CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VE THỜI HAN TO TUNG DAN SU SƠ THÂM 1. Một số van dé lý luận về thời han tố tụng dân sự sơ thim 1. Khái niệm thời hạn tố tụng dân sự sơ thâm Khái niệm về thời hạn tố tụng dân sự sơ thẩm có thể được xây dựng dựa trên các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Quy định pháp luật về thời hạn trong tố tụng dân sự là những quy định quan trong sắn liền với lịch sử hình thành va phát triển của Bộ luật Tế tụng dan sự (BLTTDS).
Không phải ngay từ những ngày đầu xuất hiện, chế định về thời hạn tố tụng dân sự đã được quy định như ngày nay, mà ngược lại, xuất phát từ những điều kiện thực tế, song song với sự phát trién của BLTTDS, chế định này mới được sửa đổi, bé sung dé ngày càng hoàn thiện. Năm 1945, sau Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Trong bối cảnh này, dé đảm bảo sự ổn định và tiếp tục hoạt động pháp luật, Chính phủ lâm thời đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945. Sắc lệnh này cho phép tạm thời áp dụng những luật lệ cũ trong việc xét xử, miễn là chúng không xung đột với những thay đổi được quy định trong chính sắc lệnh này!.
Cũng trong giai đoạn này, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật mới, trong đó có các quy định vẻ tố tung dân sự như Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946 và Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946. Tuy nhiên, đây là giai đoạn mà Nhà nước chủ trương tập trung vào nhiệm vụ cách mạng dân tộc và giải phóng đất nước, do đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật về tố tụng dân sự, vẫn còn phải chờ đợi do thiếu điều kiện và tài nguyên. Đó là nguyên nhân vì sao trong giai đoạn này, nhà nước ta chưa có một văn bản nào quy định chỉ tiết về thời hạn tố tụng đân sự mà chỉ mới quy định tản mạn tại nhiều văn bản khác nhau. Đến năm 1980, sau khi Hiến Pháp mới của Việt Nam được ban hành, các vấn dé phát sinh từ các quan hệ dan sự đã được giải quyết thông qua các văn bản pháp 1 Điều 11, Sắc lệnh sé 47 ngày 10 tháng 10 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời luật quan trọng như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động năm 1996.
Các văn bản này đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc xây dung hệ thống pháp luật tố tụng dan sự của Việt Nam, đồng thời dé cập đến nhiều quy định quan trọng về thời hạn trong tố tụng dân sự. Ví dụ, tại khoản 3 của Điều 37 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dan sự năm 1989, quy định về thời hạn thụ lý vụ án được nêu rõ. Tương tự, tại khoản 2 của Điều 44 của cùng Pháp lệnh này, cũng có quy định về thời hạn trong quá trình hòa giải. Những quy định về thời hạn trong các văn bản pháp luật này đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra một hệ thống tố tụng dân sự trong sạch, minh bạch và hiệu quả hơn ở Việt Nam.
Tuy nhiên, sau một thời gian đài thực hiện, cùng với sự thay đổi của đời sống xã hội, các pháp lệnh trên đã không còn phù hợp với thực tiễn, cần phải được thay đôi. Pháp luật vẻ tố tung dân sự thay đổi đồng nghĩa với việc những quy định về thời hạn tố tụng trước đây cũng phải thay đổi. Theo đó sự quy định rõ khoảng thời gian nhất định cho từng thủ tục tố tụng là tất yếu và quan trọng. Do vậy, BLTTDS năm 2004 ra đời, đã đưa ra các quy định thống nhất về thủ tục giải quyết các vụ án phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân va gia đình, kinh doanh thương mại (KDTM) và lao động.
Day là một bước tiến lớn trong việc tiêu chuẩn hóa và cải thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam. Trong BLTTDS năm 2004, lần đầu tiên, thời hạn tố tụng dân sự được định nghĩa và quy định tại một chương riêng biệt. Điều này chỉ ra rằng, pháp luật đã có sự quan tâm, chú trọng nhằm đảm bảo cho các vụ, việc dân sự được giải quyết một cách kịp thời và hiệu quả trong hệ thống tư pháp của Việt Nam. Các quy định về thời hạn tố tụng tiếp tục được hoàn thiện, sửa đổi và bổ sung theo sự ra đời của BLTTDS năm 2015.
Về bản chất, các quy định pháp luật liên quan đến chế định thời hạn tố tụng dân sự thường không có nhiều sự thay đổi đột ngột. Thay vào đó, chúng được điều chỉnh, bổ sung hoặc cải tiến theo thời gian, phan ánh sự phát triển của xã hội và nhu cầu thực tiễn trong quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mặc dù không có sự thay đổi lớn trong các quy định pháp luật, nhưng việc tổ chức lại và cải thiện hệ thống pháp luật có thể có ảnh hưởng đáng kê đến việc áp dụng và thực thi các quy định về thời hạn tố tụng dân sự. Dé có một cái nhìn cụ thé hơn về thời hạn tố tụng dân sự sơ thẩm, việc tìm hiểu các khái niệm liên quan như tố tụng dân sự, thời hạn tố tụng dân sự, sơ thẩm là điều hết sức cần thiết.
