Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BOI THUONG THIET HAI DO NGƯỜI CÓ THẤM QUYỀN CUA CƠ QUAN TIẾN HANH TO TUNG GAY RA 1. KHAI NIEM THIET HAI VA BOI THUONG THIET HAI DO NGUOI CO THAM QUYEN CUA CO QUAN TIEN HANH TO TUNG GAY RA 1. Khai niém thiét hai * Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu vấn đề thiệt hai Xã hội, như Mác nói là tổng hòa của các mối quan hệ đa dạng, phức tạp giữa các cá nhân với nhau hoặc giữa cá nhân với tổ chức, với Nhà nước. Trong những mối quan hệ đó, với tư cách là công dân, con người luôn ý thức về sự tồn tại và giải phóng chính mình.
Nhưng cá nhân con người lại không thể tồn tại ngoài các mối quan hệ xã hội, ngoài sự chế ước của pháp luật và Nhà nước. Đặc biệt, con người không thể thực hiện các quyền và tự do của cá nhân mà lại không tôn trọng quyền và tự do của người khác. Giữa các cá nhân, khi tồn tại trong môi trường cộng đồng đã hình thành một quan hệ có tính lôgíc, theo đó quyền của cá nhân này bị chế ước bởi quyền của cá nhân khác cũng như của tổ chức và Nhà nước nhất định. Montesquieu, nhà tư tưởng lỗi lạc của thời kỳ khai sáng đã từng tuyên bố chân lý "tự do có nghĩa là có thể làm tất cả những gì mà không gây hại cho người khác".
Sau này, tư tưởng của Montesquieu đã được cụ thể hóa trong Điều 4 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Cộng hòa Pháp: "Tự do bao gồm quyền có thể làm mọi điều không gây hại cho người khác. Như vậy, việc thực hành các quyền tự nhiên của mỗi người chỉ bị giới hạn trong việc bảo đảm cho các thành viên của xã hội được hưởng các quyền đó. Các giới hạn này chỉ có thể do luật pháp quy định" [69]. Điều tuyên ngôn nêu trên có ý nghĩa là việc thực hiện các quyền tự nhiên của mỗi con người là trên cơ sở tôn trọng và không được vi phạm quyền tự nhiên của người khác, là không được vượt qua khỏi những khuôn khổ quy định và cho phép của pháp luật.
Tính hiện thực trong các quyền của cá nhân là ở chỗ, không ai có thể có tự do đích thực trong hành động khi quyền tự do ấy lại không phải là kết quả được rút ra từ trong những mối quan hệ xã hội, từ trong sự tương tác, quy định và làm nên nhau giữa các cá nhân. Để có sự hiện thực đối với quyền của mỗi cá nhân trong một xã hội có tổ chức, thì quyền của từng cá nhân phải luôn gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội của chính người đó. Khuôn khổ tự do và việc hưởng cũng như thực hiện quyền của mỗi cá nhân được giới hạn bởi một hành lang pháp lý để cá nhân vừa có thể thực hiện những hoạt động thỏa mãn nhu cầu của mình, vừa không xâm phạm đến lợi ích của người khác, lợi ích của quốc gia. Điểm lại sự phát triển của lịch sử quyền con người trong xã hội để thấy rằng, các quyền của mỗi con người là sự kết tỉnh của các mối quan hệ xã hội giữa người với người.
Đối với các mối quan hệ đó, Nhà nước và pháp luật đóng vai trò trung gian trong việc điều chỉnh, để cho tất cả các chủ thể khi tham gia vào quá trình hoạt động vì mục đích cá nhân có tự do, đồng thời hạn chế các hành vi tiếm quyền hay lạm dụng, vi phạm quyền; từ đó bảo đảm "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người" [42, tr. Điều này có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận và phương diện pháp lý, vì đi đôi với việc thực hiện các quyền của từng cá nhân luôn tiém ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng, tổn thất, nhất là gay thiệt hại cho người khác. Những điều này cho thấy một thực tế, nếu việc hưởng và thực hiện quyền tự do của cá nhân con người là nhu cầu khách quan thì sự tồn tại của kha năng xâm phạm quyền va gây thiệt hại cho người khác cũng luôn là khả năng có tính khách quan. Vì thế, vấn đề thiệt hại và BTTH tất yếu được đặt ra trong khoa học pháp lý cũng như trong hệ thống pháp luật ở từng quốc gia.
Trong nhận thức khoa học cần có sự đánh giá một cách tổng thể về thiệt hại ở các góc độ chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý, chứ không đơn thuần chỉ nhìn nhận thiệt hại theo nghĩa là một trong số căn cứ để xác định trách nhiệm dân sự (TNDS) về bồi thường. Lam rõ về mặt lý luận cũng như về nội dung pháp lý của thiệt hại và BTTH sé là cơ sở làm sáng tỏ yêu cầu của việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dan, tổ chức, Nhà nước, góp phần ngăn ngừa, loại bỏ, khắc phục thiệt hại cho con người từ những hoạt động của các cá nhân, tổ chức hoặc từ chính hoạt động của Nhà nước. Nhìn từ góc độ chính trị, thiệt hại thường là mặt trái của nhu cầu lợi ích xã hội. Ảnh hưởng bởi thiệt hại có thể rất nặng nề, vì nó không chỉ là sự mất mát, thiếu hụt về vật chất, không chỉ động chạm đến quyền của cá nhân hay tổ chức mà trong nhiều trường hợp, nó còn ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường của xã hội, đặc biệt khi chủ thể gây thiệt hại lại là các cơ quan công quyền.
