CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE TOI VI PHAM QUY ĐỊNH VE KHAI THAC, BAO VE RUNG VA LAM SAN THEO QUY DINH CUA LUAT HÌNH SỰ 1. Khái niệm tội vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản 1. Khái niệm rừng Định nghĩa về rừng cũng đa dạng như sự đa dạng về chủng loại, thành phần loài, sản phẩm và dịch vụ mà nó cung cấp, v. Các loại rừng rất khác nhau, được xác định bởi các yếu tố bao gồm vĩ độ, nhiệt độ, chế độ mưa, thành phần đất và hoạt động của con người [30, tr.
Làm thế nào một khu rừng được xác định cũng phụ thuộc vào người định nghĩa. Theo các quan điểm của các nhà khoa học: Theo Morozov thì: Rừng là một tổng thể các loài cây thân gỗ có mối liên hệ lẫn nhau và chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất cũng như trong khí quyên. Rừng bao phủ phần lớn bề mặt trái đất, tạo nên cảnh quan địa lý. Tcachenco thì: Rừng phản ánh sự thay đổi, phát triển của thiên nhiên.
Rừng là toàn bộ các cây thân gỗ, cây bụi, cây cỏ, các loài động vật và vi sinh vật sinh sống trong cùng một khu vực địa lý. Tổng thể này có mối quan hệ sinh học trong quá trình phát triển, chúng ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng hoàn cảnh bên ngoài. Theo nhà khoa học I. Mê-lê-khôp thì: rừng tự nhiên hình thành rất phức tạp, rừng là một phần không thẻ thiếu của sinh quyên địa cầu [30, tr.
Căn cứ theo nguồn gốc hình thành, rừng gồm rừng có sẵn trong tự nhiên và rừng con người trồng: Rừng tự nhiên là rừng có trong tự nhiên từ lâu đời hoặc là các khu rừng đã bị khai thác nhưng cây cối tự mọc lại một cách tự nhiên hoặc một phân rừng là cây côi tự mọc lại và con người có trông bô sung một phần. Rừng trồng là rừng có được do con người trồng, bao gồm rừng được con người trồng mới trên đất chưa có rừng trước đó; rừng được trồng lại sau khi con người khai thác rừng trồng đã có trước đó; rừng tái sinh sau khi bị con người khai thác rừng trồng. Theo quan điểm của các quốc gia trên thế giới Châu Âu: Mỗi quốc gia trong Liên minh Châu Âu có định nghĩa riêng về rừng và Ủy ban Châu Âu đã xác định đất lâm nghiệp có ít nhất 20% tán cây (10% đối với các khu rừng Địa Trung Hai) và diện tích tối thiểu 0,5 ha. Liên bang Nga: Rừng bao gồm các vùng đất được bao phủ bởi các loài cây có trữ lượng tương đối 0,4 trở lên và các nhóm tuôi khác có trữ lượng tương đối 0,3 trở lên; diện tích khai thác, diện tích bị cháy và đất rừng khác đang trong quá trình tái sinh tự nhiên và trên đó số lượng và chất lượng của cây non được tái sinh hoặc bảo tồn tự nhiên trong quá trình thu hoạch không thấp hơn so với yêu cầu của hướng dan sử dung để chuyên nhượng các khu vực đó vào diện tích rừng; được bao phủ bởi cây bụi ở các vùng lãnh thé, trên đó các khu rừng cao không thể phát triển do điều kiện khí hậu tự nhiên [34].
Brazil: Rừng được định nghĩa là diện tích đất rộng hơn 1 ha, với độ che phủ hơn 30% và chiều cao cây tối thiểu 5 mét. Hoa Kỳ: Đất lâm nghiệp, theo định nghĩa của Cơ quan Lâm nghiệp Hoa Kỳ, bao gồm đất ít nhất 10 % trong số đó được trồng bởi các cây có kích thước bất kỳ, hoặc đất trước đây có lớp phủ như vậy sẽ được tái sinh tự nhiên hoặc nhân tạo. Dat rừng bao gồm các khu vực chuyên tiếp như các khu vực giữa đất rừng bị tàn phá nặng nề và không có rừng, có ít nhất 10% trữ lượng cây rừng và các khu vực rừng liền kề với đất đô thị và đất xây dung [35]. Canada: Đất rừng - các khu vực đất đai nơi tán cây chiếm hơn 10% tổng diện tích và cây khi trưởng thành có thê phát triển đến độ cao hơn 5 mét.
Không bao gồm đất đô thị hoặc đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp. ii) Nói chung, một hệ sinh thái được đặc trưng bởi độ che phủ của cây nhiều hay ít và dày đặc. Đặc biệt hơn, một quần xã thực vật chủ yếu là cây và các thảm thực vật gỗ khác, phát triển ít nhiều gần nhau. Trung Quốc: Rừng có nghĩa là vùng đất có điện tích tối thiêu 0,67 ha., tối thiêu tỷ lệ che phủ bao gồm 20% và chiều cao cây tối thiêu đạt 2m.
