CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT TO TUNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VE THỰC HANH QUYEN CÔNG TO CUA VIEN KIEM SÁT TRONG XÉT XU VU AN HÌNH SỰ TẠI TOA AN NHAN DAN CAP HUYEN 1.1 Khái niệm quyền công tố va thực hành quyền công tố 1. Khái niệm quyền công tổ Theo Dai tir điển tiếng việt thì "công to" có nghĩa là "điều tra, truy to, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án".453] Như vậy theo Đại tir điển tiếng việt thì công tô được hiểu với nhiều nội dung khác nhau: điều tra, truy tố, buộc tội, phát biểu ý kiến trước Tòa án. Ở nước ta, quá trình xây dựng và tổ chức thực thi QCT gắn liền với quá trình xây dựng nên tư pháp và hệ thống tư pháp. Trong Hiến pháp năm 1980, văn bản pháp lý cao nhất đầu tiên của nước ta thuật ngữ “Thực hành quyên công tố” mới được đưa ra, khi có đề cập đến chức năng của VKSND ( Điều 138 ).
Thuật ngữ này được Luật tổ chức VKSND nhắc lại ở ( Điều 1 và Điều 3 ). Như vậy, trong hoạt động của VKSND bên cạnh các khái niệm truyền thống “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật” đã xuất ra khái niệm “Quyên công tố” và “Thực hành quyên công to”. Giải quyết van đề này giúp cho chúng ta xác định chính xác vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Tuy vậy, cho đến nay, QCT đang là vấn đề phức tạp, tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, đòi hỏi cần được tiếp tục nghiên cứu.
Có thê khái quát một số quan điểm sau: - Quan điểm thứ nhất cho rằng: “ Công tô không phải là một chức năng độc lập cua VKS mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật".22] Đây là quan điềm kha phô biến, đặc biệt là trong ngành kiểm sát từ năm 1960 cho đến khi Luật tổ chức VKSND năm 1992 ( sửa đổi bố sung vào các năm 2002, 2013 ) được ban hành. Như vậy, quan điểm này đã được đồng nhất hoạt động công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND. Theo chúng tôi, hoạt động kiểm sát và hoạt động công tố là hai hoạt động khác nhau, với mục đích khác nhau. Điều này được thể hiện như sau: + Hoạt động kiểm sát của VKSND là đảm bảo cho pháp luật được thực hiện, được chấp nhận nghiêm chỉnh và thống nhất còn hoạt động công tố là nhằm phát hiện, điều tra, truy tố, buộc tội chính xác, nhanh chóng, kip thời những người có hành vi phạm tội, đảm bảo không để xảy ra oan sai hay bỏ lọt tội phạm.
+ Hoạt động kiểm sát là hoạt động kiểm sát quyền lực, hoạt động công tố là hoạt động thực thi quyền lực ( quyền truy cứu trách nhiệm hình sự của Nhà nước ). + Hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp có phạm vi rộng hơn hoạt động công tố. Hoạt động công tố chỉ giới hạn trong lĩnh vực tố tụng hình sự. - Quan điểm thứ hai nhấn mạnh: “Quyên công tố là quyên của Nhà nước giao cho cơ quan VKS truy to kẻ phạm tội ra Toa an , thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa ( thực hành quyên công to )” [20.
Theo quan điểm nảy thì VKS chỉ có một vai trò duy nhất trong TTHS là thực hiện quyên công tô và cũng chỉ ở một giai đoạn duy nhất của tô tụng hình sự là giai đoạn xét xu sơ thâm. Như vậy, quan điểm này đã thu hẹp vi trí, vai trò, chức năng của VKS trong TTHS, không phù hop với quy định của Hiến pháp và pháp luật TTHS. - Quan điểm thứ ba coi quyền công tố: “Là sự cáo buộc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm hành chính, vì phạm dân sự, luật kinh tế và luật hình sự và OCT là quyên của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó ”[I8,tr. Theo quan điểm này thì QCT chỉ thuộc về Nhà nước, Nhà nước không thể không thực hiện QCT khi chính Nhà nước là người ban hành pháp luật, người có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, đồng thời Nhà nước là chủ thể tham gia vào nhiều loại quan hệ pháp luật khác nhau.
