of the PRC, Chương 17, Mục 4).

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đóng góp quan trọng vào sự phát triển của lý luận Luật Kinh tế và Luật Thương mại quốc tế qua các nội dung:

  1. Mở rộng lý thuyết hợp đồng vận chuyển hàng hóa: Luận án chứng minh hợp đồng VTĐPT mang bản chất hợp đồng sui generis trong điều kiện hiện đại hóa số hóa, vượt lên trên lý thuyết hợp đồng gộp chung (absorbed contract) hay hợp đồng hỗn hợp cơ học. Hợp đồng VTĐPT thiết lập một cam kết nghĩa vụ xuyên suốt (door-to-door obligation) của một chủ thể pháp lý duy nhất là MTO, độc lập với việc MTO có trực tiếp sở hữu phương tiện hay là nhà vận tải không sở hữu tàu (NVOCC).
  2. Chuẩn hóa khái niệm và cấu trúc quan hệ pháp luật VTĐPT: Kế thừa định nghĩa chuẩn từ Công ước Liên Hợp Quốc về VTĐPT quốc tế năm 1980: "Vận tải đa phương thức là vận chuyển hàng hoá bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức, từ một địa điểm ở một nước nơi người kinh doanh vận tải đa phương thức nhận hàng hoá đến một địa điểm được chỉ định giao hàng ở một nước khác", luận án xây dựng hệ thống 4 đặc trưng pháp lý nền tảng:
    • Tính đơn nhất của hợp đồng và chứng từ vận tải;
    • Tính đa dạng của phương thức vận chuyển kỹ thuật (kết hợp tối thiểu 2 phương thức);
    • Tính tập trung của chủ thể chịu trách nhiệm duy nhất (MTO);
    • Tính liên tục và thông suốt của hành trình chuyên chở.
  3. Luận giải cơ sở khoa học về giới hạn trách nhiệm pháp lý: Đưa ra khung lý thuyết cân bằng lợi ích kinh tế - pháp lý giữa người gửi hàng và MTO, phân tích tính hợp lý của các nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm và chế định lỗi hàng hải khi áp dụng vào chuỗi logistics tích hợp.

Khung phân tích độc đáo

Luận án thiết lập khung phân tích đa chiều tích hợp 3 trụ cột lý thuyết:

  • Lý thuyết Thể chế kinh tế thị trường: Đánh giá vai trò kiến tạo và định hướng của nhà nước trong việc ban hành hành lang pháp lý cạnh tranh, bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
  • Lý thuyết Hài hòa hóa và Thống nhất hóa pháp luật quốc tế: Phân tích mức độ tương thích giữa quy định nội địa với Hiệp định khung ASEAN về Vận tải đa phương thức (AFAMT 2005), Quy tắc UNCTAD/ICC 1992 và Quy tắc Rotterdam 2008.
  • Lý thuyết Phân bổ rủi ro hợp đồng (Risk Allocation Theory): Giải phẫu cơ chế chuyển giao rủi ro, thời hạn khiếu nại, chế độ chứng minh lỗi và mức bồi thường thiệt hại giữa các chủ thể.

Khung phân tích xác định rõ điều kiện biên: Tập trung vào quan hệ pháp luật trực tiếp giữa MTO, người gửi hàng (consignor), người nhận hàng (consignee); loại trừ các quan hệ phụ trợ như hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng dịch vụ kho bãi, giám định độc lập.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án được thiết kế dựa trên hệ hình triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác-xít, kết hợp với trường phái thực chứng pháp lý (legal positivism) và phân tích xã hội học pháp luật (socio-legal analysis). Thiết kế nghiên cứu đa cấp độ (multi-level design) xem xét hiện tượng pháp lý VTĐPT qua 3 cấp độ:

  • Cấp độ vĩ mô: Tác động của toàn cầu hóa, các cam kết FTA, WTO và chính sách phát triển hạ tầng giao thông quốc gia.
  • Cấp độ trung gian: Cấu trúc văn bản quy phạm pháp luật thực định Việt Nam và mức độ đồng bộ giữa các luật chuyên ngành (Hàng hải, Đường bộ, Đường sắt, Hàng không, Thủy nội địa).
  • Cấp độ vi mô: Thực tiễn giao kết, thực hiện hợp đồng, xác lập chứng từ MTD và giải quyết tranh chấp tại Tòa án và Trọng tài thương mại.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu tuân thủ các chuẩn mực học thuật nghiêm ngặt thông qua kỹ thuật tam giác giác hóa (triangulation):

