Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TIỀN 1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa của áp dụng hình phạt tiền 1. Khái niệm hình phạt tiền: Hình phạt tiền là tước bỏ một phần quyền lợi vật chất của người phạm tội. Đây là loại hình phạt mà tác động trực tiếp và mạnh mẽ về mặt kinh tế của người bị kết án.
Hình phạt tiền tác động trực tiếp vào hoàn cảnh của người phạm tội làm người phạm tội mất đi các điều kiện kinh tế - đó là tiền bạc để có thể tái phạm và nó có hiệu quả cao trong việc đấu tranh, phòng chống với các loại tội phạm có tính chất vụ lợi, các tội dùng tiền làm phương tiện hoạt động, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, an toàn công cộng, trật tự quản lý hành chính… mà chưa cần đến mức áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn. Vậy hình phạt tiền được hiểu là gì? Dưới góc độ pháp lý: Trong pháp luật hình sự của Việt Nam từ BLHS 1985 đến BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đều chưa có một khái niệm pháp lý nào về hình phạt tiền mà chỉ quy định về phạm vi, điều kiện, nguyên tắc áp dụng hình phạt tiền. Hiện nay, khái niệm hình phạt tiền mới chỉ được ghi nhận trong các giáo trình, sách báo pháp lý chuyên ngành theo quan điểm của các nhà khoa học. Theo đó, về cơ bản khái niệm hình phạt tiền có 02 quan điểm tiêu biểu như sau: Quan điểm thứ nhất: “Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước”[13, tr272].
8 luan an Quan điểm thứ hai: Phạt tiền là hình phạt không tước tự do, nhẹ hơn hình phạt cải tạo không giam giữ, buộc người bị kết án phải nộp sung công quỹ nhà nước một khoản tiền nhất định [4, tr51]. Với 02 quan điểm này, mới chỉ ra được chủ thể, nội dung của hình phạt tiền mà chưa chỉ ra được đầy đủ bản chất, nội dung, chủ thể, đối tượng, phạm vi và mục đích áp dụng của hình phạt tiền. Đặc biệt, với quan điểm thứ nhất “người phạm tội” trong khái niệm dùng để chỉ đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền có phần chưa hợp lý vì chỉ những người bị Tòa án quyết định áp dụng hình phạt tiền mới bị tước một khoản tiền nhất định sung Ngân sách nhà nước và để tránh gây nhầm lẫn khi xác định thời điểm phải chịu hình phạt tiền là trước hay sau khi có bản án của Tòa án. Do vậy, theo quan điểm cá nhân sẽ là cần sử dụng cụm từ “người bị kết án” thay cho cụm từ “người phạm tội”.
“Phạt tiền là một trong những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được Tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với người bị kết án về những tội phạm được Bộ luật hình sự xác định với nội dung là tước một khoản tiền nhất định của họ sung vào công quỹ Nhà nước, thông qua đó giáo dục, cải tạo, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời thực hiện phòng ngừa, giáo dục chung”[8, Tr183] Với khái niệm này, về cơ bản đã phản ánh được bản chất, nội dung, chủ thể, đối tượng, phạm vi và mục đích áp dụng của hình phạt tiền. Tuy nhiên cả 03 quan điểm trên về đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền là “người bị kết án” là chưa đầy đủ theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) bởi ngoài chủ thể bị kết án, là tội phạm không chỉ có cá nhân (thể nhân) mà còn có cả pháp nhân thương mại. Ngoài ra, cũng chưa chỉ ra được hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung đối với mỗi tội phạm cụ thể. 9 luan an Như vậy, trên cơ sở các quy định của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và những điểm hợp lý của các quan điểm về mặt lý luận, tác giả đưa ra khái niệm hình phạt tiền như sau: Hình phạt tiền là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước tước đi của người bị kết án hoặc pháp nhân thương mại bị kết án về những tội phạm được Bộ luật hình sự quy định một khoản tiền nhất định sung Ngân sách Nhà nước với tính chất vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung nhằm giáo dục, cải tạo, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời thực hiện răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.
Khái niệm áp dụng hình phạt tiền Trước khi đưa ra khái niệm áp dụng hình phạt tiền, tác giả phân tích một số khái niệm về áp dụng pháp luật. Hiện nay áp dụng dụng pháp luật đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học tiếp cận và đưa ra khái niệm, có thể kể đến như: Theo tác giả Vũ Quang Hào: “Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt trong đó nhà nước thông qua các thiết chế của mình tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật”. Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt vì bằng các thiết chế của mình, nhà nước thực hiện việc tổ chức, giám sát các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật. Như vậy, áp dụng pháp luật thể hiện tính tổ chức quyền lực của nhà nước.
Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, Nhà nước trao quyền cho cơ quan hoặc tổ chức xã hội nhằm cá biệt hóa quy phạm pháp luật giúp đưa pháp luật vào các trường hợp cụ thể và đối với cá nhân, tổ chức cụ thể. Hay đó là hành vi của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền hay một tổ chức được giao quyền, căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết một trường hợp cụ thể. 10 luan an Trên cơ sở khái niệm hình phạt tiền được trình bày ở phần trên, cùng với khái niệm về áp dụng pháp luật, học viên xin đưa ra khái niệm về áp dụng hình phạt tiền như sau: Áp dụng hình phạt tiền là một trong những hoạt động của Tòa án, được áp dụng cho người bị kết án phạt tiền nhằm tước đi của người bị kết án hoặc pháp nhân thương mại bị kết án về những tội phạm được Bộ luật hình sự quy định một khoản tiền nhất định sung Ngân sách Nhà nước với tính chất vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung nhằm giáo dục, cải tạo, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời thực hiện răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội. - Đặc điểm cơ bản của áp dụng hình phạt tiền bao gồm: Một là, áp dụng hình phạt tiền là hoạt động nhân danh Nhà nước.
Bản án tuyên ra là nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà cơ quan được nhà nước trao quyền này là Toà án, việc áp dụng hình phạt tiền được tiến hành bởi người tiến hành tố tụng mà trực tiếp là Hội đồng xét xử. Hai là, áp dụng hình phạt tiền là hoạt động mang tính thực tiễn. Khi áp dụng hình phạt tiền thì chế định hình phạt tiền không còn mang tính lý luận mà nó là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nói chung, căn cứ vào các quy định pháp luật cụ thể, áp dụng vào từng vụ án cụ thể để đưa ra các phán quyết đúng đắn và được thi hành ngay khi có hiệu lực pháp luật. Ba là, việc áp dụng hình phạt tiền phải bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS.
Ngoài việc tuân thủ các quy định của Bộ luật hình sự về các căn cứ áp dụng việc áp dụng hình phạt tiền phải được tiến hành theo các giai đoạn tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nhằm đảm bảo việc xét xử công bằng, vô tư, khách quan khi kết án và cho hưởng hình phạt tiền đối với người phạm tội thì việc xét xử phải theo đúng các nguyên tắc như Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia; 11 luan an Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; Nguyên tắc hai cấp xét xử; Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật… Bốn là, áp dụng hình phạt tiền là hoạt động được tiến hành tại phiên tòa. Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nói chung và hoạt động hình phạt tiền nói riêng có bản chất như nhau và đều phải tiến hành tại phiên tòa xét xử công khai. Phiên tòa hình sự không chỉ là nơi thể hiện sự tôn nghiêm của pháp luật, mà còn là nơi quần chúng nhân dân, các cơ quan báo chí, đài phát thanh truyền hình… trực tiếp chứng kiến quá trình xét xử thẩm vấn công khai, được nghe phổ biến các quyền, nghĩa vụ của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
Tại phiên tòa toàn bộ vụ án được làm sáng tỏ, công khai, Hội đồng xét xử thông qua đó nắm được rõ ràng hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự…để đưa ra phán quyết đúng đắn về việc có nên hay không áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội. Năm là, chủ thể bị áp dụng hình phạt tiền được áp dụng với cả cá nhân bị kết án và pháp nhân thương mại bị kết án. Nếu như hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù, tử hình… chỉ áp dụng với cá nhân người bị kết án thì hình phạt tiền có thể được áp dụng đối với cá nhân người bị kết án và pháp nhân thương mại bị kết án. Đây là một điểm mới của BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi bổ sung pháp nhân thương mại cũng là chủ thể của tội phạm.
Sáu là, áp dụng hình phạt tiền được áp dụng sẽ buộc người bị kết án phải nộp một khoản tiền nhất định để sung Ngân sách nhà nước. Khoản tiền mà cá nhân, pháp nhân thương mại bị kết án phải nộp là khoản tiền nằm trong 12 luan an giới hạn mức tối thiểu và mức tối đa của điều luật cụ thể quy định trên cơ sở Tòa án phải xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm đã thực hiện, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình hình tài sản của người phạm tội cũng như những sự biến động của giá cả thị trường. Điều đó, đảm bảo tính hợp lý và tính khả thi của việc quyết định hình phạt tiền trên thực tế.