Nam Phi: Đất rừng là bất kỳ vùng đất nào được bao phủ bởi cây cối hoặc được quy định trong bất kỳ luật pháp nào, hoặc kế hoạch lâm nghiệp quốc gia hoặc địa phương, hoặc kế hoạch sử dụng đất làm đất rừng hoặc làm đất trồng rừng hoặc trồng rừng. Úc: Rừng là một vùng đất, kết hợp tat cả các thành phần sống và không sống, bị chi phối bởi cây thường có một thân và chiều cao cây đứng trưởng thành hoặc có khả năng trưởng thành vượt quá 2 mét, và với tầng phủ hiện tại hoặc tiềm năng của tầng tầng lớp phủ quá mức tương đương hoặc lớn hơn 20%. Định nghĩa này bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng và các khu vực của cây đôi khi được mô tả là rừng. Ở Việt Nam, khái niệm rừng được quy định trong các văn bản pháp luật Khái niệm rừng được sử dụng thông dụng hiện nay được phát triển từ định nghĩa về rừng được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 (có hiệu lực ké từ ngày 01 tháng 4 năm 2005 và hết hiệu lực kê từ ngày 01 tháng 01 năm 2019).
Theo Điều này thì rừng được hiểu là một hệ sinh thái hoàn chỉnh bao gồm cây gỗ, cây hoa, cây cỏ, đương xỉ, rêu, động vật, vi sinh vật sinh song trén dat rung va cac yếu tố môi trường khác. Ở rung Việt Nam thi cây thân 20, cây tre, cây nứa hoặc hệ thực vat ban dia là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Việt Nam phân loại rừng thành hai loại: rừng trồng và rừng tự nhiên. Đất rừng thì được chia đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.
Đề thuận tiện cho việc khai thác, bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật Việt Nam đã xác định và phân loại rừng bằng thông tư số 34/2009/TT- BNNPTNT. Theo đó, một khu đất có cây cối được xác định là rừng khi đáp ứng được cả 03 tiêu chí: Một là: rừng là một hệ thống sinh thái hoàn chỉnh, trong đó thành phần bắt buộc để xác định có phải là rừng không là các loài cây thân gỗ lâu năm, cây họ cau, cây họ dừa, những cây này phải có chiều cao nhất của ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre nứa,. Tuy vậy, không phải khu đất nào có các loài cây trên đều được coi là rừng mà chúng còn phải có khả năng bảo vệ môi trường, bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái, bảo vệ môi trường sống và bảo vệ cảnh quan. Ngoài ra, chức năng quan trọng nhất của rừng là cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ.
Đối với các khu rừng mới trồng và các khu rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng thì phải có mật độ cây cối từ 1.000 cây/ha trở lên và cây gỗ mọc tại đây phải có chiều cao trung bình trên 1,5 m đối với loài cây sinh trưởng chậm, trên 3,0 m đối với loài cây sinh trưởng nhanh. Đối với những khu đất mọc rải rác một số cây lâu năm nhưng mục đích của khu đất là nuôi trồng thủy sản, trồng cây nông nghiệp thì không được coi là rừng. Mức độ che kín của tán cây của các loài cây chính của khu rừng theo phương thăng đứng trên một đơn vị diện tích phải từ 0,1 trở lên. Diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là đải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên.
Cây rừng trên các diện tích tập trung dưới 0,5 ha hoặc dải rừng hẹp dưới 20 mét được gọi là cây phân tán. Tuy nhiên, các định nghĩa hiện nay và định nghĩa được học viên sử dụng trong luận văn này lấy theo Luật Lâm nghiệp (2017) 10 Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nam, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân go, tre, nứa, cây ho cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên [20, Điều 2]. Khai niệm lâm san Lâm sản là từ Hán Việt, chỉ các sản phẩm mà con người khai thác được từ rừng và từ hoạt động lâm nghiệp. Lâm có nghĩa là của rừng, trong khi sản nhắc đến sản phẩm được tìm kiếm từ rừng.
Ví dụ như các loại 26, cac loai nam, than cây, lá cây dé làm thuốc. Lam sản được sử dụng trực tiếp trong đời sống hàng ngày hoặc làm hàng hóa mua bán trong lĩnh vực thương mai [32]. Khái niệm về lâm sản theo Luật Lâm nghiệp 2017: Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng bao gom thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác gồm cả go, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm số, song, mây, tre, nứa đã chế biến [20, Điều 2, Khoản 16]. Lâm sản được dé cập tới trong Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015 là gỗ, các loài cây khai thác từ rừng, đặc biệt là các chủng loại cây được liệt kê trong Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiém nhóm IIA và Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA ban hành kèm Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 10/03/2019).
Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, ngoài các loài thực vật bản địa, các cánh rừng vẫn giữ được nguyên vẹn một số thực vật cô xưa, mang tính đặc hữu của Đắk Lắk nói riêng và của Tây Nguyên nói chung. Các sản phẩm khai thác được trên thực tế rất đa dạng, ví dụ như: dược liệu, gỗ. Trong đó gỗ là lâm sản được nhiêu người ưa chuộng. Go có tính ứng dung cao trong cuộc sông 11 hang này, cũng là nguồn nguyên liệu phổ biến trong ngành công nghiệp chế biến.