Luận văn thạc sĩ: Pháp luật bảo vệ rừng từ thực tiễn Mường Nhé, Điện Biên

Phân tích luận văn thạc sĩ luật học về pháp luật bảo vệ rừng, đánh giá thực tiễn tại huyện Mường Nhé, Điện Biên. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý,

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ rừng Mường Nhé

Rừng là tài nguyên thiên nhiên quý giá, đóng vai trò quan trọng trong cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội. Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật về bảo vệ rừng đã được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn. Luật Lâm nghiệp 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2019, thay thế Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quản lý và bảo vệ rừng. Huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên là địa phương có diện tích rừng lớn nhất tỉnh với 72.555,05 ha rừng, độ che phủ đạt 46,1%. Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé là một trong những khu bảo tồn đa dạng sinh học lớn của khu vực Tây Bắc. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ rừng tại đây đối mặt nhiều thách thức. Tình trạng di cư tự do, phá rừng làm nương rẫy, khai thác rừng trái phép đang đe dọa nghiêm trọng đến tài nguyên rừng. Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật tại Mường Nhé giúp đánh giá hiệu quả thực thi và đề xuất giải pháp phù hợp.

1.1. Vai trò của rừng và hệ thống pháp luật bảo vệ rừng

Rừng có vai trò đa dạng trong đời sống tự nhiên và xã hội. Về sinh thái, rừng điều hòa khí hậu, bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn và duy trì đa dạng sinh học. Về kinh tế, rừng cung cấp lâm sản, nguyên liệu công nghiệp và sinh kế cho hàng triệu người dân. Về xã hội, rừng gắn liền với văn hóa và đời sống cộng đồng các dân tộc thiểu số. Hệ thống pháp luật bảo vệ rừng Việt Nam bao gồm các văn bản từ Hiến pháp, Luật Lâm nghiệp, các nghị định, thông tư đến quy định địa phương. Các quy định điều chỉnh toàn diện mối quan hệ trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ hệ sinh thái rừng, khai thác tài nguyên rừng và xử lý vi phạm.

1.2. Đặc điểm tự nhiên và lâm nghiệp huyện Mường Nhé Điện Biên

Huyện Mường Nhé được thành lập năm 2004 theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 của Quốc hội. Tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn huyện là 152.766,6 ha, chiếm 97,07% diện tích tự nhiên. Diện tích có rừng đạt 72.555,05 ha, đất trống quy hoạch cho lâm nghiệp là 80.211,55 ha. Mường Nhé là huyện có diện tích rừng lớn nhất tỉnh Điện Biên, nơi tọa lạc khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị đa dạng sinh học cao. Địa hình chủ yếu là đồi núi cao, dân cư thưa thớt, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn. Đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến công tác bảo vệ rừng và thực thi pháp luật lâm nghiệp tại địa phương.

II. Phân tích vấn đề thực thi pháp luật bảo vệ rừng Mường Nhé

Thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ rừng tại huyện Mường Nhé đang đối mặt nhiều vấn đề nghiêm trọng. Thứ nhất, tình trạng di cư tự do từ các tỉnh khác đến diễn biến phức tạp, tạo áp lực lớn lên diện tích rừng. Người di cư thường phá rừng để lấy đất canh tác nương rẫy, gây mất rừng diện rộng. Thứ hai, tình trạng khai thác rừng trái phép vẫn xảy ra bất chấp các quy định pháp luật. Nguyên nhân chính bao gồm đời sống kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế. Thứ ba, năng lực thực thi pháp luật của các cơ quan chức năng địa phương còn bất cập. Huyện Mường Nhé chưa có ban quản lý rừng phòng hộ riêng biệt, công việc quản lý do phòng nông nghiệp huyện kiêm nhiệm. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ rừng chuyên trách. Các chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe, việc tuần tra kiểm soát gặp khó khăn do địa hình phức tạp, lực lượng mỏng.

