CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VAN BE LÝ LUẬN VE SỰ KIỆN BAT KHẢ KHÁNG 1.1 Khái niệm và đặc điểm sự kiện bất khả khang 1. Khái niệm sự kiện bất khả kháng Pacta Sunt Servanda (agreements must be honoured) — các thöa thuận phải được tuân thủ (hay hiệu lực rang buôc bat biến của hop đông) là một trong những nguyên tắc căn bản và tôi quan trong của pháp luật hợp đồng. Trong tiếng Latinh, pacta sunt servanda được hiểu đơn giản lả “cam kết phải được giữ gìn”, có thé nói rang rat gần với quan niệm về chữ “tin” của người Việt. Khái niệm nay phan ánh các yêu câu kinh tế va công lý tự nhiên vi nó rang buộc một chủ thé với những lời hứa, cam kết của bản thân cũng như đưa ra sự bao vệ cho lợi ích của người có quyên3 Pacta Sunt Servanda luôn là một phân không thé tach rời của hau hết các hệ thông pháp luật, bao gồm các hé thông pháp luật dựa trên luật La Mã (mặc du “pactum” là một trong những từ có lịch sử lâu đời nhật trong tiếng Latin, nhưng cách diễn giải của pacta sunt servanda không pho bién vào thời của Dé chế La Ma‘), Bô luật Napoleon! và các bộ luật dân sự Châu Âu khác, cũng như hệ thông Thông luật hay pháp luật Hồi giáo Š Cho đến thời điểm hiện tại, nguyên tắc nay van là một trong những nguyên tắc nên tang của pháp luật hiện đại bởi sự chắc chắn va én định về mặt pháp lý.” Trong luật quốc tế, nguyên tắc nay được hiểu kèm theo nguyên tắc thiện chí.
Cu thể, điêu 26 Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tê năm 1969 (có hiệu lực từ ngày 27- 1-1980) nêu rõ nguyên tắc Pacta sunt servanda như sau: “Mọi điều ước đã có hiệu lực ràng buộc các bên tham gia và phải được các bên thi hành với thiện chỉ”. ` Dietrich Madkovr (1992), “Hardship and Force Majeure”, The American Jounal of Comparative Lav, 40,p 658 3 Rirhard Hyland (1994), “Pacta Sunt Sarvmda: A Meditation”, 34 Va. Int'l Law 405 * Điều 1134 của Bộ nit Napokzon. Mazzacmo (2011), “Force Majeure, Impossibility, Frustration & the Like: Excuses for Nerformunce; the Historical Origns and Development of am Autonomous Commercial Nom in the CISG”, Nordic Jounal of Commercial Law,p.
47 6 Theo Pacta Sunt Servanda, các thỏa thuận được quy định trong hợp đồng phải được mỗi bên trong quan hệ hợp đồng tuân thủ, thực hiện cũng như mỗi bên phải chịu trách nhiệm pháp lý về việc không hoàn thành nghĩa vụ đã thỏa thuận. Tuy nhiên, thực tế cho thay, việc ap dung một cách cứng nhắc, khuôn mẫu nguyên tac nay có thể dẫn đến những hậu quả đi ngược lại với tinh than của nó .Š Ly do 1a bởi, trên thực tế, nhiều trường hop hoàn cảnh khách quan tại thời điểm ký kết hợp đông có thé đã bị biển đôi hoàn toản, nghĩa vụ của một bên rat khó dé thực hiên như ban dau hoặc hoàn toan không thể thực hiện được nữa, từ đó dẫn đến việc vị thé của các bên trong hợp dong bị thay đôi. Có thể lập luận rằng, chủ thể có nghĩa vụ không thể giữ lời hứa của mình khi hoàn cảnh đã thay đổi, vi dụ một sự kiên khó khăn hoặc bat khả kháng đã xảy ra với chủ thể này. Vân đề chính ở đây là "sư lựa chọn giữa việc áp dung tinh chat nghiêm ngặt của pacta sunt servanda và sự áp dung co kha năng của điêu khoản rebus sic stantibus "® Cho dù tam quan trong của pacta sunt servanda trong khoa học pháp ly 1a không thé ban cai, nguyên tắc nay van có thé bị kiêm chế bởi một nguyên tắc khác 1a rebus sic stantibus.
