Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TINH TIẾT TANG NANG ĐỊNH KHUNG TRONG TOI CÓ Y GAY THUONG TÍCH HOẶC GAY TON HAI CHO SUC KHOE CUA NGUOI KHAC 1. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tốn hai cho sức khỏe của người khác 1. Khái niệm tội cỗ ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khóe của người khác Tính mạng, sức khỏe của con người là khách thể quan trọng, được nhà nước quan tâm và đề ra các chính sách pháp luật bảo vệ. Vì vậy, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tốn hại cho sức khỏe của người khác có vị trí rất quan trọng, được quy định tại phần thứ hai của BLHS năm 2015 — Phần các tội phạm và chỉ nằm sau Chương quy định nhóm tội phạm về an ninh quốc gia.
Qua các thời kỳ của Bộ luật hình sự, đến nay chưa có định nghĩa chính thức cho tội nay. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, định nghĩa sức khỏe được công bố trong Hiến chương Đại hội Đồng Y tế lần thứ 22 vào năm 1946 và được sửa đổi trong Hiến chương Đại hội Đồng Y tế lần thứ 29 vào năm 1978. Hiện nay, định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới được nhiều người thống nhất sử dụng [19]. Ngoài ra từ điển Bách khoa Việt Nam cũng có định nghĩa về sức khỏe [9].
Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm sức khỏe có mối quan hệ mật thiết với quyền con người, dựa trên các nghiên cứu y tế, quy định pháp luật. Nhìn nhận dưới góc độ khoa học hình sự, có quan điểm cho rằng: Sức khỏe của con người là tình trạng sức lực của con người đang sống trong điều kiện bình thường, cho nên sức khỏe thực ra là trạng thái tâm lý, sự hoạt động hài hòa trong cơ thể tạo nên khả năng chống lại bệnh tật [12, tr. Tác giả Phạm Văn Beo đã đưa ra khái niệm: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây ton hại cho sức khỏe người khác dưới dang thương tích hoặc tổn thương khác [1]. Theo quan điểm của tác giả Dinh Văn Qué thì: Có ý gây thương tích hoặc gây ton hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cô ý làm cho người khác bị thương hoặc tôn hại đến sức khỏe [17, tr.
Tuy nhiên, hai định nghĩa trên đều thiếu các yếu tô quan trọng như tuôi chịu trách nhiệm hình sự, năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể và tính trai pháp luật của hành vi. Đề xác định trách nhiệm hình sự cần phải xác định đầy đủ hai yếu tố sau: Thứ nhất, người thực hiện hành vi phạm tội phải có năng lực trách nhiệm hình sự (nghĩa là không ở trong tình trạng không có năng lực TNHS) thực hiện, đồng thời bắt buộc người đó phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 của BLHS năm 2015. Thứ hai, người đó phải có lỗi (cỗ ý, vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi này bắt buộc phải được quy định trong phan thứ hai — các tội phạm trong bộ luật hình sự, nếu hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhưng hành vi này không quy định trong BLHS cũng không được coi là tội phạm (Điều 8 BLHS năm 2015). Vì vậy, dé thé hiện rõ ràng, đầy đủ các yếu tố về nội hàm của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác theo quan điểm của học viên cần được xác định thống nhất “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây ra thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây nguy hiểm cho sức khỏe của người khác một cách đáng kế được quy định trong BLHS, do người không ở trong tình trạng không có năng lực TNHS thực hiện va đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của BLHS”.
Đặc điểm tội cỗ ý gây thương tích hoặc gây tốn hại cho sức khoe của người khác 1. Khách thể của tội Co ý gây thương tích hoặc gây ton hại cho sức khỏe của người khác Khách thê của tội phạm đóng vai trò quan trọng trong cấu thành tội phạm hình sự, bởi lẽ dấu hiệu của khách thể xác định quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và vai trò của các dấu hiệu đó trong việc xác định TNHS đối với cá nhân, pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội trong thực tế. Khách thé của tội phạm thé hiện rõ tính chất nguy hiểm của tội phạm trong đời sống xã hội, là một trong những yếu tô dé cơ quan tố tụng xác định hành vi xâm hại thực tế có cấu thành tội phạm hay không. Sức khỏe con người là đối tượng quan trọng được pháp luật bảo vệ.
