Chương 1: Một số vấn đề lý luận về án phí trong tố tụng dân sự Việt Nam. Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về án phí. Chương 3: Thực tiễn thi hành và một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về án phí trong tố tụng dân sự Việt Nam. NOI DUNG CHUONG 1.
MOT SO VAN DE LY LUAN VE AN PHI TRONG TO TUNG DAN SU VIET NAM 1. Khái niệm án phí trong tố tụng dân sự Việt Nam Hiểu theo nghĩa chung nhất, án phí là khoản tiền phải chi trả cho việc giải quyết một vụ án. Dai từ điển tiếng Việt có giải nghĩa về án phí là “số tién chỉ phí cho việc xét xử một vụ án “ Tuy nhiên, một vụ án không chỉ được giải quyết bằng một cách thức duy nhất là xét xử, mà trong những trường hợp như đình chỉ, công nhận thỏa thuận của các đương sự, Tòa án vẫn phải giải quyết về ` ^ van đề án phí. Dưới góc độ pháp lý, tác giả Trần Thúc Linh tại cuỗn Danh từ pháp luật lược giải đã giải thích về án phí như sau: “Án phí (dépens) chỉ những khoản chi tiêu do việc tranh tụng trước tòa gây nên ””.
Theo từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp - Việt, dépens là “phan chi phí tổ tụng mà bên thang kiện được quyên yêu câu bên thua kiện hoàn trả cho mình, trừ trường hợp tòa án có quyết định khác 7”. Phần chi phí này bao gồm: phí, lệ phí nộp cho tòa án, chi phí cho người làm chứng: thù lao cho giám định viên, công chứng viên, nhân viên đấu giá; chi phí di lại, chi phí giấy tờ tài liệu, thư tín v. Theo từ điển Luật học, “dn phi là khoản chi phí về xét xử một vụ án mà đương sự phải nộp trong mỗi vụ án do cơ quan có thẩm quyên quy định ” `. Như vậy, án phí có thé được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm nhiều khoản chi phí khác nhau phát sinh và tăng lên trong suốt quá trình tố tụng, từ khi thụ lý đến sau khi có bản án, quyết định giải quyết vụ án của Tòa án”.
Những khoản chi phí này do các đương sự chịu theo quy định của pháp luật thé hiện trong quyết định của cơ quan có thâm quyên xét xử là Tòa án. Theo cách tiếp cận này, án phí gần như đồng nghĩa với chi phí tổ tung và được xác định trên chỉ ' Nguyễn Như Ý (chủ biên, 1999), Dai tir điển tiếng Việt, Bộ Giáo dục và dao tạo, Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, tr. ? Trần Thúc Linh (1962), Danh từ pháp luật lược giải, Nxb.
Khai Trí, Sài Gon, tr. 3 Nhà pháp luật Việt — Pháp (2009), Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp — Việt, Nxb.Tw dién bách khoa, tr. * Viên khoa học pháp lý (2006), Tir điển luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.
” Điều 695 Bộ luật tố tụng dân sự của Pháp còn bao ham trong án phí những khoản chi phí phát sinh tại giai đoạn thi hành án (Xem tại: “Nhà pháp luật Việt — Pháp (1998), Bộ luật to tụng dân sự của nước cộng hòa Pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. phí thực tế do việc giải quyết một vụ án gây ra. Tùy theo các thủ tục khác nhau do Tòa án áp dụng trong thực tế mà án phí được pháp luật quy định cách xác định khác nhau, chang han án phí trong thủ tục rút gọn khác với trong thủ tục thông thường, án phí hình sự khác với án phí hành chính, án phí sơ thâm khác với án phí phúc thâm v.
Giáo trình của các trường đại học luật tại Việt Nam không xây dựng khái niệm về án phí trong tô tụng dân sự (TTDS), nhưng có đưa ra giải thích về án phí dân sự khá tương tự nhau, chắng hạn: “Án phí dân sự là số tiễn đương sự Qe A A Z Ny r .?2® A 99 phải nộp ngân sách nha nước khi vu án dân sự được tòa án giải quyết. `, “Những khoản tiền mà đương sự bỏ ra theo quy định của pháp luật dé bù dap cho kinh phí của nhà nước chỉ cho hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự được gọi là án phí, lệ phí, trong đó án phí dân sự là số tiền mà đương sự phải nộp vào ngân sách nhà nước khi vụ án dân sự duoc Tòa án giải quyết. Một số nhà nghiên cứu pháp luật cũng đưa ra khái niệm về án phí dân sự tương tự như trên. Chăng hạn, tác giả Đặng Thị Thơm có xây dựng khái niệm “An phí dân sự là số tién chi phi mà đương sự phải nộp vào công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật, dé giải quyết một vụ án dân sự và chỉ được xử lý khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật””; hay tại cuỗn Số tay thuật ngữ pháp lí thông dung tác giả Nguyén Duy Lam có giải thích cụ thé hơn về án phí dân sự là “khoản tiền các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật khi vụ án dân sự được tòa án giải quyết và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luát [.] tuy theo loạt vu án dân sự, trên cơ sở lợi ích và mức độ lỗi của họ trong quan hệ pháp luật mà tòa án giải quyết””.