Dé cu thể hơn, một trong những khái niệm nỗi tiếng nhất có chức năng “can thiệp” vào nguyên tắc pacta sunt servanda được gọi là “Rebus sic stantibus”. Vé cơ ban, hợp đồng 1a kết quả của sự thông nhất vẻ mặt ý chí của các bên, nhưng điều đó phải được xác định một cách khách quan. Sự xuất hiện của một sự kiện bat ngờ mà không thé du đoán được tại thời điểm giao kết có thể tạo ra những hoản cảnh không nằm trong tính toản của các bên. Trong trường hợp các điều kiện đã thay đổi như vậy, rebus sic stantibus đã đưa ra cách xử lý được công nhận rông rãi dé "sửa chữa” cho việc không thực hiện hợp ding * Dietrich Maskow (1992), “Harddup and Force Majeure”, The American Jounal of Comparative Law, 40,p.
° Nagla Nassar (1995), “Sanctity of Contracts Revisited", Dorirecht/ Boston London, p. 193 7 Đôi với rebus sic stantibus, hợp đồng sé được xem xét lại khi có những thay đổi lớn và không lường trước được của hoàn cảnh, trong khi, nguyên tắc pacta sunt servanda quy định rằng, hợp đồng phải được thực hiện trên cơ sở ngay tinh, phù hợp với các điều khoản trong hợp đồng Thực tế sau khi ký kết hợp đồng, điều kiên khách quan để một bên thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng có thé thay đổi đến mức, các bên sẽ không thể thực hiện hop đồng hoặc nếu có thực hiện sẽ làm cho hợp đông khác đi so với mục đích ban đầu. Học thuyết này tổn tại ở cả cấp độ quôc tế va quốc gia, được bổ sung, tương trợ bởi các văn bản pháp lý, phán quyết của tòa án hoặc phán quyết trong tài, cũng như được luật hóa vào các văn bản luật, các công ước,.!9 Do đó, hau hết các nha lập pháp chấp nhận học thuyết rebus sic stantibus.!! Từ lế đó, người ta đặt ra hai ngoại lệ cho nguyên tắc pacta sunt servanda: Thứ nhất, không thực hiện hop đông do sự kiện bat khả kháng (force majeure) và thứ hai là thay đôi hoàn cảnh (hardship). Để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hop đồng cũng như để bao dam 1é công bang trong những trường hợp đã nhắc đến ở trên, thông qua quy định về tinh trang bat kha kháng (Force majeure) pháp luật đã dự liệu khả năng các bên điều chỉnh quyên vả nghĩa vu hợp đồng Ð Force Majeure - Su kiện bat khả kháng, theo từ điển Black’s Law Dictionary lả “một sự kiên hoặc hiện tương không thé lường trước được va không thể khắc phục duoc”? Ở trong một giao dich dân su, hay cu thể hơn là một quan hệ hợp đông, sư kiện bất khả kháng thường được hiểu là sự kiên, hiện tượng xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và vượt ra khỏi sư kiểm soát của các bên có liên quan, can trở một hoặc các bên thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.
Cho du su kiện bat kha kháng có thể được soạn Peter J. Mazzaceno O011),*Eurce Majeure, Inpossibilty, Frstration & the Lice: Excuses for '? MidaelE, Dickstein (1987/1988), "Revitalizing the Intemational Law Goveming Concession Agreements” 5/6 Intemational Tax & Business Lasryer,p. : ậ a Trần Việt Ding (2022), ‘Naiing vinđểpháp E7 trong som thio điều khoăn sự kiện bắt khả khưng vi điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bin trong bồi cảnh dai dich COVDD- 19”, Tạp chí nghiên cứu lip pháp. Blacks Law Dictionary (11th Sdition), USA: Thomson Reuters tr.
