Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành" do nghiên cứu sinh Vũ Thị Lan Hương thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật Dân sự và tố tụng dân sự, mã số 9.103) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phùng Trung Tập và TS. Lê Mai Anh (bảo vệ năm 2018).

Về tính cấp thiết, nghiên cứu được đặt trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong đó trọng tâm là hoàn thiện pháp luật dân sự và kinh tế. Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, số lượng công trình xây dựng gia tăng nhanh chóng nhưng chất lượng không đồng đều đã dẫn đến nhiều sự cố sụp đổ công trình gây thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe và tài sản. Luận án dẫn chứng các vụ việc thực tế: vụ sập cầu Cần Thơ ngày 26/9/2007 (hơn 50 người chết, hơn 100 người bị thương); sập nhịp cầu tuyến cao tốc TPHCM - Trung Lương ngày 10/3/2009 (2 công nhân bị thương nặng); sập một phần công trình cao ốc văn phòng và thương mại CR4-1 tại Quận 7, TP.HCM ngày 30/12/2008 (2 người chết, hơn 10 người bị thương); sập lan can Trường Tiểu học Văn Môn, Bắc Ninh ngày 12/12/2017 (13 học sinh bị thương); sập nhà thờ đang thi công ở Thái Nguyên ngày 17/1/2013 (3 người chết, 40 người bị thương); sập bờ kè công viên Hoàng Quốc Việt, Bắc Ninh dài hơn 40m ngay sau lễ khánh thành ngày 28/5/2005; sập cổng Trường Tiểu học Tam Quan 1, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 12/10/2017 làm một học sinh gãy xương quai xanh.

Khoảng trống nghiên cứu xuất phát từ thực trạng quy định pháp luật: dù Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 đã sửa đổi so với BLDS 1995 và BLDS 2005, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại (TNBTTH) do nhà cửa, công trình xây dựng khác (CTXD khác) gây ra vẫn bộc lộ bốn bất cập: (1) Điều kiện phát sinh trách nhiệm chưa thực sự rõ ràng; (2) Mở rộng phạm vi chủ thể chịu trách nhiệm từ 3 chủ thể lên 5 chủ thể (chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng và người thi công) nhưng không xác định thứ tự chịu trách nhiệm; (3) Quy định xác định thiệt hại được bồi thường chưa đầy đủ, minh bạch; (4) Quy định về các trường hợp loại trừ trách nhiệm còn vướng mắc. Điều này dẫn đến sự thiếu thống nhất trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ lý luận, thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra; từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích các học thuyết xác định trách nhiệm; xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm của nhà cửa, CTXD khác; làm rõ bản chất và đặc điểm của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra.
  2. Phân tích, đánh giá quy định pháp luật dân sự hiện hành về điều kiện phát sinh, xác định thiệt hại, chủ thể chịu trách nhiệm, chủ thể được bồi thường, trường hợp miễn trừ trách nhiệm; đồng thời so sánh đối chiếu với pháp luật một số nước.
  3. Phân tích điểm tích cực và hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật giải quyết tranh chấp.
  4. Đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được chia thành 4 nhóm:

  1. Nhóm 1: TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra được xây dựng dựa trên những học thuyết nào? Nhà cửa, CTXD khác là gì và có đặc điểm nào? TNBTTH do đối tượng này gây ra có bản chất là trách nhiệm do tài sản hay do hành vi?
  2. Nhóm 2: Thực trạng quy định pháp luật điều chỉnh gồm những quy định nào? Ưu điểm, hạn chế và điểm tương đồng, khác biệt so với pháp luật một số quốc gia?
  3. Nhóm 3: Thực tiễn áp dụng bộc lộ những điểm tích cực và hạn chế nào?
  4. Nhóm 4: Các hạn chế có cần thiết phải sửa đổi, bổ sung không và sửa đổi trên cơ sở nào?

