CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE CHUAN BỊ XÉT XỬ PHÚC THAM VỤ ÁN DAN SU 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự. Khái niệm chuẩn bị xét xử phúc thâm vụ án dân sự Phúc thâm VADS là cấp xét xử thứ hai trong quá trình giải quyết một VADS. CBXXPT VADS là một giai đoạn của quá trình giải quyết VADS ở TA cấp phúc thẩm.
Vậy CBXXPT VADS là gì? Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2003 thì các thuật ngữ chuẩn bị, xét xử, phúc thấm và dân sự được định nghĩa như sau: “Chuẩn bị” là “làm cho có san cái can thiết dé làm việc gi”.181] “Xét xử” là “xem xét va xử các vu dn” [27, tr.1148] “phúc thẩm” là “Toa án cấp trên xét xu lại một vụ án do TA cấp dưới đã xử sơ thẩm mà chong án ”.790] “Dân sự” là “việc thuộc về quan hệ tài sản hoặc hôn nhân, gia đình (nói khai quát) ”.246] Trong cuốn “Thi tuc xét xử sơ thẩm trong luật to tụng hình sự Việt Nam” của tac gia Dinh Văn Qué thì khái niệm “chudn bị xét xử” theo quan điểm một số tác giả là “chuẩn bị những điều kiện cân thiết dé dua vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật ”. Đối với khái niệm VADS, trước đây trong các TA dưới thời Pháp thuộc (trước năm 1945) những vụ việc thuộc thâm quyên giải quyết của TA được chia làm hai loại là việc hình và việc hộ. Theo đó, Sắc lệnh số 13-SL ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa án và ngạch Tham phán chỉ rõ việc hộ bao gồm “các việc về dân sự và thương sự ” (Điều 3, Điều 17). Tại Điều 9 Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng đã sử dụng thuật ngữ “việc kiện dan sự”.
Theo quy định này, thuật ngữ “việc kiện dan sự” cũng có thé được gọi là “vụ kiện dân sự” để chỉ những tranh chấp dân sự có yêu cầu được TA giải quyết. Từ “việc” và “vu” trong trường hợp này là tương đồng, có thé dùng là “việc kiện” hoặc “vu kiện ” ma không dùng “vu việc kiện”.154] Trên cơ sở Hiến pháp 1959, Điều 1 Luật tổ chức TAND 1960 quy định: “74ND xét xử những vu án hình sự và dân ø. Từ những quy định này, thuật ngữ “vu dn” chính thức được sử dụng trong các văn bản pháp luật. Tiếp theo đó, Thông tư số 01-UB ngày 03/3/1969 của TANDTC hướng dẫn việc viết bản án sơ thâm và phúc thấm hình sự và dân sự, Thông tư 01/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC, Viện kiêm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) hướng dẫn về thủ tục giám đốc thâm và Thông tư 02/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn về thủ tục tái thẩm cũng sử dụng nhiều lần thuật ngữ “vu dn”.
Trong giai đoạn này các thuật ngữ: “việc kiện dan sự”, “tranh chấp dan sự”, “VADS” là những thuật ngữ cùng đồng thời được sử dụng dé chỉ những loại việc thuộc thâm quyền giải quyết về dan sự của TAND. Chi đến khi có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS được ban hành ngày 29/11/1989, các loại việc thuộc thâm quyền xét xử về dan sự của TA mới sử dụng thống nhất thuật ngữ “VADS”’. Khi BLTTDS ra đời, khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế khái nệm VADS. Điều 1 BLTTDS quy định: “BLTTDS quy định những nguyên tắc co bản trong TTDS; trình tự, thủ tục khởi kiện dé TA giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là VADS) và trình tự, thủ tục yêu cau để TA giải quyết các việc về yêu cau dân sự, hôn nhán và gia đình, kinh doanh, thương mai, lao động (sau day gọi chung là việc dân sự ); trình tự, thủ tục giải quyết VADS, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự ) tại TA.
