Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Khái niệm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung áp dụng hình phạt tù 1. Khái niệm về áp dụng hình phạt tù Để thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm, Nhà nước ta đã sử dụng đồng thời nhiều biện pháp về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, pháp lý… Trong các biện pháp đó, hình phạt giữ một vai trò rất quan trọng.
Nhà làm luật đã xây dựng một hệ thống hình phạt đa dạng với nội dung cưỡng chế, thuyết phục, giáo dục nặng, nhẹ khác nhau, bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Việc quy định hình phạt tù chung thân trong hệ thống hình phạt của Nhà nước ta tạo ra khả năng phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Hình phạt này giữ vị trí trung chuyển giữa hình phạt tù có thời hạn tối đa là 20 năm và tử hình, làm cho hệ thống hình phạt giữ được tính thống nhất nội tại của nó. Việc áp dụng hình phạt tù được thực hiện sau khi HĐXX định tội danh cho người phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành.
Từ những phân tích trên, luận văn sử dụng khái niệmáp dụng hình phạt tù có thời hạn như sau: Áp dụng hình phạt tù có thời hạn là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự tiếp theo sau khi định tội danh của HĐXX, thể hiện ở việc trên cơ sở hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét xử, xác định các tình tiết cụ thể của vụ án, nhận thức đầy đủ quy định của Bộ luật hình sự hiện hành, HĐXX lựa chọn mức hình phạt tù có thời hạn phù hợp và nghiêm minh để áp 9 luan an dụng đối với người bị kết tội và ra phán quyết trong bản án kết tội về hình phạt tù đó. Đặc điểm áp dụng hình phạt Hình phạt chỉ áp dụng đối với người phạm tội. Quy định này vừa thể hiện trong Điều 26 về khái niệm hình phạt vừa thể hiện tính nguyên tắc cơ sở trách nhiệm hình sự (Điều 2 Bộ luật Hình sự): “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Pháp luật hình sự của Việt Nam chỉ cho phép các cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội (theo quy định của pháp luật), chỉ người nào phạm tội người ấy mới phải chịu trách nhiệm hình sự theo đúng quy định.
Quy định này của pháp luật hình sự Việt Nam thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, một đặc thù của pháp luật Việt Nam, thể hiện mục đích áp dụng hình phạt tù là giáo dục, cải tạo người phạm tội để họ trở thành người lương thiện có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, xử đúng người đúng tội đúng hình phạt. Hình phạt nói chung và hình phạt tù có thời hạn nói riêng được quy định chi tiết trong pháp luật Hình sự, do Tòa án nhân dân nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người phạm tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất nên Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự đều khẳng định Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử và quyết định hình phạt với người phạm tội theo trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, chính xác, khách quan, bảo đảm không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của 10 luan an Tòa án. Theo quy định của pháp luật nước ta, chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử và ra bản án hình sự áp dụng hình phạt. Quy định này còn thể hiện sự thống nhất giữa tội phạm và hình phạt. Tội phạm là cơ sở phải chịu hình phạt, ngược lại hình phạt là hậu quả pháp lý của tội phạm nhằm trừng trị vào giáo dục người phạm tội, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm.
Áp dụng hình phạt mang tính tuỳ nghi, lựa chọn rất cao. Bởi vì, trong các quy định của BLHS, nhất là chế tài các quy phạm pháp luật, mang tính tuỳ nghi và lựa chọn. Khi áp dụng hình phạt, để thực hiện nguyên tắc cá thể hoá hình phạt, HĐXX thực hiện áp dụng một biện pháp trách nhiệm hình sự, một hình phạt cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội trong phạm vi chế tài quy định đó. Nội dung áp dụng hình phạt Xác định nhân thân người bị kết tội: Để quyết định hình phạt đúng một trong những đòi hỏi quan trọng là phải làm rõ những đặc điểm về nhân thân người phạm tội.