2.1. Tình trạng phá rừng và di cư tự do tại Mường Nhé

Di cư tự do là vấn đề nhức nhối tại huyện Mường Nhé nhiều năm qua. Người dân từ các tỉnh lân cận di chuyển đến, định cư trái phép trong vùng rừng. Họ phá rừng để lập nương rẫy, khai thác gỗ và lâm sản trái phép. Hoạt động đốt nương làm rẫy gây thiệt hại nghiêm trọng đến diện tích rừng và đa dạng sinh học. Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé chịu áp lực lớn từ các hoạt động xâm hại này. Tình trạng phá rừng có xu hướng gia tăng, đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái rừng đầu nguồn. Các hộ gia đình thiếu đất sản xuất, thiếu sinh kế nên bất chấp quy định pháp luật.

2.2. Bất cập trong cơ chế quản lý và thực thi pháp luật

Cơ chế quản lý bảo vệ rừng tại Mường Nhé còn nhiều bất cập. Việc chưa thành lập ban quản lý rừng phòng hộ theo quy định Luật Lâm nghiệp 2017 khiến công tác quản lý thiếu chuyên trách. Phòng nông nghiệp huyện kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, không tập trung nguồn lực cho bảo vệ rừng. Lực lượng kiểm lâm mỏng, trang thiết bị thiếu thốn, khó tiếp cận vùng rừng sâu. Công tác tuần tra kiểm soát không thường xuyên, tạo kẽ hở cho vi phạm. Chế tài xử lý chưa đủ mạnh, nhiều trường hợp xử phạt hành chính không mang tính răn đe. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ, hiệu quả.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật bảo vệ rừng Mường Nhé

Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo vệ rừng tại huyện Mường Nhé, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần sớm thành lập ban quản lý rừng phòng hộ theo đúng quy định Luật Lâm nghiệp 2017. Ban quản lý chuyên trách sẽ đảm bảo nguồn lực và trách nhiệm trong quản lý, bảo vệ rừng. Thứ hai, tăng cường đầu tư trang thiết bị, phương tiện cho lực lượng kiểm lâm và các đội tuần tra. Áp dụng công nghệ giám sát rừng bằng vệ tinh, camera để phát hiện sớm vi phạm. Thứ ba, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân, đặc biệt là cộng đồng dân tộc thiểu số. Nâng cao nhận thức về vai trò rừng và hậu quả phá rừng. Thứ tư, phát triển sinh kế bền vững cho người dân sống gần rừng. Hỗ trợ trồng rừng sản xuất, phát triển lâm nghiệp ngoài gỗ, du lịch sinh thái. Thứ năm, hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm, đảm bảo tính răn đe và công bằng trong thực thi pháp luật.

3.1. Thành lập ban quản lý rừng và tăng cường năng lực thực thi

Việc thành lập ban quản lý rừng phòng hộ tại huyện Mường Nhé là giải pháp cấp thiết. Ban quản lý chuyên trách sẽ tập trung nguồn lực, nhân sự cho công tác bảo vệ rừng theo quy định Luật Lâm nghiệp. Cần tuyển dụng, đào tạo cán bộ chuyên trách có trình độ chuyên môn. Đầu tư trang thiết bị tuần tra, phương tiện đi lại, thông tin liên lạc. Xây dựng kế hoạch tuần tra định kỳ, phối hợp với lực lượng biên phòng, công an. Ứng dụng công nghệ GIS, viễn thám trong giám sát diện tích rừng. Thiết lập hệ thống báo cáo, phản ứng nhanh khi phát hiện vi phạm. Tăng cường hợp tác với các tổ chức bảo tồn quốc tế.

3.2. Phát triển sinh kế bền vững và tuyên truyền pháp luật

Phát triển sinh kế cho người dân là giải pháp gốc rễ giảm áp lực lên rừng. Hỗ trợ trồng rừng sản xuất trên đất trống, đất nương rẫy bạc màu. Giới thiệu giống cây trồng có giá trị kinh tế cao như thông ba lá, keo tai tượng, luồng. Phát triển mô hình lâm nghiệp kết hợp, du lịch sinh thái. Đào tạo nghề lâm nghiệp cho người dân địa phương. Song song đó, đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật qua nhiều hình thức: họp bản, loa phát thanh, tờ rơi bằng tiếng dân tộc. Tuyên truyền hậu quả phá rừng, quyền lợi khi bảo vệ rừng. Xây dựng cộng đồng giám sát rừng, khen thưởng người tố giác vi phạm.

