Tổng quan luận án

Công trình khoa học "Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự liên quan đến nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam" là luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Trâm, chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự (mã số 9.04), được thực hiện tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh và hoàn thành năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Văn kiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nhiệm vụ trọng tâm: "Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước… Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội". Để phục vụ mục tiêu này, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự là yêu cầu tất yếu.

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy tình hình diễn biến phức tạp: một người có thể thực hiện nhiều tội phạm khác nhau hoặc lặp đi lặp lại một hành vi với thủ đoạn tinh vi, xâm hại nhiều khách thể được luật hình sự bảo vệ. Điều này đòi hỏi Tòa án khi quyết định hình phạt (QĐHP) phải phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS) chuẩn xác giữa trường hợp phạm một tội một lần với trường hợp phạm một tội nhiều lần hoặc phạm nhiều tội.

Về mặt lý luận, dù các thuật ngữ như "phạm nhiều tội", "phạm tội nhiều lần" ("phạm tội 02 lần trở lên"), "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp", "tái phạm", "tái phạm nguy hiểm" đã xuất hiện từ Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985, BLHS năm 1999 đến BLHS năm 2015, chế định "nhiều tội phạm" vẫn chưa được quy định thành một chế định độc lập trong Phần chung. Khoảng trống này dẫn đến sự thiếu thống nhất về lý luận và gây lúng túng trong thực tiễn xét xử, làm ảnh hưởng đến nguyên tắc công bằng của pháp luật hình sự.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam; chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong BLHS năm 2015 và trong thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp bảo đảm áp dụng.

Luận án xác định 05 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về nhiều tội phạm và các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm.
  2. Nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm.
  3. Nghiên cứu tham khảo quy định của pháp luật hình sự một số nước về các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm.
  4. Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm.
  5. Đưa ra một số đề xuất hoàn thiện và giải pháp bảo đảm áp dụng quy định về các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu trung tâm của luận án: "Lý luận, luật thực định và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm có những hạn chế gì và cần hoàn thiện như thế nào?"

Để trả lời câu hỏi trung tâm, tác giả triển khai 07 câu hỏi nghiên cứu thành phần:

  1. Khái niệm nhiều tội phạm được hiểu như thế nào? Đặc điểm, hình thức của nhiều tội phạm là gì?
  2. Các tình tiết tăng nặng TNHS được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam dựa trên cơ sở lý luận như thế nào?
  3. Từ các vấn đề lý luận về nhiều tội phạm và các tình tiết tăng nặng TNHS thì các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm được hiểu như thế nào? Đặc điểm, vai trò và các nguyên tắc áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm?
  4. Luật hình sự Việt Nam hiện nay quy định như thế nào về nhiều tội phạm?
  5. Luật hình sự Việt Nam hiện nay quy định như thế nào về mối quan hệ giữa vấn đề nhiều tội phạm với việc xác định TNHS trong Phần chung và Phần các tội phạm cụ thể của BLHS?
  6. Thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam có những vướng mắc, bất cập gì?
  7. Cần sửa đổi, bổ sung các quy định thuộc Phần chung và Phần các tội phạm cụ thể của BLHS năm 2015 như thế nào về vấn đề xác định TNHS liên quan đến nhiều tội phạm?

Giả thuyết nghiên cứu chung: "Lý luận về các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm chưa được quan tâm nghiên cứu một cách toàn diện. Một số quy định của BLHS năm 2015 về các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm không còn phù hợp với cơ sở lý luận về các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm và yêu cầu của thực tiễn nên cần phải được sửa đổi, bổ sung".

Hệ thống 06 giả thuyết nghiên cứu nhánh gồm:

  1. Lý luận về nhiều tội phạm trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam còn hạn chế và tồn tại nhiều quan điểm chưa thống nhất.
  2. Lý luận về các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm (khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc áp dụng) chưa được nghiên cứu thỏa đáng.
  3. Các hình thức biểu hiện của nhiều tội phạm đã được quy định từ BLHS năm 1985 nhưng chế định nhiều tội phạm chưa được ghi nhận chính thức và hoàn thiện.
  4. Việc quy định các tình tiết này với ba vai trò khác nhau (tăng nặng chung, định khung, định tội) còn thiếu tính đồng bộ, chưa thống nhất giữa các nhóm tội trong Phần các tội phạm cụ thể của BLHS năm 2015.
  5. Thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm tại Tòa án các cấp không đồng nhất về nội dung và vai trò của từng tình tiết.
  6. Cần sửa đổi, bổ sung cả Phần chung lẫn Phần các tội phạm cụ thể của BLHS năm 2015 và xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm và thực tiễn áp dụng các tình tiết này tại Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận nghiên cứu các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm dưới 03 vai trò pháp lý: (1) là dấu hiệu định tội; (2) là dấu hiệu định khung hình phạt; (3) là các tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015. Phạm vi tập trung vào 04 tình tiết cụ thể: phạm nhiều tội, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội 02 lần trở lên và các trường hợp tái phạm tội (tái phạm, tái phạm nguy hiểm).
  • Phạm vi không gian: Toàn quốc.
  • Phạm vi thời gian khảo sát thực tiễn: Từ năm 2016 đến tháng 06/2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án đã tổng quan toàn diện tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, chia thành hai nhóm vấn đề chính:

1. Nhóm các công trình nghiên cứu về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

  • Tài liệu nước ngoài:
    • Luận án tiến sĩ của Донец Сергей Петрович (Dones Sergey Petrovich, 2003) nghiên cứu bản chất pháp lý, phân loại các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trong luật hình sự Liên bang Nga.
    • Luận án tiến sĩ của Мясников Олег Алексеевич (Myasnikov Oleg Alekseyevich, 2003) về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng hình phạt trong luật hình sự Nga.
    • Các công trình nghiên cứu tác động của tình tiết tăng nặng trong định lượng hình phạt: Joanna Amirault và Eric Beauregard (2014) về tội phạm tình dục tại Canada; Stacy Barrett (CriminalDefenseLawyer); Jeffrey L. Kirchmeier (1998) và Richard A. Rosen (2015) nghiên cứu tình tiết tăng nặng trong các vụ án áp dụng hình phạt tử hình tại Mỹ; William R. Pruitt (2014) khảo sát thực tiễn áp dụng tại Tòa án Hình sự Quốc tế Rwanda (ICTR).
  • Tài liệu trong nước:
    • Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần Chung) của Trường Đại học Luật Hà Nội (GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, 2012, 2017), Trường Đại học Luật TP.HCM (TS. Trần Thị Quang Vinh chủ biên, 2012), Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội (PGS.TSKH. Lê Cảm chủ biên, 2007), Trung tâm Đào tạo từ xa - Đại học Huế (PGS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, 2002, 2009).
    • Sách chuyên khảo và đề tài của Đinh Văn Quế (2000, 2009); Trường Đại học Luật Hà Nội (2001); Uông Chu Lưu chủ biên (2008).
    • Các luận án, luận văn: Luận án tiến sĩ của Phan Thị Thu Lê (2019); Luận án tiến sĩ của Võ Khánh Vinh (1994); Luận văn thạc sĩ của Vũ Văn Phong (2006), Trần Thành Nam (2017), Trần Mạnh Toàn (2011), Bùi Công Bằng (2020), Tạ Thị Ngân (2012), Nguyễn Thị Thanh Thủy (2004).
    • Các bài viết tạp chí: Bùi Kiến Quốc (2000), Phạm Hồng Hải (2001), Dương Tuyết Miên (2003), Trịnh Tiến Việt (2004), Nguyễn Hải Dũng (2005).