Bốn giả thuyết nghiên cứu gồm:

  1. Giả thuyết 1: Nhà cửa, CTXD khác xét về bản chất đều là "công trình xây dựng" - sản phẩm do con người tạo ra gắn liền với đất; cần phân biệt với thiệt hại do vật rơi/ném từ tòa nhà hoặc tài sản dùng để ở khác (như container).
  2. Giả thuyết 2: TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là một loại trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại, mang đầy đủ đặc tính chung và các đặc điểm đặc thù riêng biệt.
  3. Giả thuyết 3: Các quốc gia dựa trên các học thuyết pháp lý khác nhau để thiết lập trách nhiệm này; pháp luật Việt Nam có sự vận dụng và kết hợp các học thuyết pháp lý riêng biệt qua các thời kỳ.
  4. Giả thuyết 4: Thực tiễn áp dụng bộc lộ bất cập đòi hỏi phải có cơ sở lý luận và giải pháp lập pháp cụ thể để hoàn thiện quy định.

Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định pháp luật thực định Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Nội dung: BLDS 2015, BLDS 2005, BLDS 1995, Luật Xây dựng (2003, 2014), Luật Nhà ở (2005, 2014) và các văn bản hướng dẫn liên quan; các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp.
  • Thời gian: Trọng tâm là BLDS 2015 (hiệu lực từ 01/01/2017), có so sánh đối chiếu với giai đoạn thi hành BLDS 1995 và BLDS 2005.
  • Không gian: Lãnh thổ Việt Nam; kết hợp khảo cứu, so sánh luật pháp của một số quốc gia (Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Ba Lan, Hungary, Áo, Bỉ, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Canada).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài:

Về tài liệu trong nước:

  • Luận án, luận văn: Luận án tiến sĩ của Phạm Kim Anh (2007) về Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hợi (2017) về TNBTTH do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam; Luận văn thạc sĩ của Giang Văn Thịnh (2013) về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam.
  • Đề tài khoa học: Đề tài cấp trường của Trường Đại học Luật Hà Nội do TS. Trần Thị Huệ chủ nhiệm (2009), Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại - Vấn đề lý luận và thực tiễn.
  • Bài báo khoa học: Trần Ngọc Dưỡng (2009) phân tích TNBTTH ngoài hợp đồng theo pháp luật Pháp; Phạm Kim Anh (2009) về hoàn thiện chế định bồi thường ngoài hợp đồng trong BLDS 2005; Đỗ Văn Đại và Lê Hà Huy Phát (2012) về BTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra; Vi Thị Hồng Yến (2012) bàn về trách nhiệm bồi thường khi tài sản gây thiệt hại; Bùi Thị Thanh Hằng và Đỗ Giang Nam (2013) so sánh trách nhiệm do tài sản gây ra; Nguyễn Thị Minh Phượng (2013) phân tích Điều 627 BLDS 2005; GS. Michael Jaensch (2012) so sánh luật bồi thường ngoài hợp đồng của Đức và Pháp; Nguyễn Văn Hợi (2015) phân tích điều kiện phát sinh TNBTTH do tài sản gây ra.
  • Sách chuyên khảo: Nguyễn Mạnh Bách (1998), Nghĩa vụ dân sự trong Luật dân sự Việt Nam; Nhóm tác giả Trần Thị Huệ, Vi Thị Hải Yến, Vi Thị Hồng Yến (2008), TNBTTH ngoài hợp đồng từ quy định của pháp luật đến thực tiễn; Phùng Trung Tập (2009), BTTH ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng; Đỗ Văn Đại (2010), Luật BTTH ngoài hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án; Trần Thị Huệ chủ biên (2013), TNBTTH do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam.