Với quy định này, đối tượng được giải quyết theo thủ tục TTDS là vụ việc dân sự, gsm VADS và việc dân sự. Như vậy, khi Bộ luật Tó tụng dân sự 2004 ra đời, lần đầu tiên khái nệm VADS được khái quát bao gồm “các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mai, lao động”. Theo BLTTDS, VADS là những việc có vi phạm, tranh chấp, bắt đầu từ sự mâu thuẫn giữa các bên đương sự, trong đó có một bên yêu cầu TA buộc bên kia phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật nêu trên. Theo quy định tại các điều 25, 27, 29, 31 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đôi bổ sung năm 2011 thì VADS bao gồm các tranh chap sau đây: - Những tranh chấp về dân sự như: tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam; tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về hợp đồng dân sự; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyên giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 29 của BLTTDS; tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật; tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế dé thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, tranh chấp về kết quả bán dau giá tài sản, thanh toán phí ton đăng ký mua tai sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định.
- Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình như: ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ; tranh chấp về cấp dưỡng: các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định. - Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại như: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tô chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục dich lợi nhuận; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyên giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thé, sap nhap, hợp nhất, chia, tach, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. - Những tranh chấp về lao động như: Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; tranh chấp lao động tập thé về quyền giữa tập thé lao động với người sử dụng lao động; các tranh chấp lao động khác mà pháp luật có quy định. Bên cạnh đó, khái niệm “việc dén sự” cũng được xây dung là các “yêu cau dan sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” (Điều 1 BLTTDS).
Việc dân sự có đặc tinh là các bên không có tranh chấp về quyên, nghĩa vụ mà chỉ yêu cầu TA công nhận cho mình các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động, công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại của mình hoặc của cá nhân, tô chức khác [39. Tiêu chí để phân biệt giữa VADS và việc dân sự là loại việc có tranh chấp hay không có tranh chấp. Tuy nhiên, yếu tố này cũng chỉ mang tính chất tương đối. Ví dụ, đối với yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật, dù chỉ có một bên yêu cầu, bên kia không muốn chấm dứt mối quan hệ đó, nghĩa là có tranh chấp giữa hai bên về việc có yêu cầu hủy hôn nhân hay không thì yêu cầu hủy hôn nhân trái luật vẫn được xác định là việc dân sự.69] Xét xử phúc thâm là một hoạt động độc lập trong quá trình giải quyết vụ án dân sự của Tòa án.
Một số tác giả đã đưa ra khái niệm “xét xử phúc thâm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thâm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị”.393] Theo đó, đối tượng của xét xử phúc thâm là những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thâm chưa có hiệu lực pháp luật mà bị kháng cáo, kháng nghị. Pham vi phúc thấm là những phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Đây là cơ sở để xác định phạm vi các công việc chuẩn bị xét xử phúc thầm VADS. Khái niệm CBXXPT VADS có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau với những nội hàm khác nhau, phụ thuộc vào cách tiếp cận van đề của từng đối tượng tham gia TTDS.
Nếu hiểu CBXXPT với tính chất là một quá trình thì CBXXPT VADS là một giai đoạn tố tụng độc lập trong thủ tục giải quyết các VADS tại TA. Mặt khác, nếu hiểu CBXXPT VADS với tinh chất là hoạt động tố tụng thì CBXXPT VADS gồm những công việc cụ thé do những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật, phù hợp với địa vị tố tụng của họ làm cho hoạt động xét xử phúc thâm VADS được dam bảo [12, tr. Trong phạm vi Luan van này, tác giả nghiên cứu CBXXPT VADS với tính chất là hoạt động TTDS độc lập của TA trong thủ tục giải quyết các VADS tại TA cấp phúc thâm. CBXXVADS nói chung và CBXXPT VADS nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
Theo đó, Tòa án cấp phúc thâm phải tiến hành những hoạt động tô tụng cần thiết như thụ lý vụ án, nghiên cứu nội dung vụ án, chuyển hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu, hướng dẫn hoặc yêu cầu các đương sự tham gia những hoạt động tố tụng cần thiết như nhận giấy triệu tập, cung cấp, bồ sung chứng cứ.