  • Tam giác hóa nguồn dữ liệu: Kết hợp dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật, số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công Thương, World Bank, UNCTAD và các báo cáo ngành Logistics giai đoạn 2003–2020.
  • Tam giác hóa phương pháp:
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Rà soát toàn bộ các quy phạm tại Nghị định 87/2009/NĐ-CP và Nghị định 144/2018/NĐ-CP;
    • Phương pháp luật học so sánh (Comparative Law): Đối chiếu pháp luật Việt Nam với Đạo luật VTĐPT Ấn Độ 1993, Luật Thái Lan 2005, Luật Hợp đồng Trung Quốc 1999, Bộ luật Thương mại Đức (HGB), Bộ luật Dân sự Hà Lan (Burgerlijk Wetboek);
    • Phương pháp diễn dịch - quy nạp và dự báo: Xây dựng mô hình hoàn thiện chính sách đến năm 2030.

Data và phân tích

Dữ liệu thực chứng phản ánh bức tranh toàn cảnh:

  • Đánh giá hệ thống 4 nhóm điều kiện kinh doanh VTĐPT theo Nghị định 87/2009/NĐ-CP (về vốn điều lệ tối thiểu 80.000 SDR, tài sản, chứng chỉ chuyên môn và giấy phép kinh doanh) và các nội dung cắt giảm điều kiện kinh doanh tại Nghị định 144/2018/NĐ-CP.
  • Rà soát sự tương thích giữa Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thương mại 2005, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015, Luật Giao thông đường bộ 2008, Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004 (sửa đổi 2014), Luật Đường sắt 2017, Luật Hàng không dân dụng 2006 (sửa đổi 2014), Luật Doanh nghiệp 2020 và Luật Đầu tư 2020.
  • Đánh giá thực tiễn xét xử và giải quyết tranh chấp liên quan đến tổn thất hàng hóa container, xác định thẩm quyền trọng tài và hiệu lực của các điều khoản miễn trách trên chứng từ vận tải.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Sự thiếu đồng bộ và phân tán của hệ thống pháp luật thực định: Luận án phát hiện pháp luật VTĐPT Việt Nam hiện chỉ dừng lại ở cấp Nghị định (Nghị định 87/2009/NĐ-CP, sửa đổi bởi Nghị định 89/2011/NĐ-CP và Nghị định 144/2018/NĐ-CP), trong khi các phương thức vận tải đơn thức đều được điều chỉnh bởi các đạo luật riêng (Bộ luật Hàng hải, Luật Giao thông đường bộ...). Sự chênh lệch về hiệu lực pháp lý này tạo ra xung đột quy phạm gay gắt khi xác định luật áp dụng.
  2. Bất cập trong chế định điều kiện kinh doanh: Quy định pháp luật hiện hành tạo sự bất bình đẳng giữa MTO trong nước và MTO nước ngoài; điều kiện về vốn và phương tiện còn nặng tính hành chính, chưa thực sự gắn với tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và năng lực quản trị rủi ro số hóa.
  3. Mâu thuẫn trong chế độ trách nhiệm của MTO: Pháp luật Việt Nam áp dụng Chế độ trách nhiệm từng chặng nhưng lại thiếu các quy định chi tiết xử lý trường hợp tổn thất không xác định được chặng xảy ra (concealed damage), dẫn đến sự lúng túng trong xác định giới hạn trách nhiệm bồi thường (áp dụng theo mức trần của chặng biển hay chặng bộ).
  4. Hạn chế về chứng từ vận tải điện tử: Hành lang pháp lý hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi số, thiếu vắng cơ chế công nhận giá trị pháp lý của chứng từ VTĐPT điện tử và khả năng chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hóa qua nền tảng số.
  5. Rào cản trong cơ chế giải quyết tranh chấp: Sự thiếu vắng các án lệ chuyên sâu và sự bất cập trong thỏa thuận lựa chọn tòa án/trọng tài nước ngoài đẩy các doanh nghiệp chủ hàng Việt Nam vào thế bất lợi khi xảy ra tranh chấp quốc tế.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Cung cấp cơ sở khoa học khẳng định vị trí độc lập tương đối của pháp luật VTĐPT trong hệ thống pháp luật kinh tế, định hình khung lý thuyết cho việc nâng cấp văn bản điều chỉnh lên tầm luật chuyên ngành.
  • Về mặt lập pháp: Đề xuất lộ trình 2 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1: Sửa đổi, bổ sung Nghị định 87/2009/NĐ-CP và Nghị định 144/2018/NĐ-CP, ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn cơ chế phối hợp kiểm tra chuyên ngành logistics;
    • Giai đoạn 2: Xây dựng và ban hành Luật Vận tải đa phương thức độc lập của Việt Nam, nội luật hóa toàn diện Hiệp định khung ASEAN (AFAMT) và các chuẩn mực của Quy tắc Rotterdam.
  • Về mặt thực tiễn và quản trị doanh nghiệp: Cung cấp khuyến nghị cho các MTO Việt Nam trong việc chuẩn hóa mẫu hợp đồng VTĐPT, nâng cao năng lực pháp lý đàm phán, mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự MTO và số hóa chứng từ vận tải.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn ghi nhận các giới hạn nghiên cứu:

  • Giới hạn phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ vận tải trực tiếp; chưa bao quát sâu các quy định về bảo hiểm hàng hóa chuyên sâu, thủ tục hải quan điện tử và dịch vụ logistics cảng cạn (ICD).
  • Giới hạn bối cảnh thời gian: Dữ liệu nghiên cứu phản ánh thực trạng đến năm 2021, chưa đánh giá đầy đủ tác động dài hạn của Hiệp định EVFTA, CPTPP và sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu sau đại dịch COVID-19.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Directions):

  1. Nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh chứng từ vận tải đa phương thức số hóa dựa trên công nghệ Blockchain và Hợp đồng thông minh (Smart Contract).
  2. Xây dựng cơ chế pháp lý quản lý vận tải đa phương thức xanh (Green Multimodal Transport) hướng tới mục tiêu giảm phát thải ròng bằng 0 (Net Zero).
  3. Đánh giá tác động pháp lý của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (EVFTA, CPTPP, RCEP) đối với thị trường dịch vụ logistics xuyên biên giới.
  4. Cơ chế giải quyết tranh chấp VTĐPT quốc tế thông qua trọng tài trực tuyến (Online Dispute Resolution - ODR).

Tác động và ảnh hưởng

  • Ảnh hưởng học thuật: Là tài liệu chuyên khảo tiên phong, chuẩn mực phục vụ công tác đào tạo sau đại học, cử nhân tại các cơ sở đào tạo luật (Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - ĐHQGHN, Đại học Luật TP.HCM) và kinh tế hàng hải (Đại học Hàng hải Việt Nam, Đại học Giao thông vận tải, Đại học Ngoại thương).
  • Tác động chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Bộ Tư pháp, Bộ Giao thông vận tải, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội trong việc rà soát, hoàn thiện thể chế giao thông vận tải và logistics quốc gia.
  • Thúc đẩy ngành logistics: Hỗ trợ Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) và các hiệp hội vận tải bảo vệ quyền lợi hội viên, nâng cao năng lực cạnh tranh của MTO nội địa trước các tập đoàn logistics đa quốc gia.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên ngành Luật Kinh tế, Thương mại quốc tế: Kế thừa hệ thống lý luận hoàn chỉnh, tài liệu tham khảo và các khoảng trống nghiên cứu mở rộng.
  • Cơ quan Quản lý Nhà nước và Nhà lập pháp: Tiếp cận khung giải pháp lập pháp đồng bộ, kiến nghị hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật thực định.
  • Doanh nghiệp Kinh doanh Vận tải Đa phương thức (MTO): Nắm vững chế độ pháp lý, hạn chế tối đa rủi ro bồi thường thiệt hại và tối ưu hóa hợp đồng dịch vụ.
  • Chủ hàng và Doanh nghiệp Xuất nhập khẩu: Nâng cao hiểu biết pháp lý để chủ động bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi xảy ra tổn thất, chậm giao hàng hoặc hư hỏng hàng hóa trong chuỗi vận tải liên hợp.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
    Luận án đã mở rộng lý thuyết hợp đồng vận chuyển hàng hóa thông qua việc xác lập bản chất pháp lý của hợp đồng VTĐPT là loại hợp đồng sui generis (hợp đồng đặc thù riêng biệt), bác bỏ cách hiểu xem hợp đồng VTĐPT đơn thuần là hợp đồng hỗn hợp cơ học. Qua đó, luận án xây dựng hệ thống nguyên tắc pháp lý độc lập điều chỉnh trách nhiệm MTO xuyên suốt chuỗi vận chuyển.