774 8 thảo với các cách thức tiếp cận khác nhau trong một hợp đông, ma thông thường là tại diéu khoản về bat khả kháng, nhưng diém chung của các sự kiện bat khả kháng là xay ra một cách khách quan, không thể lường trước được va không thể khắc phục được, bất kể các bên có liên quan đã áp dung moi biện pháp cân thiết và khả năng cho phép. Định nghĩa sự kiện bất khả kháng được quy định tại Khoản 1 Điều 156 va hậu quả của sự kiện bat khả kháng được quy định tại khoản 2 Điều 351 của BLDS năm 2015: “. Sự kién xây ra một cách khách quan không thé lường trước được và không thé khắc phục được mặc dit đã áp dụng mọi biện pháp cẩn thiết và kha năng cho phép.” “Truong hop bên có nghĩa vu không thực hiện ding nghĩa vụ do sự kiện bat kha khang thì khéng phải chịu trách nhiệm dân sự trừ trường hop có thỏa thuận khác hoặc pháp inat có quy định khác” Như vay, có thể hiểu đính nghĩa vẻ sự kiên bat khả kháng như sau: Sựkiện bắt khả kháng là sự kién xay ra một cách khách quan không thé lường trước được và không thé khắc phục được mặc dit đã áp dung mọi biện pháp can thiết và khả năng cho pháp. Đặc điểm của sự kiện bất kha khang Trong hệ thông luật hợp đông quốc tế, force majeure (sư kiện bất khả kháng) và hardship (hoàn cảnh thay đổi) là hai khái niệm được xây dưng nhằm phân chia rủi ro trong hợp đông và được thiết kê như các quy tắc để giải quyết các xung đột về lợi ích khi có hoản cảnh thay đổi hoặc xảy ra các tình hudng không thể lường trước được lam thay đổi hoàn toản cục diện của hop đồng.
Đây la hai ngoại lệ của nguyên tắc nên tăng pacta sunt servanda nhằm làm giảm đi tính chất cứng nhắc của nguyên tắc nảy. Là một trong hai khái niệm nằm trong nguyên tac rebus sic stantibus, sự kiện bat khả kháng có những đặc điểm sau: Thứ nhất, sự kiện bat khả kháng xảy ra ngoài ý muôn va các bên không thể dự đoán trước, dẫn đến không thể thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận theo hợp đồng Để so sánh với hoản cảnh thay đổi, một khái niêm cũng nằm trong rebus sic stantibus thì cả bat kha kháng và hardship đều 1a những sự thay đổi hoàn cảnh trong quá trình thực hiện hợp đông, thé nhưng sự thay đổi đó tác động vào việc thực hiện hợp đông một cách khác nhau. Cu thé, bat khả kháng lam hợp đông không thể được thực hiện một cach trọn ven, nghĩa là khi bat khả khang xây đến thi chỉ có thể dẫn đến đã có sự vi phạm nghĩa vụ, vi phạm hợp đông Trong khi đó hoàn cảnh thay đổi viên dẫn đến những thay đôi lam việc thực hiện hợp đồng của một bên khó khăn hơn, hoặc nếu bên đó tiếp tục có gang thực hiện thi phải gánh chịu một thiệt hai rất lớn. Thứ hai, su kiện bat khả kháng không khắc phục được mắc dù bên có nghĩa vụ đã áp dụng mọi biện pháp cân thiết va khả năng cho phép.
Không khắc phục được có thể được hiểu rang sự kiện đã xảy ra và hậu quả của sư kiện hay sự tác động của sự kiện tới việc thực hiện hợp đông là không thể khắc phục. Đặc điểm nay của sư kiên bat khả khang thường phải được bên vi phạm nghĩa vu thể hiện qua việc thông bao vả chứng minh để sư viện dan miễn trách nhiệm được chap thuận.