Về tài liệu quốc tế:

  • Franz Werro (2010), Liability for Harm Caused by Things; Olivia Depetris, La responsabilité civile délictuelle du fait des immeubles; John G. Fleming (1987), The Law of Torts (tái bản lần 7); Benedict Winiger, Helmut Koziol, Bernhard A. Koch, Reinhard Zimmermann (2012), Essential Cases on Damage; Cees van Dam (2013), European Tort Law (tái bản lần 2); Christian von Bar (2009), Non-contractual Liability Arising Out of Damage Caused to Another: (PEL Liab.); Xiang Li, Jigang Jin (2014), Concise Chinese Tort Laws.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra các hạn chế của các công trình trước đây:

  • Chưa phân tích chuyên sâu các học thuyết xác định trách nhiệm riêng cho nhóm nhà cửa, CTXD khác mà chỉ dừng ở mức tài sản nói chung.
  • Khái niệm "nhà cửa, CTXD khác" chưa được xây dựng hoàn chỉnh và chưa làm rõ đặc trưng để phân biệt với thiệt hại do vật rơi/ném từ nhà cao tầng hoặc kết cấu ở di động (container).
  • Chưa luận giải thấu đáo việc tại sao yếu tố lỗi không phải là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm đối với chủ sở hữu, người chiếm hữu, quản lý.
  • Chủ yếu tiếp cận Điều 627 BLDS 2005, chưa phân tích toàn diện Điều 605 BLDS 2015 trong mối quan hệ so sánh lịch sử (BLDS 1995, 2005) và so sánh quốc tế.
  • Thiếu nghiên cứu hệ thống về thực tiễn xét xử và chưa đưa ra hệ thống giải pháp lập pháp toàn diện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

  • Lý thuyết trách nhiệm chủ quan (dựa trên lỗi): Yêu cầu người bị thiệt hại phải chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại; lỗi là điều kiện tiên quyết phát sinh nghĩa vụ bồi thường.
  • Lý thuyết trách nhiệm khách quan: Xuất hiện từ thế kỷ XIX trước sự phát triển công nghiệp và máy móc; gồm Lý thuyết rủi ro - lợi ích (Théorie du risque-profit: người hưởng lợi từ tài sản/hoạt động rủi ro phải gánh chịu thiệt hại) và Lý thuyết bảo đảm (Théorie de la garantie: bảo đảm quyền toàn vẹn thân thể, tài sản của nạn nhân mà không phụ thuộc vào trạng thái tâm lý của chủ thể quản lý tài sản).
  • Các học thuyết xác định trách nhiệm do nhà cửa, CTXD khác gây ra trên thế giới:
    1. Học thuyết về sự cẩu thả (negligence): Áp dụng tại các nước Common Law (Anh, Mỹ) và Bắc Âu (Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển); coi đây là trách nhiệm do hành vi vi phạm nghĩa vụ chăm sóc cẩn trọng thông thường (common duty of care), phân biệt mức độ chăm sóc đối với "khách mời hợp pháp" (lawful visitors) và "khách không mời" (non-lawful visitors).
    2. Học thuyết về lỗi do suy đoán (presumed fault liability): Áp dụng tại Đức (Điều 836-838 BGB), Hungary (Điều 5:650), Ba Lan (Điều 434); chuyển nghĩa vụ chứng minh từ nguyên đơn sang bị đơn. Bị đơn bị suy đoán là có lỗi trừ khi chứng minh mình không có lỗi (đã thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa cần thiết).
    3. Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability): Áp dụng tại Pháp (Điều 1386 C.civ cũ), Tây Ban Nha, Quebec (Canada); không đòi hỏi chứng minh lỗi và bị đơn không được miễn trừ trách nhiệm chỉ bằng việc chứng minh không có lỗi (chỉ miễn trừ khi có sự kiện bất khả kháng hoặc lỗi hoàn toàn của nạn nhân/người thứ ba).
    4. Mô hình kết hợp: BLDS Nhật Bản (Điều 717), BLDS Hàn Quốc (Điều 758), BLDS & Thương mại Thái Lan (Điều 434) kết hợp lỗi suy đoán đối với người chiếm hữu trực tiếp và trách nhiệm nghiêm ngặt đối với chủ sở hữu khi người chiếm hữu đã chứng minh không có lỗi.

Khái niệm do tác giả xây dựng:

  • "Nhà cửa, công trình xây dựng khác là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được gắn liền với đất."
  • "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là trách nhiệm của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường những thiệt hại về vật chất và tinh thần phát sinh khi tự thân nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại."