Tuy nhiên, không thé sử dụng các định nghĩa trên dé giải thích về án phí trong TTDS bởi án phí trong TTDS không chỉ giới hạn trong những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, mà nó còn bao gồm cả những vấn đề như số tiền tạm ứng phải nộp khi tiến hành thủ tục thụ lý, nội dung thỏa thuận của các đương sự khi 6 Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình luật to tung dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 7 Nguyên Công Binh (chủ biên, 2011), Giáo trình luật to tung dân sự Việt Nam, Nxb. Giáo duc Việt Nam, tr.
8 Dang Thi Thom (2014), “Ban về việc tính án phí dan sự”, Tap chí Tòa án nhân dân. 7; ? Nguyễn Duy Lam (chủ biên, 1996), Sổ tay thuật ngữ pháp lí thông dụng, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 7; tiễn hành hòa giải, quyết định xử lý án phí khi vụ án bị tạm đình chỉ, đình chỉ và ngay cả sau khi án đã có hiệu lực pháp luật bị Hội đồng xét xử giám đốc thâm, tái thâm hủy dé giải quyết lại v.
Tố tung là việc thưa kiện tại tòa án nói chung '°. Thuật ngữ “tố tụng” theo luật gia Pothier định nghĩa “Ja hình thức phải theo dé đệ don kiện, kháng biện, can thiệp, cứu xét, phán xử, thượng không và thi hành án văn”"". Trong khoa học pháp lý, “trinh tu do pháp luật quy định cho việc giải quyết vụ Việc dan sự và thi hành án dân sự được gọi la tổ tụng dân sự”, Thủ tục này được Tòa án áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự theo nghĩa rộng, tức là các vụ việc tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự - VADS). Án phí là một phần của TTDS: Án phí, đối với đương sự, là một trong những “hình thức phải theo” đề đưa yêu cầu của mình tới tòa án.
Án phí, đối với tòa án, là một trong những vấn đề phải giải quyết trong bản án, quyết định ở cả cấp sơ thâm, phúc thẩm đến khi xét lại theo thủ tục giám đốc thâm, tái thâm. Án phí trong TTDS là một phần của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật TTDS nói riêng, do đó nó có những điểm giống nhau và khác nhau so với những chế định có liên quan như phí trong pháp luật tài chính, án phí hình sự - hành chính trong pháp luật tố tụng hình sự - tố tụng hành chính, lệ phí và các chi phí khác trong pháp luật TTDS. Dé đưa ra được khái niệm án phí trong TTDS, cần thiết phải làm rõ những đặc trưng cơ bản của nó như sau: - Án phí có những đặc điểm chung của phí nhà nước. Án phí là một loại phí thuộc lĩnh vực tư pháp nằm trong Danh mục phí (mục XII tiểu mục 1) ban hành kèm theo Luật phí và lệ phí năm 2015.
Điều 3 Luật này có đưa ra định nghĩa: “Phí là khoản tiên mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chỉ phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tô chức được cơ quan nhà nước có thâm quyên '° Nguyễn Như Ý (chủ biên, 1999), Đại tir điển tiếng Việt, Bộ Giáo dục và đào tạo, Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, tr. !! Nguyễn Huy Dau (1962), Luật dân sự tổ tụng Việt Nam, Sài Gon, tr. '? Đại học Luật Hà Nội (2017), tldd chú thích 06, tr.
giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này ”. Như vậy, mang những đặc điểm của phí nói chung, án phí trong TTDS là một nguồn thu của ngân sách nhà nước, được xác định theo nguyên tắc chung là nhằm cơ bản bảo đảm bù dap chi phí, có tinh đến chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm công bang, công khai, minh bạch và bình dang về quyển và nghĩa vụ của công dân'°. Án phí do cơ quan có thấm quyền thu và được nộp day đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước. Sau khi nộp vào Ngân sách nhà nước, số tiền này sẽ được điều tiết và phân bổ lại cho cơ quan Tòa án để tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cũng như phục vụ chi cho hoạt động xét xử của cơ quan nay.
“ Co sở dé thu phi la viéc chu thé được nhận phí đã cung cấp cho chủ thể nộp phí một lợi ích nhất định thông qua dịch vụ cua mình [.] liên quan trực tiếp đến lợi ích của chủ thể sử dụng nên chủ thể sử dụng phải có nghĩa vụ dong góp tài chính dé duy trì lợi ích trực tiếp ấy ”Z. Dưới góc độ một loại phí tư pháp, án phí trong TTDS là khoản tiền cá nhân, tổ chức phải trả khi được cơ quan tư pháp, mà cụ thể ở đây là Tòa án thực hiện việc cung cấp “dịch vụ công” bằng cách bảo vệ lợi ích hợp pháp theo yêu cầu của chính đương sự. Và cũng chỉ đương sự - người đã đưa yêu cầu và được Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong vụ án mới có nghĩa vụ phải chịu án phí trong TTDS.