Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về thi hành các hình phạt chính không tước tự do Chương 2: Thực tiễn thi hành các hình phạt chính không tước tự do trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành các hình phạt chính không tước tự do trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. 10 CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHAP LUAT THI HANH CAC HÌNH PHẠT CHÍNH KHONG TƯỚC TỰ DO THEO LUAT THI HANH AN HINH SU. Những van đề lý luận về thi hành các hình phạt chính không tước tự do 1.1 Khai niệm thi hành các hình phạt chính không tước tự do. Hệ thống hình phạt được hình thành từ hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trong đó có hình phạt đối với người phạm tội và hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.
Hình phạt chính đối với người phạm tội bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. Các hình phạt chính này có thé được phân thành các hình phạt không tước tự do (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất) và các hình phạt tước tự do (tù có thời hạn, tù chung thân) và hình phạt đặc biệt (tử hình). Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội bao gồm: Cắm đảm nhiệm chức vụ, cắm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cắm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền và trục xuất. Khái niệm hình phạt chính không tước tự do không phải là khái niệm pháp lý (Không có trong bộ luật hình sự) mà là khái niệm khoa học để chỉ các hình phạt không phải là hình phạt tước tự do (nhẹ hơn hình phạt tù).
Hình phạt không tước tự do có tính cưỡng chế thấp hơn so với các hình phạt tước tự do (tù có thời han, tù chung thần). Đối với hình phạt khổng tước tự do, người phạm tdi khóng bị cách ly khỏi xã hdi, khóng bi áp đặt chế độ giam giữ, lao đóng, sinh hoạt, kỷ luật khắt khe, trong quá trình cải tạo người phạm tội khong phải chịu sự quan lý, giám sát chặt chẽ như khi bị áp dụng hình phat tù. Người bi áp dụng hình phat khong tước tự do khổng bị cách ly khỏi xã hdi. Khi thi hành án, người bị kết án được giáo dục, cải tạo trong mới trường xã 11 hội nơi người đó sinh sống, làm việc, học tập.
Ho tự cải tao với sự giám sát, giúp đỡ, giáo duc của gia đình, chính quyền địa phương, tô chức xã hội và cơ quan Nhà nước được giao.[45] Hoạt động thi hành án hình sự đối với các hình phạt không tước tự do có những đặc điểm riêng. Sự khác biệt này xuất phát từ đặc thù của từng loại hình phạt và mục đích, đối tượng áp dụng. Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội, họ thi hành án trong môi trường sống như những công dân khác. Tuy nhiên, họ vẫn phải chịu sự giám sát của cơ quan, t6 chức hoặc chính quyền địa phương nơi họ làm việc hoặc sinh sống.
Môi trường không giam giữ sẽ có những đặc thù riêng và mỗi hình phạt không tước tự do lại có thêm những đặc thù riêng. Như vậy, có thể nêu một cách khái quát định nghĩa về khái niệm thi hành các hình phạt không tước tự do như sau: “Thi hành các hình phạt chính không tước tự do là hoạt động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tổ chức cho người chấp hành án chấp hành các hình phạt chính không tước tự do mà Tòa án đã tuyên trong các ban an đã có hiệu lực pháp luật nhằm đạt được các mục đích của hình phạt”.2 Đặc điểm của thi hành các hình phạt chính không tước tự do Thi hành hình phạt thực chất là hoạt động quản lý hành chính - tư pháp hình sự. Tính chất hành chính - tư pháp phản ánh mối quan hệ giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong thi hành án hình sự và thi hành án hình sự là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử. Với tính chất là một hoạt động chấp hành, căn cứ đề thi hành án hình sự chính là các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp ly [51,tr.
Toàn bộ quá trình thi hành án hình sự với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều tuân theo trình tự, 12 thủ tục do pháp luật quy định nhằm thực hiện nội dung quyết định của ban án, quyết định của Tòa án. Thi hành các hình phạt chính không tước tự do cũng là hoạt động thi hành án hình sự nên có những đặc điểm chung của thi hành án hình sự thể hiện ở những đặc điểm sau: Thứ nhất, thi hành án hình sự là một dạng hoạt động của Nhà nước, nhằm thực hiện quyền lực Nhà nước, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện, bảo đảm hiệu lực thực tế của các bản án, quyết định của Tòa án bằng các biện pháp Nhà nước. Như chúng ta đã biết, một thé chế chính trị - một Nhà nước có 03 loại quyền lực cơ bản: Quyên lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong đó, quyền hành pháp là quyên thi hành pháp luật.