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin.
  • Các phương pháp cụ thể:
    • Phương pháp phân tích và bình luận: Làm rõ nội hàm lý luận và các điều khoản pháp luật thực định.
    • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng để xây dựng kiến nghị.
    • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Việt Nam với các hệ thống pháp luật trên thế giới (Civil Law, Common Law).
    • Phương pháp lịch sử: Rà soát quá trình tiến hóa của quy định từ cổ luật (Hammurabi, La Mã, Hồng Đức), thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn sau năm 1945 đến BLDS 1995, 2005, 2015.
    • Phương pháp hệ thống hóa: Sắp xếp các chế định pháp lý chuyên ngành (Luật Xây dựng, Luật Nhà ở) trong mối liên hệ với luật chung (BLDS).
    • Phương pháp phân tích tình huống: Nghiên cứu các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp cụ thể trên thực tế.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản pháp lý trong nước: Luật Hồng Đức (Điều 685), Bộ Dân luật Bắc Kỳ (Điều 716), Bộ Dân luật Trung Kỳ (Điều 767), Bộ luật Nam Kỳ giản yếu; Sắc lệnh 85/SL (1952); Nghị định 261-NV/ND (1946), Nghị định 19/CP (1960), Nghị định 242-CP (1971), Nghị định 237-HBT (1985), Nghị định 46/2015/NĐ-CP; BLDS 1995, BLDS 2005, BLDS 2015; Luật Nhà ở (2005, 2014); Luật Xây dựng (2003, 2014); Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP.
  • Văn bản và án lệ quốc tế: Luật La Mã (cautio damni infecti, actio effusis et dejectis); Đạo luật trách nhiệm người chiếm hữu của Anh (Occupiers' Liability Act 1957, 1984), Ireland (1995), Scotland (1960); BLDS Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Ba Lan, Áo, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc (Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi 2009 - Điều 85, 86, 87), Khung tham chiếu chung Châu Âu (DCFR - Điều VI-302).
  • Thực tiễn xét xử: Các quyết định, bản án của Tòa án các cấp tại Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Chương 1 tập trung phân tích nguồn gốc lịch sử, các học thuyết pháp lý, bản chất và đặc điểm cấu thành của nhà cửa, CTXD khác cũng như trách nhiệm bồi thường phát sinh từ đối tượng này:

  1. Các học thuyết pháp lý và sự vận dụng tại Việt Nam:
    • Nguồn gốc lịch sử: Từ Bộ luật Hammurabi (Điều 38, 39 quy định trách nhiệm xử tử thợ xây nếu nhà đổ làm chết chủ nhà hoặc con chủ nhà); Luật La Mã cổ đại với tố quyền cautio damni infecti (bảo vệ trước nguy cơ thiệt hại viễn ảnh từ công trình lân cận) và actio effusis et dejectis (bồi thường do vật rơi/ném khỏi nhà).
    • Tiến trình lập pháp Việt Nam: Thời kỳ Pháp thuộc tiếp thu BLDS Pháp (Bộ Dân luật Bắc Kỳ Điều 716, Dân luật Trung Kỳ Điều 767) áp dụng trách nhiệm nghiêm ngặt. BLDS 1995 (Điều 631) và BLDS 2005 (Điều 627) chuyển sang học thuyết lỗi chủ quan khi dùng cụm từ "nếu để... gây thiệt hại" (đồng nhất với hành vi trái pháp luật do lỗi của chủ sở hữu/quản lý). Đến Điều 605 BLDS 2015, Đoạn 1 quay trở lại áp dụng học thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt đối với chủ sở hữu, người chiếm hữu, quản lý ("do nhà cửa... gây thiệt hại" - lỗi không phải là điều kiện phát sinh); trong khi Đoạn 2 áp dụng học thuyết lỗi đối với người thi công ("khi người thi công có lỗi").
Giai đoạn / Hệ thống pháp luật Học thuyết chủ đạo áp dụng Điều kiện phát sinh trách nhiệm đối với lỗi
Luật La Mã / Bộ Dân luật Bắc Kỳ, Trung Kỳ Trách nhiệm nghiêm ngặt Không yêu cầu chứng minh lỗi
BLDS Việt Nam 1995 (Đ. 631), BLDS 2005 (Đ. 627) Học thuyết lỗi chủ quan Lỗi là điều kiện bắt buộc ("nếu để...")
BLDS Việt Nam 2015 (Khoản 1 Đ. 605) Trách nhiệm nghiêm ngặt Không coi lỗi là điều kiện phát sinh
BLDS Việt Nam 2015 (Khoản 2 Đ. 605 - Thi công) Học thuyết lỗi Bắt buộc phải có lỗi của người thi công
Common Law (Anh, Mỹ) Học thuyết về sự cẩu thả (negligence) Vi phạm nghĩa vụ quan tâm (duty of care)
Pháp luật Đức, Ba Lan, Hungary Học thuyết lỗi do suy đoán Suy đoán có lỗi, bị đơn được chứng minh không lỗi
Pháp luật Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan Kết hợp Lỗi suy đoán và Trách nhiệm nghiêm ngặt Chiếm hữu: lỗi suy đoán; Sở hữu: trách nhiệm nghiêm ngặt
  1. Đặc điểm của nhà cửa, CTXD khác:

    • Là sản phẩm do con người tạo ra bằng sức lao động (loại trừ sạt lở tự nhiên, hang động; phân biệt với súc vật, cây cối vốn chịu sự chi phối của quy luật sinh học tự nhiên).
    • Là sự liên kết giữa các vật liệu xây dựng và thiết bị lắp đặt vào công trình (phân biệt thiệt hại do bộ phận công trình sụp đổ với thiệt hại do vật dụng sinh hoạt rơi/bị ném khỏi tòa nhà).
    • Phải được gắn liền với đất: Là bất động sản kết nối bền vững với đất. Đối với nhà thùng container: nếu còn bánh xe di chuyển hoặc đặt tạm trên đất không móng thì là động sản (không phải CTXD); nếu đặt trên nền móng kiên cố, liên kết định vị cố định với đất thì được xác định là bất động sản/CTXD.
  2. Bản chất và các trường hợp gây thiệt hại:

    • Bản chất: Là trách nhiệm bồi thường do tài sản gây ra (phát sinh từ sự tự thân tác động của tài sản, không phụ thuộc vào lỗi của chủ thể nắm giữ).
    • Bốn trường hợp thực tế khi công trình gây thiệt hại:
      • Trường hợp 1: Do sự kiện bất khả kháng (thiên tai, động đất vượt mức dự liệu) -> Miễn trừ trách nhiệm.
      • Trường hợp 2: Do hành vi trái pháp luật của con người tác động (kéo, xô đổ, phá dỡ) -> Áp dụng TNBTTH do hành vi (Khoản 1 Điều 584).
      • Trường hợp 3: Do tài sản khác/nguồn nguy hiểm cao độ tác động (xe đâm sập nhà làm đổ sang công trình khác) -> Áp dụng trách nhiệm do nguồn nguy hiểm cao độ.
      • Trường hợp 4: Do tự thân nhà cửa, CTXD khác gây ra (khuyết tật xây dựng, thiếu bảo dưỡng, sụt lún tự thân) -> Áp dụng Điều 605 BLDS 2015.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh chế định này tại Việt Nam:

  1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm: Phân tích cấu thành 3 điều kiện đối với chủ sở hữu, người chiếm hữu, quản lý: (i) Có thiệt hại thực tế xảy ra; (ii) Có sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa sự tác động tự thân của công trình và thiệt hại. Riêng đối với trách nhiệm liên đới của người thi công, điều kiện phát sinh đòi hỏi phải có thêm yếu tố lỗi của người thi công trong việc xây dựng dẫn đến sự cố.
  2. Xác định thiệt hại được bồi thường: Rà soát các quy định về xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm theo các quy định chung của BLDS 2015.
  3. Chủ thể chịu trách nhiệm:
    • Phân tích nghĩa vụ bồi thường của 4 nhóm chủ thể nắm giữ công trình: Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, người sử dụng.
    • Phân tích căn cứ xác lập trách nhiệm liên đới của người thi công với chủ sở hữu/quản lý công trình.
  4. Chủ thể được bồi thường: Xác định tư cách pháp lý của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm về tài sản, tính mạng, sức khỏe do sự cố công trình.
  5. Các trường hợp không phải chịu trách nhiệm: Phân tích hai căn cứ loại trừ trách nhiệm theo Khoản 2 Điều 584 BLDS 2015 gồm thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Chương 3 tổng kết thực tiễn xét xử thông qua các bản án và xây dựng hệ thống giải pháp:

  1. Thực tiễn áp dụng pháp luật:
    • Đánh giá thực tiễn xác định các trường hợp phát sinh trách nhiệm trong các vụ án thực tế.
    • Chỉ ra sự thiếu nhất quán giữa các Tòa án trong việc xác định các khoản mục thiệt hại được bồi thường.
    • Phân tích vướng mắc trong thực tiễn xác định chủ thể chịu trách nhiệm, đặc biệt khi công trình có sự chuyển giao quyền chiếm hữu/sử dụng (cho thuê, mượn) hoặc có sự tham gia của nhà thầu thi công nhưng hợp đồng không quy định rõ trách nhiệm khi xảy ra sự cố đối với bên thứ ba.
  2. Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    • Kiến nghị bổ sung quy định mang tính nguyên tắc chung về TNBTTH do tài sản gây ra trong BLDS.
    • Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 605 BLDS 2015 theo hướng: phân định rõ thứ tự ưu tiên gánh chịu trách nhiệm giữa người trực tiếp chiếm hữu, sử dụng và chủ sở hữu; làm rõ căn cứ loại trừ trách nhiệm; quy định cụ thể cơ chế truy lĩnh/hoàn trả nội bộ giữa các chủ thể liên đới.
    • Kiến nghị xây dựng Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng thống nhất các điều kiện phát sinh trách nhiệm, quy trình thẩm định nguyên nhân sụp đổ tự thân và chuẩn mực xác định thiệt hại bồi thường do công trình xây dựng gây ra.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 8 đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Xác định và phân tích có hệ thống các học thuyết pháp lý xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trên thế giới và tại Việt Nam.
  2. Làm rõ bản chất pháp lý của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là trách nhiệm do tài sản gây thiệt hại, không phụ thuộc vào yếu tố lỗi của chủ thể quản lý.
  3. Xây dựng định nghĩa khoa học hoàn chỉnh về "nhà cửa, công trình xây dựng khác" và định nghĩa "trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra".
  4. Phân tích làm rõ các đặc điểm đặc thù và 3 điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường do tự thân công trình gây ra.
  5. Tổng hợp, phân tích toàn diện thực trạng quy định pháp luật dân sự hiện hành (trọng tâm là BLDS 2015), chỉ ra các điểm tích cực và bất cập trong mối quan hệ với hệ thống luật chuyên ngành.
  6. So sánh, đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm lập pháp.
  7. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua phân tích các bản án có hiệu lực pháp luật, chỉ ra những vướng mắc và sai lệch điển hình trong xét xử.
  8. Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi Điều 605 BLDS 2015, bổ sung chế định TNBTTH do tài sản nói chung và ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do BLDS 2015 mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 nên số lượng bản án, quyết định của Tòa án áp dụng trực tiếp Điều 605 BLDS 2015 tại thời điểm thực hiện luận án (năm 2018) còn tương đối hạn chế. Để giải quyết vấn đề này, tác giả đã sử dụng thêm các bản án được xét xử trong thời kỳ BLDS 2005 có nội dung kế thừa để phân tích thực tiễn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi thực tiễn xét xử theo BLDS 2015 trong giai đoạn áp dụng lâu dài; nghiên cứu sâu hơn về trách nhiệm bồi thường đối với các loại hình cấu trúc xây dựng đặc thù mới phát sinh trong đô thị hiện đại (như công trình thông minh, kết cấu lắp ghép công nghệ cao).