IV. Kết luận và kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng

Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ rừng tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên cho thấy hệ thống pháp luật hiện hành đã cơ bản đầy đủ, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực bảo vệ rừng. Luật Lâm nghiệp 2017 và các văn bản hướng dẫn đã tạo khung pháp lý toàn diện cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi pháp luật tại Mường Nhé còn nhiều hạn chế. Các nguyên nhân chính bao gồm: đời sống kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật người dân thấp, năng lực thực thi của cơ quan chức năng chưa đáp ứng yêu cầu, cơ chế quản lý còn bất cập. Từ phân tích thực tiễn, đề xuất các kiến nghị: sớm thành lập ban quản lý rừng phòng hộ, tăng cường đầu tư nguồn lực, phát triển sinh kế bền vững, đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục pháp luật. Việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ rừng tại Mường Nhé có ý nghĩa quan trọng đối với bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững và quốc phòng an ninh khu vực biên giới Tây Bắc.

4.1. Đánh giá tổng thể hiệu quả pháp luật bảo vệ rừng

Hệ thống pháp luật bảo vệ rừng Việt Nam đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, từ Hiến pháp đến Luật Lâm nghiệp 2017 và các văn bản dưới luật. Các quy định bao quát toàn diện lĩnh vực quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và xử lý vi phạm. Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại địa phương còn lớn. Tại Mường Nhé, nhiều quy định chưa được thực thi đầy đủ do thiếu nguồn lực, thiếu cơ chế phối hợp. Hiệu quả pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trình độ cán bộ, nhận thức dân trí, điều kiện kinh tế xã hội và sự quan tâm của chính quyền địa phương.

4.2. Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi

Kiến nghị thứ nhất, đẩy nhanh tiến độ thành lập ban quản lý rừng phòng hộ tại Mường Nhé theo Luật Lâm nghiệp 2017. Kiến nghị thứ hai, tăng ngân sách đầu tư cho công tác bảo vệ rừng, trang bị phương tiện tuần tra hiện đại. Kiến nghị thứ ba, ban hành cơ chế hỗ trợ sinh kế cho người dân sống gần rừng, giảm áp lực khai thác. Kiến nghị thứ tư, tăng cường hợp tác liên ngành, liên tỉnh trong phòng chống phá rừng và di cư tự do. Kiến nghị thứ năm, rà soát, đề xuất sửa đổi chế tài xử lý vi phạm phù hợp thực tiễn địa phương miền núi. Các kiến nghị này cần được triển khai đồng bộ, có lộ trình cụ thể và nguồn lực bảo đảm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Luan van thạc sĩ luật học pháp luật về bảo vệ rừng từ thực tiễn tại huyện mường nhé tỉnh điện biên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG 1. Một số vấn đề về bảo vệ rừng 1. Rừng và vai trò của rừng 1. Khái niệm rừng Rừng là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái tự nhiên, có vai trò vô cùng quan trọng đối với môi trường tự nhiên cũng như đối với đời sống của con người.

Rừng là tài nguyên sinh vật và là nguồn sống chính của loài người, nền tảng của mọi nền văn minh trong lịch sử phát triển của nhân loại. Tài nguyên rừng đã có lịch sử phát triển lâu dài nhưng những hiểu biết về rừng chỉ mới thực sự có được từ đầu thế kỷ thứ XIX. Rừng được biết đến như là nơi cung cấp những nhu cầu thiết yếu phục vụ cuộc sống của của con người. Lịch sử càng phát triển, những khái niệm về rừng được tích lũy, hoàn thiện thành những học thuyết về rừng.

Dựa trên những cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học đưa ra những khái niệm khác nhau về rừng. Từ góc độ khoa học lâm nghiệp, năm 1930 Morozo đã đưa ra khái niệm: "Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý".Tcachenco đưa ra khái niệm về rừng như sau: "Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau với hoàn cảnh bên ngoài" [Dẫn theo: 29, tr.