Vì vậy, người nào xâm hại đến sức khỏe của người khác chính là xâm hại đến khách thê mà luật hình sự bảo vệ, đối tượng tác động của tội phạm này là một con người cụ thể, đó là người đang sống và tồn tại, có quyền được pháp luật tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe khỏi sự xâm hại của tội phạm. Mặt khác, hành vi xâm phạm quyền được bảo vệ sức khỏe đối với một số đối tượng đặc biệt thì mức hình phạt sẽ nặng hơn, đó là: trẻ em, phụ nữ trong thời gian mang thai (người có hành vi xâm phạm biết mà vẫn xâm phạm sức khỏe của họ), hoặc những đối tượng mà khả năng chống trả, tự vệ của họ kém hơn so với người bình thường, thậm chí không có khả năng tự vệ như: người già yếu, 6m đau, hoặc đối tượng mà với truyền thống, đạo đức của người Việt Nam cần phải kính trọng, biết ơn như người thân của người có hành vi xâm hại (ông bà, cha mẹ), đối tượng là người đã rèn luyện, giáo dục người có hành vi xâm hại (thầy giáo, cô giáo), hoặc người có ơn nuôi dưỡng, người đã chữa bệnh cho người có hành vi xâm hại. Mặt khách quan của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây ton hại cho sức khỏe của người khác Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác khi xem xét, đánh giá hành vi khách quan có thé thấy hành vi này được thé hiện dưới hai dạng. Dạng thứ nhất, hành vi “gây thương tích”, dạng hành vi này thường gặp trong đời song hang ngay.
Dang thw hai, hanh vi “gay tốn hai cho sức khỏe” — dang hành vi này thường ít gặp trên thực tế. Những hành vi này xảy ra thi chúng ta có thé nhận biết được, bởi lẽ nó được diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Hành vi khách quan của tội phạm này có thể được thực hiện trực tiếp bằng việc sử dụng công cụ, phương tiện như dao, mã tau, gạch, đá, gậy, ghế, tuýp sắt, cung tén,. dé thực hiện các hành vi chém, ném, đập, đá, phóng,.nạn nhân, người thực hiện hành vi phạm tội có thé không sử dụng bat cứ công cụ hoặc phương tiện nào dé thực hiện các hành vi vặn, bẻ (tay, chân), đấm, nhồ, giật (tóc, tay), can, đá,.
thậm chí người phạm tội có thé thả súc vật, thú dữ theo sự điều khiến, chỉ huy của mình hoặc sử dụng bộ phận, thân thé của người khác dé gây tôn thương cơ thé nạn nhân,. những hành vi này được thực hiện thông qua hành động như ném, đấm, đá, đâm, chém, đạp, xô ngã, đốt cháy, đầu độc. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm này được thể hiện ra ngoài thế giới khách quan, có thể nhận thấy và đánh giá được. Hậu quả của hành vi là người bị hại phải bị thương tích hoặc bị tổn thương đến sức khỏe, hậu qua này dựa trên kết luận của cơ quan giám định và tỷ lệ tôn thương phải ở mức đáng kể.
Nếu người bi gây thương tích chỉ thiệt hại nhỏ, nghĩa là tỷ lệ tôn thương của họ chưa đến mức đáng kể, dưới mức ty lệ mà BLHS quy định thì hành vi đó không thể bị coi là tội phạm, khi đó quan hệ giữa người gây thương tích và người bị thương tích và nhà nước sẽ được áp dụng pháp luật dân sự (bồi thường thiệt hại về sức khỏe), hành chính để giải quyết (quyết 11 định xử phạt vi phạm hành chính), thậm chí trường hợp tỷ lệ thương tích là 0% thì người gây ra thương tích không phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Thiét hại về thé chất là thiệt hại liên quan đến cơ thé con người, biểu hiện qua việc hành vi phạm tội gây ra sự thay đổi tình trạng ton tại bình thường, vốn có của cơ thé con người (nạn nhân). Dạng thiệt hại này gồm thiệt hại về tính mạng (chết người) hoặc thiệt hại về sức khỏe (gây thương tích hoặc gây tôn hại sức khỏe của con người) [42, tr. Dé xác định mức độ thiệt hại của nạn nhân từ đó đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì cơ quan tiễn hành tố tụng dựa trên kết luận giám định của Hội đồng giám định pháp y, nội dung kết luận sẽ đưa ra tỷ lệ tốn thương, cơ chế hình thành vét thương, vật tác động.
Mỗi quan hệ nhân — quả giữa hành vi có ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và hậu quả là mức độ thương tích là dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm thé hiện quan hệ nguyên nhân — kết quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả của tội phạm, trong đó hành vi có trước và gây ra hậu quả, hậu quả sinh ra bởi hành vi. Như vậy, trong cấu thành tội phạm vật chất, mối quan hệ về nhân, quả là dấu hiệu cấu thành bắt buộc. Tuy nhiên, đối với tội phạm có cấu thành hình thức thì hậu quả không phải là một dấu hiệu của cấu thành tội phạm nên không cần xác định mối hệ nhân — quả, điển hình như tại khoản 6 Điều 134 BLHS 2015 quy định chỉ cần chuẩn bị vũ khí, hung khí,. mục đích dé gây thương tích cho người khác đã đủ yếu tố cau thành tội phạm chứ không cần hậu quả xảy ra.
Ngoài ra, khi xem xét mặt khách quan của loại tội phạm này, việc xem xét, đánh giá toàn diện các yếu tố liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là cần thiết như: thời gian và địa điểm đã thực hiện hành vi, công cụ (dao, gạch, gậy, mũi tên,.), phương tiện (xe máy, ô tô, xe đạp dùng dé di chuyên, điện thoại dùng dé liên lạc,.