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và tư pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và đề xuất điều khoản sửa đổi Điều 605 BLDS, hỗ trợ Tòa án nhân dân Tối cao xây dựng Nghị quyết hướng dẫn xét xử các tranh chấp bồi thường ngoài hợp đồng do tài sản/công trình gây ra.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo chuyên sâu về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, lý thuyết trách nhiệm khách quan và so sánh luật học.
  • Đối với giới luật sư và thẩm phán: Cung cấp tiêu chí phân biệt giữa thiệt hại do công trình tự gây ra với thiệt hại do hành vi con người hoặc do vật rơi/ném, phục vụ giải quyết vụ án trên thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo luận án, bản chất pháp lý của TNBTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là gì? Bản chất của trách nhiệm này là TNBTTH do tài sản gây ra (không phải do hành vi con người gây ra). Trách nhiệm phát sinh khi thiệt hại do sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác mà không đòi hỏi bên bị thiệt hại phải chứng minh lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu hay người quản lý sử dụng.

2. Điểm khác biệt cơ bản về yếu tố lỗi giữa BLDS 2005 (Điều 627) và BLDS 2015 (Điều 605) là gì? Điều 627 BLDS 2005 sử dụng cụm từ "nếu để... gây thiệt hại", thể hiện trách nhiệm dựa trên lỗi chủ quan của con người. Đoạn 1 Điều 605 BLDS 2015 đổi thành "do nhà cửa, CTXD khác đó gây thiệt hại", chuyển sang áp dụng học thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt (lỗi không còn là điều kiện phát sinh trách nhiệm đối với chủ sở hữu/người chiếm hữu).

3. Tại sao người thi công chỉ chịu trách nhiệm liên đới theo Đoạn 2 Điều 605 BLDS 2015? Người thi công chịu trách nhiệm liên đới dựa trên học thuyết lỗi. Trách nhiệm của họ phát sinh từ hành vi vi phạm kỹ thuật/quy chuẩn xây dựng (hành vi của con người), khác với chủ sở hữu/người quản lý chịu trách nhiệm nghiêm ngặt gắn liền với quyền khai thác, hưởng lợi từ công trình.

4. Nhà ở, văn phòng làm bằng thùng container có được coi là công trình xây dựng khác không? Theo luận án, nếu container còn bánh xe, có thể di chuyển hoặc chỉ đặt tạm thời trên đất không có nền móng liên kết thì là động sản (không phải CTXD). Nếu container được đặt cố định trên nền móng kiên cố, có sự liên kết định vị vững chắc với đất và không thể di dời bằng thao tác thông thường thì trở thành bất động sản và được coi là CTXD khác.

5. Điều kiện để chủ sở hữu hoặc người quản lý công trình được miễn trừ trách nhiệm bồi thường là gì? Theo Khoản 2 Điều 584 và Điều 605 BLDS 2015, họ chỉ được miễn trừ trách nhiệm khi chứng minh được thiệt hại xảy ra hoàn toàn do sự kiện bất khả kháng (như thiên tai vượt mức dự liệu) hoặc hoàn toàn do lỗi của chính bên bị thiệt hại.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Vũ Thị Lan Hương là công trình chuyên khảo pháp lý toàn diện về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam. Bằng việc phân tích sâu sắc các học thuyết pháp lý quốc tế (trách nhiệm nghiêm ngặt, lỗi suy đoán, sự cẩu thả) và lịch sử lập pháp trong nước, tác giả đã khẳng định bản chất trách nhiệm do tài sản tự gây thiệt hại và chỉ rõ tính chất đặc thù của Điều 605 BLDS 2015. Các kiến nghị hoàn thiện văn bản quy phạm và định hướng ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao trong luận án mang giá trị ứng dụng thiết thực cho hoạt động lập pháp và thực tiễn xét xử tại Việt Nam.