Ví dụ: Khi xem xét nhân thân người phạm tội của X cho thấy X tuy chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nhưng luôn có hành vi gây rối trật tự công cộng, không có công ăn việc làm, lêu lổng.Khi xem xét nhân thân người phạm tội của Y cho thấy Y cũng chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nhưng không có bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào, có công ăn, việc làm ổn định. Cân nhắc nhân thân người phạm tội của X và của Y cho thấy nhân thân của X xấu hơn nhân thân của Y; do đó, việc quyết định hình phạt đối với X phải nặng hơn đối với Y, nếu các tình tiết khác của vụ án như nhau. 11 luan an Xác định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cần hiểu đúng, đủ nội dung của các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự. Hiểu đúng là xác định đúng nội dung mà nhà làm luật quy định tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ đó như thế nào.
Ví dụ: Tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” thì phải hiểu thế nào là phạm tội lần đầu và thế nào là thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hiểu tính chất, mức độ tăng nặng, giảm nhẹ khác nhau là phải xác định trong mỗi tình tiết đó thì trường hợp nào nghiêm trọng hơn trường hợp nào. Ví dụ: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” thì phải xác định tỷ lệ tiền bồi thường so với tổng số tiền thiệt hại mà người phạm tội gây ra, để xem mức độ giảm nhẹ nhiều hay ít. Hiểu đủ là xác định đủ số lượng các tình tiết được quy định tại mỗi điểm của Điều 51, 52 BLHS năm 2015 mà nhà làm luật đã quy định bao nhiêu tình tiết? Ví dụ: Điểm r nhà làm luật quy định một tình tiết giảm nhẹ nhưng điểm a khoản 1 Điều 51 nhà làm luật quy định hai tình tiết giảm nhẹ chứ không phải một hoặc điểm a khoản 1 Điều 52 nhà làm luật quy định một tình tiết tăng nặng nhưng điểm l khoản 1 Điều 52 nhà làm luật quy định đến 5 tình tiết tăng nặng chứ không phải chỉ có một tình tiết.
Ví dụ: Một người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới là thuộc trường hợp phạm tội quy định tại điểm d khoản 2 Điều 189 BLHS năm 2015. Tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” trong trường hợp phạm tội cụ thể này đã là dấu hiệu định khung hình phạt, nên khi quyết định hình phạt, Tòa án không được áp dụng tình tiết này là tình tiết tăng nặng đối với bị cáo nữa.Các tình tiết là dấu hiệu định khung hình phạt thực chất là dấu hiệu cấu thành tội phạm, nhưng nó là dấu hiệu của cấu thành khác loại (cấu thành tăng nặng hoặc cấu thành giảm nhẹ). 12 luan an Ví dụ, khoản 1 Điều 173 BLHS (Tội trộm cắp tài sản) là cấu thành cơ bản có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm và là tội phạm ít nghiêm trọng. Nhưng nếu người phạm tội lại có hành vi hành hung để tẩu thoát thì thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS là cấu thành tăng nặng, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm và là tội nghiêm trọng.
Ví dụ, khoản 1 Điều 119 (Tội chống phá cơ sở giam giữ) là cấu thành cơ bản có khung hình phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Nhưng nếu người phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 119 là cấu thành giảm nhẹ, có khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm tù. Tuy nhiên, không phải điều luật nào cũng bao gồm cả cấu thành tăng nặng hoặc cấu thành giảm nhẹ, mà tùy thuộc vào mỗi tội phạm và chính sách hình sự của nhà nước trong việc xử lý từng loại tội phạm. Đa số các tội quy định trong BLHS có cấu thành tăng nặng, chỉ có một số tội có cấu thành giảm nhẹ (chủ yếu là các tội xâm phạm an ninh quốc gia).
Về cấu thành tội phạm, khoa học luật hình sự chia ra làm ba loại: Cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng và cấu thành giảm nhẹ.Điều luật quy định khung hình phạt có mức tối thiểu và tối đa tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của từng tội phạm. Khi đã xác định bị cáo phạm tội ở khung hình phạt nào, dù có nhiều tình tiết tăng nặng thì họ cũng không bị xử phạt quá mức cao nhất của khung hình phạt đó.2 Áp dụng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội Ở Việt Nam, quy định về độ tuổi của trẻ em thấp hơn so với Công ước. Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”.
Luật Trẻ em năm 2016 thay thế cho Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 13 luan an 2004 cũng quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” (Điều 1).