  2. Điểm đột phá về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
    Khác với các công trình trước đây của Marian Hoeks (2010) (chỉ tập trung vào 3 nước châu Âu) hay Ruth Banomyong (2010) (nghiên cứu dưới góc độ kinh tế hành lang), luận án đã kết hợp phương pháp luật học so sánh chuyên sâu giữa pháp luật Việt Nam với cả 2 nhóm điển hình: nhóm quốc gia có Luật VTĐPT chuyên biệt (Ấn Độ 1993, Thái Lan 2005) và nhóm quốc gia tích hợp trong luật thực định chung (Đức HGB, Trung Quốc 1999), đặt trong bối cảnh thực tiễn của một nền kinh tế đang phát triển chuyển đổi.

  3. Phát hiện bất ngờ nhất từ kết quả nghiên cứu là gì?
    Mặc dù Việt Nam đã ký kết Hiệp định khung ASEAN về VTĐPT (AFAMT) từ năm 2005 và ban hành các Nghị định điều chỉnh, mức độ nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế vẫn còn rất thấp; tồn tại khoảng trống pháp lý nghiêm trọng trong việc xử lý tổn thất không xác định được chặng (concealed damage), khiến các Tòa án Việt Nam thường lúng túng và áp dụng tùy nghi các quy định của Bộ luật Hàng hải hoặc Bộ luật Dân sự.

  4. Luận án có cung cấp quy trình/giao thức áp dụng thống nhất không?
    Có. Luận án cung cấp bảng chỉ dẫn đối chiếu và quy trình áp dụng thứ tự ưu tiên nguồn luật: Điều ước quốc tế $\rightarrow$ Luật chuyên ngành $\rightarrow$ Luật chung (Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại) $\rightarrow$ Tập quán thương mại quốc tế (Incoterms, UNCTAD/ICC Rules) trong giải quyết tranh chấp VTĐPT.

  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được phác thảo ra sao?
    Định hướng hoàn thiện hệ thống thể chế pháp lý logistics số hóa và logistics xanh: xây dựng đạo luật riêng về VTĐPT vào giai đoạn 2025–2030, hoàn thiện khung pháp lý về e-Bill of Lading, hợp đồng thông minh và cơ chế chia sẻ dữ liệu vận tải đa phương thức xuyên biên giới.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của NCS. Nguyễn Thị Thu Hằng tạo dựng dấu ấn học thuật xuất sắc qua 5 đóng góp trọng tâm:

  1. Xác lập hệ thống cơ sở lý luận toàn diện, chuyên sâu và chuẩn xác về vận tải đa phương thức và pháp luật vận tải đa phương thức trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
  2. Phân tích, đánh giá sâu sắc thực trạng pháp luật thực định Việt Nam (từ Nghị định 125/2003/NĐ-CP, Nghị định 87/2009/NĐ-CP đến Nghị định 144/2018/NĐ-CP), chỉ rõ các xung đột thể chế và bất cập trong thực tiễn thi hành.
  3. Thực hiện so sánh luật học đa chiều với các mô hình lập pháp quốc tế tiêu biểu (Ấn Độ, Thái Lan, Đức, Trung Quốc, Hà Lan) và các điều ước quốc tế chuyên ngành (AFAMT, Rotterdam Rules).
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp và lộ trình lập pháp khả thi, khoa học nhằm nâng cao hiệu lực điều chỉnh của pháp luật và bảo đảm sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật kinh tế Việt Nam.
  5. Định hướng giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, hỗ trợ trực tiếp cho sự phát triển bền vững của ngành logistics quốc gia.