Từ góc độ pháp luật, theo nghị định thư Tokyo năm 1997 thì định nghĩa về rừng được xác định theo các tiêu chí: Một là, diện tích tối thiểu là 0,05 -0,01 ha; Hai là, tỷ lệ che phủ tầng tán tối thiểu là 10 - 30%; Ba là, chiều cao tiềm năng tối thiểu là 2-5m [Dẫn theo: 29, tr. Theo quy định của Luật BV&PTR năm 2004 thì "Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các 8 yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng" (Khoản 1 Điều 3). Luật Lâm nghiệp năm 2017 đưa ra quy định về rừng với sự sửa đổi, bổ sung về tiêu chí xác định rừng như sau: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên (Khoản 3 Điều 2 Luật Lâm nghiệp).

Như vậy có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm rừng, nhưng hầu hết các khái niệm này đều được xây dựng dựa vào tiêu chí về phạm vi không gian, hệ thống sinh vật và cảnh quan địa lý. Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam thì khái niệm rừng được xây dựng một cách khái quát với đầy đủ các thành phần hệ sinh thái rừng bao gồm cả thực vật, động vật, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác. Đối với cây gỗ, tre nứa, thực vật hoặc hệ thực vật đặc trưng phải thỏa mãn điều kiện về độ tàn che từ 0,1 ha trở lên, diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên mới được xác định là rừng. Vai trò của rừng Trong hệ sinh thái tự nhiên, rừng là hệ sinh thái có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống con người.

Vai trò của rừng được thể hiện qua các khía cạnh sau đây: Thứ nhất, rừng có vai trò quan trọng trong việc ổn định và bảo vệ môi trường sống của con người. Rừng không chỉ là một bộ phận quan trọng trong hệ sinh thái mà còn có vai trò giữ vững sự ổn định của khí hậu, môi trường đất, nước. Với độ che phủ lớn, rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua việc giảm lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống trái đất, duy trì và điều hòa lượng carbon trên trái đất do vậy rừng 9 có tác dụng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Các loại thực vật sống trong rừng có khả năng tích trữ lượng carbon trong khí quyển, vì vậy sự tồn tại của thực vật rừng cũng như hệ sinh thái rừng có vai trò rất quan trọng trong việc chống lại hiện tượng nóng dần lên của trái đất.

Mối quan hệ giữa rừng và biến đổi khí hậu rất phức tạp. Các khu rừng một mặt có thể làm giảm biến đổi khí hậu bằng cách hấp thu carbon, mặt khác nếu rừng bị suy thoái hoặc phá hủy sẽ dẫn đến biến đổi khí hậu nhanh và mạng hơn. Rừng còn có vai trò giữ đất, bảo vệ đất. Ở những nơi có rừng, đất luôn được bảo vệ vì rừng hạn chế hiện tượng bào mòn, sạt lở, nhất là ở những nơi có địa hình dốc, lớp đất mặt không bị mỏng giữ được hệ thống vi sinh vật và các khoáng, chất hữu cơ có trong đất.

Ở những nơi rừng bị phá hủy thì đất dần bị thoái hóa diễn ra mãnh liệt và nhanh chóng, khiến cho các vùng đất này hình thành khu đất trống, đồi trọc, trơ sỏi đá, mất dần tính giữ nước, độ chua tăng cao, thiếu dinh dưỡng ảnh hưởng lớn đến các sinh vật. Hiện tượng bào mòn, rửa trôi cũng diễn ra nhanh, đất không còn độ bám dễ bị sạt lở. Hiện nay nguồn tài nguyên đất đặc biệt là đất rừng đang ngày càng bị suy giảm do đó cần phải có biện pháp khai thác và sử dụng hợp lí nguồn đất và đất rừng để bảo vệ và phát huy tối đa tiềm năng của tài nguyên này. Một vai trò không kém phần quan trọng của rừng là bảo vệ nguồn nước, chống lũ lụt, làm giảm ô nhiễm môi trường.

Nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng lưu lượng dòng chảy mặt tại nơi có rừng thấp hơn từ 2,5 đến 27 lần so với các khu vực canh tác nông nghiệp [Dẫn theo: 29, tr. Thêm vào đó, rừng tự nhiên có tác dụng tốt hơn so với rừng trồng trong việc giảm dòng chảy mặt, nguyên nhân là do rừng trồng có lớp thảm mục ít và đã bị cơ giới hóa. Đây là yếu tố quan trọng của rừng trong việc ngăn chặn và làm giảm tác động của các cơn lũ. Rừng còn là một hệ thống rào chắn tự nhiên, chống lại hiện tượng cát bay, cát lấn, bảo vệ các vùng đất nội địa và hệ thống đê biển.

Thứ hai, rừng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế Rừng vừa là yếu tố bảo vệ môi trường nhưng cũng là một thành phần kinh tế quan trọng. Với giá trị kinh tế đặc biệt, rừng đóng góp cho nền kinh tế của các 10 quốc gia trên nhiều phương diện, đặc biệt trong lĩnh vực cung cấp gỗ cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Rừng là nơi cung cấp nguồn dược liệu tự nhiên để chăm sóc sức khỏe và đáp ứng một phần nhu cầu về thực phẩm cho con người. Tổ chức y tế thế giới WHO đánh giá là 80% dân số các nước đang phát triển dùng lâm sản ngoài gỗ để chữa bệnh, làm thực phẩm bồi bổ sức khỏe.

Rừng còn có giá trị du lịch sinh thái -loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Du lịch sinh thái gắn liền với các vườn quốc gia, khu BTTN, những địa điểm có cảnh quan đặc biệt.Du lịch sinh thái là một dịch vụ góp phần nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho người dân địa phương.Thông qua du lịch sinh những người dân địa phương nhận thức được giá trị do rừng mang lại họ sẽ gắn bó với rừng hơn, tích cự hơn trong công tác xây dựng và phát triển rừng bền vững. Thứ ba, rừng góp phần ổn định và giữ vững đời sống xã hội Đối với đời sống của con người, rừng đem lại một giá trị xã hội to lớn đối với người dân sống gần rừng và cả những người ở khu vực thành thị. Đối với người dân sống gần rừng, hệ sinh thái rừng với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng góp phần giải quyết nạn thiếu lương thực làm ổn định tình hình xã hội, giữ an ninh và phát triển đời sống cho người dân.

So với các lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp hay công nghiệp và dịch vụ thì rừng mang lại nguồn thu nhập thường xuyên và thiết thực hơn, đồng thời còn tạo một số lượng việc làm lớn quanh năm cho người dân sống gắn bó với rừng. Trong lĩnh vực văn hóa, rừng góp phần bảo tồn những kiến thức bản địa của người dân về gây trồng, chế biến, chữa bệnh bằng cây thuốc tự nhiên, các ngành nghề thủ công mĩ nghệ, giữ gìn các giá trị văn hóa của cộng đồng của các dân tộc. Đối với khu vực thành thị, rừng cũng góp phần tạo công ăn việc làm cho các nhà máy xí nghiệp sản xuất, chế biến dùng những sản phẩm có từ rừng, cung cấp các dịch vụ giải trí, vui chơi cho người dân thành thị; đa dạng hóa các sản phẩm công nghiệp cho các nhà máy xí nghiệp.quá đó góp phần phát triển kinh tế, các điều kiện phúc lợi xã hội của người dân cũng được nâng cao hơn. 11 Đối với sự phát triển giáo dục và khoa học, tài nguyên rừng bao gồm động vật, thực vật rừng cũng được con người sử dụng vào nghiên cứu khoa học và công tác giảng dạy.

Các loài động vật, thực vật rừng được sử dụng để nghiên cứu sự tiến hóa của các loài, sử dụng các loài có cấu tạo cơ thể gần giống con người để thử nghiệm các loại thuốc và phương pháp điều trị mới, đem lại những bước tiến mới sự phát triển văn minh của xã hội. Thứ tư, rừng là phên dậu bảo vệ biên giới quốc gia, bảo đảm an ninh - quốc phòng của đất nước Ở hầu hết các quốc gia có rừng hiện nay thì rừng chủ yếu phân bố ở những khu vực vùng miền núi, khu vực biên giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