Với tính chất là một quyền năng của Nhà nước, QCT được thực hiện trong tất cả các quá trình giải quyết các vi phạm pháp luật bao gồm tô tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động. Theo quan điểm trên, QCT trong các hoạt động tố tụng được biểu hiện cụ thé ở các quyền của VKS như quyền khởi tố vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, quyền tham gia tố tụng từ bat cứ giai đoạn tô tụng nào khi xét thấy cần thiết (dân sự, kinh tế.) quyền yêu cầu Tòa án hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ trong vụ án. Bản chất của hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của các cơ quan tiễn hành tố tụng hình sự nhăm phát hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Trong hoạt động tố tụng hình sự luôn ton tại ba chức năng tô tụng cơ bản đó là: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử.
Buộc tội là một chức năng tố tụng nhằm phát hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Cơ quan thực hiện chức năng buộc tội có quyền đưa ra những lời cáo buộc cụ thể đối với cá nhân cụ thé va có trách nhiệm đưa ra những tài liệu, chứng cứ cụ thể cho sự buộc tội đó. Từ những phân tích nêu trên, tác giả luận văn cho rằng: “Quyên công to là quyền thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho VKS thực hiện nhằm phát hiện tội phạm, truy to bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên toa”. O nước ta, QCT là quyền của Nhà nước, được Nha nước giao cho một cơ quan duy nhất thực hiện đó là VKSND, không có bất cứ cơ quan nào có thé thay thé được.
Nội dung cơ bản của QCT là sự buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội ( truy tố bị can ra trước Toà án, buộc tội bị cáo tại phiên tòa ). Đối tượng của quyền công tổ chỉ là tội phạm và người phạm tội. Nhu vậy, quyền công tố chi được đặt ra trong tố tụng hình sự và được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cho đến khi truy tố bị can ra trước Toà án và buộc tội bị cáo tại phiên tòa và kết thúc khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật không bị kháng cáo, kháng nghi.2 Khái niệm thực hành quyền công to Xuất phát từ khái niệm “uyên công to” là quyền nhân danh Nhà nước nhằm phát hiện tội phạm, truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên toà nên có ý kiến cho rang: “Thực hành quyên công to là việc sử dụng tổng hợp các quyên năng pháp lý thuộc nội dung quyền công to dé thuc hién quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm toi trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử `. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát 2014 thì: “Thực hành quyên công tô là hoạt động của VKSND trong tô tụng hình sự dé thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm toi, được thực hiện ngay từ khi giải quyết to giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi to và trong suốt quá trình khởi to, điều tra, truy tổ, xét xử vụ án hình sự”.
Mục đích của thực hành quyền công tố là bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không dé lọt tội phạm và người phạm tội; không dé người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái pháp luật (Khoản 2 Điều 3 - Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 ). - Chủ thể thực hành quyền công tố Chủ thé duy nhất có thẩm quyền thực hành quyền công tố ở nước ta là VKSND. Điều nay đã khang định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013, “Viện 10 kiểm sát nhân dân thực hành quyên công to, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Cụ thê hoá Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức VKS năm 2014 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 2).
Như vậy, chức năng THỌCT là chức năng hiến định quan trọng, riêng có của VKSND. Việc Hiến pháp năm 2013 quy định chức năng THỌCT trước chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp giúp xác định về mặt nhận thức: Công tố không phải là chức năng phát sinh từ kiểm sát, công tô không phải là kiểm sát, công t6 độc lập với kiểm sát hoạt động tư pháp. Tuy vậy, việc phát động quyên công tổ thì không chỉ có VKSND mà cơ quan điều tra và Tòa án trong một số trường hợp cũng tham gia vào việc phát động quyền công tố. Nhưng các quyết định khởi tố của cơ quan điều tra chỉ thực sự có ý nghĩa phát động quyên công tố sau khi được VKS xem xét, nếu quyết định khởi tố va không khởi tổ của CQDT không có căn cứ và trái pháp luật thì VKS có quyền huỷ bỏ.
Toa án có quyền khởi t6 vụ án hình sự nếu qua việc xét xử phát hiện tội phạm bị bỏ lọt, nhưng các quyết định khởi tố vụ án hình sự của Tòa án đều phải được gửi cho VKS xem xét, nếu có vi phạm thì VKS sẽ kháng nghị. Như vậy, về mặt pháp lý chỉ có VKS là cơ quan có quyền độc lập phát động quyền công tô mà không chịu sự can thiệp của bat cứ cơ quan Nhà nước nào. Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra chỉ có quyền đề nghị việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, còn việc quyết định là do VKS, CQĐT có quyền độc lập thu thập tài liệu, chứng cứ, nhưng việc bảo đảm những tài liệu, chứng cứ có đủ cơ sở để truy tô bị can hay không là do VKS chỊu trách nhiệm.