2. Nhóm các công trình nghiên cứu về chế định nhiều tội phạm

  • Tài liệu nước ngoài:
    • Luận án tiến sĩ của Dosaeva Glera Suleimanovna (2017) về chế định nhiều tội phạm tại Liên bang Nga.
    • Công trình của A. Shnitenkov (2014) về phạm nhiều tội và tổng hợp hình phạt.
    • Sách chuyên khảo của Jesper Ryberg (2017) bàn về kết án trong trường hợp có nhiều tội phạm; A. Gurov (1990) về phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; Michael D. Maltz (2001) và Richard M. Ariessohn (1981) về tái phạm; các giáo trình tội phạm học của A. Zelinskiy (2000), A. Dolgovaya (1999); nghiên cứu của Oirat Nurashovich Rakhimberlin (2015), R. Scott (2018), Tomas Girdenis (2009).
  • Tài liệu trong nước:
    • Sách chuyên khảo của Lê Văn Đệ (2003) về chế định nhiều tội phạm; Lê Cảm (2005) về đa tội phạm; Võ Khánh Vinh (2013) về định tội danh trong trường hợp nhiều tội phạm; Nguyễn Xuân Yêm (2001) về phòng ngừa tái phạm.
    • Các luận văn thạc sĩ: Lê Thị Thúy (2015), Đào Thị Kiều Vân (2007), Nguyễn Thị Bảo Tâm (2012), Cao Thị Oanh (2008), Nguyễn Trung Thành (2002).
    • Các bài viết tạp chí: Lê Cảm (2001), Nguyễn Ngọc Hòa (2001), Hoàng Quảng Lực (2019), Nông Trường Sinh (2007), Phạm Ngọc Thiệu (2007), Vũ Thành Long (2006).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy 04 khoảng trống nghiên cứu lớn mà các công trình trước đây chưa giải quyết trọn vẹn:

  1. Các công trình nghiên cứu trong nước trước đây hầu như chỉ tiếp cận tình tiết tăng nặng TNHS dưới vai trò là tình tiết tăng nặng chung trong một khung hình phạt (quy định tại Điều 48 BLHS năm 1999 hoặc Điều 52 BLHS năm 2015), chưa phân tích có hệ thống vai trò của chúng là dấu hiệu định tội hoặc dấu hiệu định khung hình phạt trong Phần các tội phạm cụ thể.
  2. Chưa có công trình nào kết hợp nghiên cứu một cách tổng thể, hữu cơ giữa nền tảng lý luận về chế định nhiều tội phạm với lý luận về việc xác định TNHS và các tình tiết tăng nặng TNHS.
  3. Các nghiên cứu trước đây chưa lý giải thấu đáo cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nhà làm luật chuyển hóa một tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm thành dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt trong từng nhóm tội phạm cụ thể.
  4. Chưa có công trình nào khảo sát thực tiễn xét xử trên diện rộng quy mô toàn quốc (giai đoạn 2016 đến tháng 06/2022) chuyên biệt về nhóm tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm để chỉ ra những bất cập, sai sót trong áp dụng pháp luật và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện đồng bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ sở phương pháp luận: Phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chiến lược cải cách tư pháp.
  • Hệ thống lý thuyết chuyên ngành: Các học thuyết về tội phạm, cấu thành tội phạm (CTTP), lý luận định tội danh, lý luận về TNHS, nguyên tắc phân hóa TNHS và nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt của luật hình sự Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý đặc thù:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết luật học: Hệ thống hóa, phân tích, kế thừa các công trình nghiên cứu đã công bố để xây dựng các khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc lý luận.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh các quy định pháp luật hình sự Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử (từ 1945 đến trước 1985, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, BLHS năm 2015) nhằm đánh giá tính kế thừa và phát triển; so sánh với pháp luật hình sự một số quốc gia để rút ra kinh nghiệm hoàn thiện.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS từ 500 bản án hình sự giai đoạn 2016 - 06/2022 trên toàn quốc.
  • Phương pháp nghiên cứu án điển hình: Mổ xẻ, phân tích các bản án hình sự cụ thể có vướng mắc, sai sót trong thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp logic: Được sử dụng xuyên suốt để liên kết các luận điểm từ chi tiết đến khái quát.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu

  • Văn bản pháp luật: Các sắc lệnh, sắc luật từ năm 1945; BLHS các năm 1985, 1999 (sửa đổi 2009), 2015 (sửa đổi 2017); Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); các văn bản hướng dẫn áp dụng của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP...).
  • Hệ thống dữ liệu thực chứng (8 phụ lục và 4 biểu đồ):
Danh mục phụ lục Nội dung thống kê / Khảo sát
Phụ lục 01 Thống kê số lượng điều luật quy định tình tiết phạm tội nhiều lần, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, tái phạm nguy hiểm là dấu hiệu định khung trong BLHS năm 1985.
Phụ lục 02 Thống kê số lượng điều luật quy định các tình tiết trên là dấu hiệu định khung trong BLHS năm 1999.
Phụ lục 03 Thống kê số lượng điều luật quy định các tình tiết trên là dấu hiệu định khung trong BLHS năm 2015.
Phụ lục 04 Thống kê các điều luật quy định dấu hiệu "đã bị kết án về tội này… chưa được xóa án tích mà còn vi phạm" là dấu hiệu định tội trong BLHS các năm 1985, 1999 và 2015.
Phụ lục 05 & 06 Thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS trong 500 bản án hình sự từ năm 2016 đến tháng 06/2022 trên phạm vi cả nước.
Phụ lục 07 Tổng hợp 500 bản án hình sự áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều 48 BLHS năm 1999 và Điều 52 BLHS năm 2015 từ 2016 đến 06/2022.
Phụ lục 08 Tổng hợp 200 bản án hình sự áp dụng chuyên sâu các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm từ 2016 đến 06/2022.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về nhiều tội phạm và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự liên quan đến nhiều tội phạm

Chương 1 xây dựng hệ thống khái niệm, đặc điểm bản chất và các hình thức biểu hiện của nhiều tội phạm, làm tiền đề lý luận cho việc nghiên cứu các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan:

  1. Khái niệm và đặc điểm nhiều tội phạm:

    • Tác giả phân tích quan điểm của các học giả như Võ Khánh Vinh, Tomas Girdenis, A. Shnitenkov... và chỉ ra rằng người phạm nhiều tội gây ra mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn, thể hiện nhân thân xấu hơn so với người phạm một tội một lần.
    • Luận án phân tích mối liên hệ chặt chẽ giữa nhiều tội phạm và việc cá thể hóa TNHS, phân biệt nhiều tội phạm với các cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan (tội kéo dài, tội liên tục, tội ghép).
  2. Các hình thức biểu hiện cụ thể của nhiều tội phạm:

    • Phạm nhiều tội: Tác giả định nghĩa: "Phạm nhiều tội là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm của hai tội phạm trở lên được quy định trong Bộ luật hình sự và được đưa ra xét xử cùng một lần trong một vụ án". Đặc điểm cốt lõi là các hành vi thỏa mãn từ hai CTTP độc lập trở lên (có thể nằm ở các điều luật khác nhau hoặc trong cùng một điều luật có nhiều tội danh, ví dụ Điều 304 BLHS năm 2015), các tội phạm này chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS, chưa từng bị kết án và được đưa ra xét xử đồng thời trong một vụ án.
    • Phạm tội nhiều lần (Phạm tội 02 lần trở lên): Tác giả đưa ra khái niệm: "Phạm tội nhiều lần là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội hai lần trở lên cùng một loại tội, trong đó mỗi hành vi đều đã có đủ yếu tố CTTP, chưa bị truy cứu TNHS, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS và các hành vi phạm tội đó được xét xử trong cùng một lần". Đặc điểm bao gồm: thực hiện hành vi từ 02 lần trở lên; mỗi lần thỏa mãn một CTTP độc lập; các tội phạm phải cùng một loại tội (có thể cùng hoặc khác khung CTTP); tất cả các lần đều chưa bị truy cứu và cùng bị xét xử một lần.
    • Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: Tác giả phản biện quan điểm đòi hỏi cứng nhắc dấu hiệu "nghề sinh sống" hay "nguồn sống chính" trong Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP. Tác giả định nghĩa: "Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp hành vi phạm tội lặp đi lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định, những hành vi phạm tội này chưa được xóa án tích hoặc chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS, cùng xâm hại đến một hoặc nhiều khách thể có cùng tính chất và người phạm tội lấy các lần phạm tội làm nguồn thu nhập cho bản thân". Nguồn thu nhập này có thể là nguồn thu nhập chính hoặc phụ.
    • Tái phạm tội (Tái phạm, tái phạm nguy hiểm): Phân tích quan điểm của Nguyễn Xuân Yêm, Lê Văn Đệ, Michael D. Maltz, R. Scott... Luận án xác định bản chất của tái phạm là người đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thể hiện sự bất chấp sự cảnh báo, giáo dục của pháp luật.
  3. Lý luận về các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm:

    • Xác định khái niệm, đặc điểm và 03 vai trò pháp lý: tình tiết tăng nặng TNHS chung trong một khung hình phạt (khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015), dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng và dấu hiệu định tội trong Phần các tội phạm cụ thể.
    • Xác lập nguyên tắc áp dụng: không áp dụng tình tiết tăng nặng chung nếu tình tiết đó đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung; bảo đảm nguyên tắc công bằng và phân hóa TNHS; làm rõ ý nghĩa chính trị - xã hội và pháp lý.

Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự liên quan đến nhiều tội phạm

Chương 2 tập trung phân tích luật thực định qua lịch sử lập pháp và đánh giá toàn diện các quy định hiện hành của BLHS năm 2015:

  1. Khái quát lịch sử lập pháp:

    • Giai đoạn từ 1945 đến trước năm 1985: Các sắc lệnh, chỉ thị quy định tản mạn về tái phạm, phạm tội nhiều lần.
    • Giai đoạn BLHS năm 1985: Lần đầu tiên pháp điển hóa các tình tiết phạm nhiều tội (Điều 41), phạm tội nhiều lần (điểm h khoản 1 Điều 39), chuyên nghiệp, tái phạm, tái phạm nguy hiểm và đưa vào các điều luật cụ thể (Phụ lục 01, Phụ lục 04).
    • Giai đoạn BLHS năm 1999: Kế thừa và hoàn thiện cơ chế tổng hợp hình phạt (Điều 50), tình tiết tăng nặng chung (Điều 48) và mở rộng phạm vi áp dụng là dấu hiệu định khung (Phụ lục 02).
    • Giai đoạn BLHS năm 2015: Đổi thuật ngữ "phạm tội nhiều lần" thành "phạm tội 02 lần trở lên" (điểm g khoản 1 Điều 52), điều chỉnh kỹ thuật lập pháp tại Điều 55 và các tội danh cụ thể (Phụ lục 03).
  2. Phân tích thực định các tình tiết theo BLHS năm 2015:

    • Phân tích nội dung và cơ chế điều chỉnh của 04 tình tiết: phạm nhiều tội, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
    • Làm rõ tiêu chí phân biệt giữa phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm/tái phạm nguy hiểm để tránh nhầm lẫn trong định tội và định khung.
  3. Những bất cập, hạn chế trong quy định của BLHS năm 2015:

    • Thiếu định nghĩa chính thức về "nhiều tội phạm" và các hình thức biểu hiện ở Phần chung.
    • Chưa có sự thống nhất, đồng bộ giữa các điều luật trong Phần các tội phạm cụ thể khi quy định các tình tiết này là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt.
    • Xung đột, thiếu tương thích giữa các văn bản hướng dẫn áp dụng dưới luật (giữa Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về tiêu chí số lần phạm tội và nguồn thu nhập trong phạm tội chuyên nghiệp).

Chương 3: Thực tiễn và giải pháp bảo đảm áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự liên quan đến nhiều tội phạm

Chương 3 công bố kết quả khảo sát thực tiễn xét xử và đề xuất các giải pháp khả thi:

  1. Kết quả khảo sát thực tiễn áp dụng (giai đoạn 2016 - 06/2022):

    • Khảo sát 500 bản án hình sự áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều 48 BLHS năm 1999 và Điều 52 BLHS năm 2015 trên phạm vi toàn quốc (Phụ lục 05, 06, 07 và Biểu đồ 1).
    • Khảo sát chuyên sâu 200 bản án hình sự áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm (Phụ lục 08, Biểu đồ 2, 3, 4).
    • Đánh giá cơ cấu áp dụng: Tỷ lệ áp dụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm chiếm tỷ lệ cao; thực tiễn áp dụng đồng thời nhiều tình tiết tăng nặng liên quan đến nhiều tội phạm trong cùng một vụ án; phân bổ áp dụng tập trung chủ yếu ở các chương tội phạm xâm phạm sở hữu, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm về ma túy.
  2. Những hạn chế, sai sót trong thực tiễn và nguyên nhân:

    • Hạn chế: Tòa án áp dụng nhầm lẫn giữa tình tiết tăng nặng chung với tình tiết định khung hình phạt (vi phạm nguyên tắc không tăng nặng hai lần); xác định sai tính chất của phạm tội nhiều lần và tái phạm; lúng túng trong việc chứng minh tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp do vướng điều kiện "lấy việc phạm tội làm nghề sinh sống và nguồn sống chính".
    • Nguyên nhân: Do luật thực định chưa quy định rõ ràng; văn bản hướng dẫn thi hành còn thiếu và mâu thuẫn; trình độ, nhận thức của một bộ phận người tiến hành tố tụng chưa đồng đều.
  3. Hệ thống giải pháp hoàn thiện:

    • Nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự:
      • Bổ sung quy định mang tính khái quát về chế định nhiều tội phạm và các hình thức của nó tại Phần chung BLHS năm 2015.
      • Sửa đổi, chuẩn hóa các điều luật tại Phần các tội phạm cụ thể quy định về phạm nhiều tội, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội 02 lần trở lên để bảo đảm tính thống nhất kỹ thuật lập pháp.
      • Rà soát, loại bỏ việc quy định trùng lặp dấu hiệu nhân thân đã bị kết án vừa là dấu hiệu định tội vừa là tình tiết tăng nặng.
    • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng:
      • Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm thay thế các hướng dẫn cũ.
      • Phát triển án lệ hướng dẫn áp dụng đối với các trường hợp phức tạp.
      • Tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 05 đóng góp mới cơ bản về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Tính tổng thể và toàn diện: Là công trình đầu tiên ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện và có hệ thống về nhóm các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam.
  2. Xây dựng hệ thống lý luận: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về chế định nhiều tội phạm (khái niệm, đặc điểm, hình thức biểu hiện) và lý luận về các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm (khái niệm, đặc trưng pháp lý, các nguyên tắc áp dụng khi quyết định hình phạt).
  3. Làm rõ 03 vai trò pháp lý: Phân tích toàn diện và có hệ thống vai trò của các tình tiết này trong cả Phần chung và Phần các tội phạm cụ thể của BLHS dưới 03 vai trò: tình tiết tăng nặng chung trong một khung hình phạt, dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng và dấu hiệu định tội.
  4. Đánh giá thực trạng thực chứng: Phân tích công phu, khách quan thực trạng áp dụng pháp luật dựa trên mẫu khảo sát 500 bản án chung và 200 bản án chuyên sâu giai đoạn 2016 - 06/2022 trên phạm vi toàn quốc; chỉ rõ các sai sót điển hình và nguyên nhân gốc rễ.
  5. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ: Đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện lập pháp cụ thể cho BLHS năm 2015 và các giải pháp thực thi (ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, phát triển án lệ, đào tạo cán bộ tư pháp).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn trong mốc thời gian từ năm 2016 đến tháng 06/2022; phạm vi nội dung tập trung vào 04 tình tiết (phạm nhiều tội, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm/tái phạm nguy hiểm) mà chưa đi sâu vào tất cả các dạng cấu trúc hành vi khách quan đặc biệt khác có liên quan trong BLHS.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu với hệ thống pháp luật hình sự của các nước theo truyền thống Common Law và Civil Law về kỹ thuật lập pháp đối với chế định nhiều tội phạm; nghiên cứu chuyên biệt về cơ chế tổng hợp hình phạt và phân hóa TNHS đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp trung ương: Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015 và là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Hội đồng Thẩm phán TANDTC trong việc xây dựng Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật hoặc lựa chọn án lệ.
  • Đối với cán bộ tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư): Cung cấp các tiêu chí pháp lý rõ ràng nhằm phân biệt chính xác giữa các tình tiết tăng nặng liên quan đến nhiều tội phạm, tránh nhầm lẫn giữa dấu hiệu định tội, định khung và tình tiết tăng nặng chung khi giải quyết án hình sự.
  • Đối với giảng viên, học viên, nghiên cứu sinh: Là tài liệu chuyên khảo chuyên sâu phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các học phần Luật hình sự Việt Nam (Phần chung và Phần các tội phạm), Lý luận định tội danh và Quyết định hình phạt.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về "phạm nhiều tội" và chỉ ra những đặc điểm cơ bản nào?

Theo luận án: "Phạm nhiều tội là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm của hai tội phạm trở lên được quy định trong Bộ luật hình sự và được đưa ra xét xử cùng một lần trong một vụ án".