Sức mạnh của một Nhà nước được khẳng định trước hết bằng việc bảo đảm và chăm lo đến lợi ích của công dân và của toàn xã hội. Vậy, điều gì sẽ xảy ra khi bản thân người có nghĩa vụ phải chăm lo quyền lợi cho người dân sống trong xã hội lại có hành động gây thiệt hại cho chính những người cần được bảo vệ đó. Vì vậy, nếu chỉ xét vấn đề thiệt hại qua lăng kính của mối quan hệ pháp luật dân sự thì yêu cầu một sự phát triển tiến bộ của xã hội dân chủ, văn minh đặt ra cho Nhà nước sẽ không được đề cao, nghĩa vụ của Nhà nước đối với công dân không được bảo đảm thực hiện. Nghiên cứu khía cạnh chính trị của vấn đề thiệt hại là trên cơ sở coi "chính trị là biểu hiện của những lợi ích căn bản giữa các giai cấp va của quan hệ lẫn nhau giữa các giai cấp đó" [34, tr.
62] và muốn nhận thức rõ vai trò tích cực của chính trị thì phải thấy rằng "nếu không có chính trị đúng, thì một giai cấp nhất định nào đó không thể giữ vững được nền thống trị của mình và do đó không thể hoàn thành nhiệm vụ kinh tế của mình" [34, tr. Cho nên, nghiên cứu vấn đề thiệt hại không phải chi xét đến sự kiện xảy ra đơn lẻ từ các vụ việc cụ thể phát sinh hàng ngày trong 10 các hoạt động xã hội, mà phải quan niệm rằng, đằng sau thiệt hại và vấn đề giải quyết, khắc phục hậu quả của thiệt hại là cả vấn đề chính sách, pháp luật nhà nước, quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, là vấn đề quản lý của Nhà nước và của các cấp chính quyền. Có như vậy, việc giải quyết vấn đề thiệt hại và BTTH mới dần đi đến mục đích ngăn chặn, loại bỏ nguyên nhân gây ra thiệt hại, góp phần ổn định và giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, để tạo lòng tin thực sự của nhân dân đối với kỷ cương, pháp luật của Nhà nước. Từ góc độ kinh tế - xã hội, thiệt hại đang trở thành vấn đề có tính thời sự.
Khó có thể tổng kết được các giá trị vật chất và tinh thần bị mất đi do thiệt hại xảy ra bởi các nguyên nhân khách quan hay từ các nguồn hoạt động khác nhau của cá nhân, tổ chức, Nhà nước. Không những thế, chi phí khắc phục hậu quả của thiệt hại lớn không kém gì các giá trị vật chất và tinh thần đã mất, chưa kể nhiều khi tốn kém to lớn nhưng vẫn không bù đắp được các tổn thất mà nền kinh tế - xã hội phải gánh chịu. Đối với xã hội, sự hiện hữu của vấn đề thiệt hại, đặc biệt là thiệt hại gây ra bởi hoạt động của các cơ quan có chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức luôn gây tác động tiêu cực, gây băn khoăn, lo lắng, thậm chí gây bức xúc, xáo trộn trong nhân dân và dư luận xã hội. Ở góc độ chính tri, kinh tế - xã hội, thiệt hại không còn là sự cố luôn có khả năng xảy ra (mặc dù khả năng đó là tất yếu) mà phải đánh giá nó và các hậu quả kèm theo nó là vấn đề cần có sự quan tâm chung của toàn xã hội.
Từ góc độ pháp luật, vấn đề thiệt hại là giải quyết trực diện các quan hệ giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại theo các tiêu chí, khuôn khổ nhất định. Nguyên tắc pháp luật chung của việc giải quyết vấn đề thiệt hại thể hiện ở chỗ, bất luận thiệt hại do nguyên nhân nào, nhưng một chủ thể trong hoạt động của mình mà gây thiệt hại cho chủ thể khác, nhất là lại có lỗi khi gây thiệt hại thì đều phải bồi thường. Đây là nghĩa vụ trước hết xuất phát từ lẽ công bang, tồn tai trong quy định của hệ thống pháp luật quốc gia cũng như I1 luật pháp quốc tế. Hơn nữa, sự chế ước quyền của một cá nhân bởi những quyền và lợi ích của cá nhân khác một mặt loại bỏ sự tuyệt đối hóa quyền tu do của cá nhân, mặt khác xác định trách nhiệm của cá nhân đối với hoạt động của chính mình và trước quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người.
Trách nhiệm và nghĩa vụ xác định này không thể do các chủ thể tùy ý thỏa thuận. Nó phải được quy định trong các chế định pháp luật quốc gia cụ thể. * Khái niệm thiệt hai Theo nghĩa thông thường, thiệt hại là "mất mát, hư hỏng nặng nề về người va của" [8§2, tr. Theo các quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia,” thiệt hại là tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bao vệ” [63, tr.
Nội hàm của khái niệm thiệt hai này hướng đến việc quan niệm về thiệt hại và giải quyết các vấn đề phát sinh từ thiệt hại trên cơ sở quan hệ pháp luật dân sự, phù hợp với nội dung và bản chất pháp lý của vấn đề thiệt hại.