Quyên hành pháp không xuất hiện trong mọi chế độ của xã hội loài người mà nó chỉ xuất hiện khi có sự ra đời của Nhà nước và pháp luật. Ở Việt Nam, một trong những đặc trưng của quyền hành pháp chính là tính chấp hành (tính thi hành pháp luật). Tính chấp hành của hành pháp là khả năng làm cho pháp luật được thực hiện trên thực tế bằng sức mạnh của Nhà nước, hay nói một cách khác là khả năng đưa pháp luật vào đời sống của các cơ quan nam giữ quyên hành pháp. Có thé thay rang thi hành án hình sự chính là một trong những hoạt động mang tính thi hành pháp luật.
Các cơ quan có thâm quyên thi hành án hình sự (được quy định tại Điều 11, Luật Thi hành án hình sự năm 2019) có trách nhiệm thi hành bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan thi hành án có nghĩa vụ phải bảo đảm bản án hình sự được thực thi một cách nghiêm túc. Do vậy, hoạt động thi hành án hình sự mang những đặc điểm tiêu biểu của một hoạt động hành pháp. Tuy nhiên, chủ thể duy nhất có thâm quyền tuyên một bản án hình sự có hiệu lực pháp luật là Tòa án - Cơ quan thực hiện quyền 13 tư pháp, cho nên việc thi hành bản án đó không phải là một hoạt động mang tính hành pháp thông thường, vì chủ thể tuyên án không phải là cơ quan quyền lực Nhà nước.
Thứ hai, thì hành án hình sự được tiến hành theo trật tự, do pháp luật quy định, với những trình tự, thủ tục chặt chẽ. Toàn bộ quá trình thi hành các loại bản án, quyết định và các quan hệ liên quan đến việc thi hành được quy định cụ thé, rõ ràng. Trình tự thủ tục thi hành án hình sự hiện nay đã được quy định cụ thé trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 cùng hệ thống những văn bản hướng dẫn. Thứ ba, căn cứ vào nội dung của thi hành án hình sự chính là quá trình hiện thực hóa các nội dung cụ thể trong các phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Thị hành án hình sự mang tính thực hiện quyền lực Nhà nước bởi lẽ nó thực hiện theo những nội dung quy định trong bản án đã có hiệu lực pháp luật, một văn bản của một cơ quan Nhà nước, là những phán quyết bắt buộc phải thi hành đối với một hoặc một số chủ thể nhất định. Thi hành án hình sự được đảm bảo thực hiện bằng những biện pháp, công cụ của Nhà nước. Trong đó, một đặc điểm quan trọng thê hiện tính quyền lực Nhà nước trong hoạt động thi hành án hình sự, đó là nó có thé sử dung mọi biện pháp, cách thức dé bắt người bị kết án phải phục tùng, trong đó có cả biện pháp sử dụng bạo lực có tô chức. Thi hành án hình sự cũng được thực hiện bởi lực lượng có tính chất, nhiệm vụ cưỡng chế chuyên nghiệp — quân đội và cảnh sát.
Thứ tw, thì hành án hình sự mang tinh bắt buộc chấp hành đối với tat cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án. Các cơ quan, tô chức, công dân trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả. Tính chấp hành trong thi hành án phản ánh một thực tế nó không phải là hoạt động tiến hành tố tụng thuần tuý. Các nguyên tắc của thi hành các hình phạt chính không tước tự do Các nguyên tắc của pháp luật hình sự được thể hiện trong Bộ luật hình sự.
Khi giải quyết vụ án hình sự, các nguyên tắc áp dụng hình phạt sẽ được áp dụng để giải quyết và xử lý người phạm tội đảm bảo quyền con người. Các nguyên tắc cơ ban của luật hình sự chi phối hoạt động áp dụng hình phạt chính không tước tự do. Các nguyên tắc nay là những tư tưởng chi đạo toan bộ quá trình xây dung và áp dụng pháp luật hình sự thé hiện quan điểm đường lối chính sách của hình sự của nước ta trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Tòa án tuyên hình phạt công bằng, tương xứng là cơ sở dé làm nỗi bật được mục đích hình phạt được.
Do đó, Tòa án phải dựa trên các nguyên tắc và căn cứ cơ bản. Theo lý luận về nghiên cứu khoa học chế định quyết định hình phạt của T.S Dương Tuyết Miên định nghĩa “Các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tu tưởng chỉ đạo trong qua trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để Tòa án quyết định hình phạt đúng đắn đối với người phạm tội”. Từ bản chất pháp lý đó rút ra khái niệm nguyên tắc thi hành các hình phạt chính không tước tự do là những tư tưởng chỉ đạo trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự dé Tòa án áp dụng hình phạt đúng đắn đối với người phạm tội.