Đặc điểm gồm: (1) Thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên hoặc một hành vi thỏa mãn từ hai CTTP độc lập trở lên (nằm ở các điều luật khác nhau hoặc trong cùng một điều luật chứa nhiều tội danh); (2) Các tội phạm này chưa từng bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS và phải cùng được đưa ra xét xử trong một lần.

2. Tác giả có quan điểm như thế nào về dấu hiệu "nguồn sống chính" và "nghề sinh sống" trong tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp"?

Tác giả không đồng tình với việc bắt buộc phải có dấu hiệu "lấy việc phạm tội làm nghề sinh sống và nguồn sống chính" như hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP. Tác giả cho rằng thực tiễn nhiều người có việc làm ổn định nhưng vẫn phạm tội lặp đi lặp lại có kỹ năng nhằm tăng thu nhập. Do đó, chỉ cần xác định hành vi phạm tội lặp đi lặp lại nhiều lần, có sử dụng kỹ năng, thủ đoạn và người phạm tội lấy khoản tiền/lợi ích bất chính đó làm nguồn thu nhập (có thể là nguồn thu chính hoặc phụ) là đủ yếu tố cấu thành tính chất chuyên nghiệp.

3. Dữ liệu thực tiễn được khảo sát trong luận án gồm những gì và được thực hiện trong giai đoạn nào?

Luận án khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật trên phạm vi toàn quốc từ năm 2016 đến tháng 06/2022, bao gồm:

  • Mẫu khảo sát tổng quát: 500 bản án hình sự áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS theo Điều 48 BLHS năm 1999 và Điều 52 BLHS năm 2015 (Phụ lục 05, 06, 07).
  • Mẫu khảo sát chuyên sâu: 200 bản án hình sự áp dụng nhóm tình tiết tăng nặng liên quan đến nhiều tội phạm (Phụ lục 08).
  • Hệ thống dữ liệu thống kê qua 08 Phụ lục và 04 Biểu đồ phân tích.

4. Ba vai trò pháp lý của các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm được luận án xác định là gì?

Luận án chỉ ra 03 vai trò pháp lý khác nhau của nhóm tình tiết này trong BLHS:

  1. Là tình tiết tăng nặng TNHS chung có giá trị trong một khung hình phạt khi Tòa án quyết định hình phạt (quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015).
  2. Là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng trong các tội danh cụ thể tại Phần các tội phạm.
  3. Là dấu hiệu định tội cơ bản trong một số cấu thành tội phạm cụ thể tại Phần các tội phạm.

5. Khái niệm "phạm tội nhiều lần" (phạm tội 02 lần trở lên) được tác giả xác định dựa trên những tiêu chí nào?

Tác giả định nghĩa: "Phạm tội nhiều lần là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội hai lần trở lên cùng một loại tội, trong đó mỗi hành vi đều đã có đủ yếu tố CTTP, chưa bị truy cứu TNHS, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS và các hành vi phạm tội đó được xét xử trong cùng một lần".

Bốn tiêu chí bắt buộc gồm: (1) Thực hiện hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên; (2) Từng lần thực hiện đều thỏa mãn đầy đủ yếu tố của một CTTP độc lập; (3) Các tội phạm được thực hiện phải cùng một loại tội phạm; (4) Tất cả các lần phạm tội chưa bị truy cứu, còn thời hiệu truy cứu TNHS và được đưa ra xét xử đồng thời trong cùng một bản án.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Minh Trâm là công trình nghiên cứu chuyên khảo có tính hệ thống về nhóm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự liên quan đến nhiều tội phạm trong luật hình sự Việt Nam. Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, giải quyết mối quan hệ bản chất giữa chế định nhiều tội phạm với việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự dưới ba vai trò pháp lý khác nhau. Dựa trên dữ liệu thực chứng 500 bản án hình sự giai đoạn 2016 - 06/2022, tác giả đã chỉ ra các hạn chế trong kỹ thuật lập pháp và thực tiễn áp dụng, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện BLHS năm 2015 và các biện pháp bảo đảm áp dụng thống nhất trong hệ thống tư pháp hình sự.