- Về khái niệm “tố tụng dân sự”: Tế tụng “là việc thưa kiện tại tòa án nói chung”?. Thuật ngữ tố tụng theo luật gia Pothier định nghĩa là “hình thức phải theo dé đệ đơn kiện, kháng viện, can thiệp, cứu xét, phân xử, thượng khống và thi hành án văn ”3, Trong khoa học pháp lý, tố tụng dân sự là một quá trình phức tap và đa giai đoạn từ khởi kiện, lập hé sơ, hòa giải cho đến xét xử và thi hành án. Tuy nhiên, vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về việc thi hành án có phải là một giai đoạn của tố tụng dân sự hay không. Có quan điểm cho rằng, thi hành án dân sự là hoạt động hành chính vi mang đặc trưng của hoạt động hành chính — hoạt động có tính chấp hanh‘, do vậy tố tụng dân sự chỉ dừng lại là trình tự, thủ tục giải quyết vụ, việc dân sự.
Ngược lại, quan điểm khác cho rằng, bởi vì hoạt động thi hành án cũng phải tuân theo các nguyên tắc chung của tố tụng dân su, cũng là hoạt động nhằm thực hiện và bảo đảm quyền, lợi ích của các chủ thể được nhà nước bảo hộ nên thi hành án dân sự cũng là một giai đoạn của tố tụng dân sự. Do đó, tố tụng dân sự là “trình tự do pháp luật quy định cho việc giải quyết vụ, việc dân sự và thi hành án dân sự được gọi là tố tụng dân sự "5. Trong phạm vi dé án tốt nghiệp này, tác giả dé án nghiên cứu tố tụng dân sự dưới góc nhìn của quan điểm thứ nhất. - Về khái niệm “thời hạn tố tụng”: ? Nguyễn Như Y (1999), Đại từ điển tiéng Việt, Bộ GD và DT, Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, tr.
3 Nguyễn Huy Đầu (1962), Luật dan sự tổ tụng Việt Nam, Sai Gòn, tr.6 * Phan Hữu Thư (2014), Giáo trình luật tố tụng dan sự Việt Nam, Học viện Tư pháp, NXB Tư pháp, tr.9 5 Nguyễn Công Binh (2017), Giáo trình Luật Té tung dan sự Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dan, tr.11 10 Dưới góc độ ngôn ngữ, thời hạn được hiéu là “một khoảng thời gian quy định dé làm xong hoặc chấm dứt việc nào đó”%; hoặc là “khoảng ngày giờ có giới hạn, có định trước, không được quá””: hoặc là “khoảng thời gian có giới hạn nhất định dé làm việc gì”%. Ngoài ra, theo Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 thi thời hạn là “một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác; thời hạn có thé được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, thang, năm hoặc bằng một sự kiện có thé sẽ xảy ra”3. Bản chất của thời hạn tố tụng dân sự là một loại thời hạn. Pháp luật quy định thời hạn này với mục đích chính là đảm bảo rằng các vụ việc dân sự được giải quyết trong một khoảng thời gian hợp lý và nhanh chóng.
Điều này không chỉ giúp tăng cường tinh công bằng và minh bạch trong hệ thống tư pháp mà còn bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng. Mỗi hành vi tố tụng, từ việc tiến hành tố tụng cho đến việc tham gia vào quá trình tổ tụng, đều cần phải thực hiện trong một khoảng thời gian mà pháp luật quy định. Những khoảng thời gian này gọi chung là thời hạn tố tụng dân sự. Theo cố GS Nguyễn Huy Đầu “Thời hạn thủ tục có thể định nghĩa như một khoảng thời gian, được luật dành cho đương sự để làm một động tác hoặc quyết định một việc, trong tranh tụng”19, Theo Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Thời hạn tố tụng dân sự là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tô chức có liên quan thực hiện hành vi theo quy định của pháp luật tố tụng dân su”?! ® Nguyễn Như Ý (2013), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb.Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh, tr.1530 7 Viện Ngôn Ngữ (2012), Từ điển Tiếng Việt, Nxb.Hồng Đức, tr.962 8 Nguyễn Lân (2013), Tir điển Từ và Ngữ Viet Nam, Nxb Tông hợp, tr.1764 ® Quốc hội, Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015, Chương X, Mục 1, Điều 144.
10 Nguyễn Huy Đầu, Luật Dán sự tổ tụng Viet Nam (Theo trích dẫn của Trần Anh Tuân (2015), Hoan thiện một số quy định của Bộ luật Tố tung dan sự về thời hạn té tung, Đề tài nghiên cửu khoa học cấp trường, năm 2015, phần 2, chuyên đề 1, tr.1) 1! Nguyễn Công Binh (2017), Giáo trình Luật Té tụng dan sự Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, tr.209 11 - Về khái niệm “sơ thẩm”: Theo cuốn Số tay thuật ngữ pháp lý thông dụng thì “sơ thâm là việc tòa án xét xử lần đầu một vụ 4n”!