Chương 1: Cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay. Chương 2: Thực trạng về pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay 5 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay. Khái niệm thi hành án dân sự Việc thi hành án dân sự nhằm đảm bảo rằng các quyết định của tòa án, trọng tài hoặc hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được thực hiện trong thực tế. Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và cơ quan, bao gồm cả nhà nước. Mặc dù bản án, quyết định của tòa án, kết quả từ trọng tài hoặc hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đều có ý nghĩa quan trọng, nhưng chúng chỉ là bước đầu trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Nhưng nếu không được thi hành, những quyết định này chỉ tồn tại trên giấy tờ. Để những quyết định này trở thành hiện thực, người có quyền và lợi ích hợp pháp cần yêu cầu người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của họ đối với mình. Ngược lại, người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ của họ vì lợi ích của người có quyền thi hành án. Điều này đảm bảo rằng quyết định của tòa án và quyết định của trọng tài hoặc hội hoặc hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh không chỉ là lý thuyết mà còn trở thành hiện thực trong cuộc sống thực tiễn.
Trong thời đại hiện nay, vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ thi hành án dân sự, quan điểm đầu tiên cho rằng “thi hành án là một hoạt động tố tụng hành chính”[38, tr60] bởi vì khi công việc thi hành án dân sự được giao cho các cơ quan khác sau khi Tòa án đã ra bản án, quyết định thì cơ quan tiến hành tố tụng thi hành án không còn là Tòa án nữa. Điều này dẫn đến việc giải quyết khiếu nại và kháng nghị trong thi hành án có sự khác biệt 6 rõ rệt về hình thức và thủ tục so với quá trình giải quyết khiếu nại và kháng nghị trong tố tụng dân sự thông thường. Quan điểm thứ hai cho rằng thi hành án dân sự là “một dạng của hoạt động hành chính - tư pháp” [17] vì quá trình này bao gồm việc thực hiện các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Mục tiêu của tố tụng, ngược lại, là tìm hiểu sự thật về các vụ việc đã diễn ra để từ đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình tố tụng, các nguyên tắc quan trọng như bình đẳng, công khai, dân chủ, và tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng phải được tuân thủ và bảo đảm. Trong thủ tục tố tụng, mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động thi hành án là tổ chức thi hành, có tính hành chính, mệnh lệnh liên quan. Ý kiến thứ ba cho rằng thi hành án dân sự là “một biểu hiện của hoạt động tư pháp” [16, tr 282] bởi vì quá trình thi hành án dân sự liên quan chặt chẽ đến hoạt động xét xử, chủ yếu tập trung vào các vấn đề tài sản. Nó đòi hỏi sự độc lập và thường do cơ quan tư pháp có thẩm quyền tổ chức và giám sát bởi: Thi hành án dân sự là một phần quan trọng trong quá trình xét xử, bắt đầu sau khi Tòa án đã ra quyết định.
Quá trình này liên quan đến việc thực hiện các bản án và quyết định của Tòa án. Giai đoạn thi hành án bắt đầu sau khi Tòa án đã phán quyết, và nó nhằm đảm bảo rằng quyết định của Tòa án được thực hiện trong thực tế. Điều này đảm bảo rằng công lý được thực sự thực hiện và quyền và nghĩa vụ của các bên được bảo vệ. Thi hành án dân sự thường liên quan đến việc thi hành các phán quyết liên quan đến tài sản hoặc giá trị tài sản.
Thực tế, phần lớn các bản án và quyết định của tòa án đều đưa ra quyết định về các vấn đề tài chính, bao gồm thanh toán nợ, phân chia di sản, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nộp tiền vào quỹ nhà nước, phạt tiền, và các vấn đề tài chính khác. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo rằng các quyết định của tòa án không 7 chỉ ở mức lý thuyết mà còn phải được thực hiện trong thực tế, để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên một cách công bằng và hợp pháp. Thi hành án dân sự là một quá trình độc lập do cơ quan thi hành án dân sự chịu trách nhiệm thực hiện. Nó là một quá trình phức tạp đòi hỏi phải đối mặt với nhiều áp lực từ các bên liên quan vì việc thực hiện các bản án và quyết định của tòa án, trọng tài, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của một hoặc nhiều bên Để đảm bảo hoạt động thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự hoạt động độc lập và không cho phép bất kỳ cơ quan hoặc cá nhân nào can thiệp trái pháp luật vào quá trình tổ chức thi hành án của họ.
Hiện nay, luật thi hành án dân sự đã quy định rõ vai trò và trách nhiệm của các đơn vị liên quan đối với hoạt động thi hành án và cách họ phối hợp với cơ quan thi hành án. Với chức năng, nhiệm vụ, và quyền hạn trong việc thực hiện quyền tư pháp của cơ quan nhà nước, cơ quan thi hành án dân sự là một trong các cơ quan tư pháp. Hiện nay, tại nước ta, việc xã hội hóa trong lĩnh vực thi hành án dân sự đã được triển khai với sự tham gia của các văn phòng thừa pháp lại. Tuy nhiên, thừa pháp lại vẫn tập trung thực hiện một số hoạt động thi hành án, như thông báo thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án.
Công tác thi hành án dân sự với sự hỗ trợ từ Thừa pháp lại sẽ tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong quá trình thi hành án. Điều này sẽ giúp giảm tải gánh nặng cho cơ quan thi hành án dân sự trong một số hoạt động cụ thể. Việc triển khai và thực hiện nghiêm túc chế định này là một nhiệm vụ quan trọng của ngành Tư pháp trong tương lai, nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải thiện quá trình thi hành án dân sự Hiện tại, Pháp luật không có định nghĩa cụ thể về thi hành án dân sự. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu “thi hành án dân sự là quá trình các bản án, 8 quyết định dân sự của tòa án và các quyết định của các cơ quan, tổ chức khác được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật”.
Đặc điểm của thi hành án dân sự ở Việt Nam - Thứ nhất, thi hành án dân sự là một dạng hoạt động mang tính hành chính - tư pháp của nhà nước, thể hiện quyền lực của nhà nước, do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện với nhiệm vụ là bảo đảm hiệu lực của các bản án và quyết định về dân sự của Tòa án, quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại bằng cách sử dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Tính quyền lực của nhà nước trong thi hành án dân sự rất rõ ràngbởi cơ quan thi hành án dân sự có quyền đưa ra quyết định thi hành án dân sự, buộc các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải tuân thủ, nghiêm chỉnh chấp hành. Trong trường hợp người phải thi hành án dân sự không tự nguyện thi hành án dân sự, cơ quan và tổ chức thi hành án dân sự có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế để đảm bảo việc thi hành án dân sự. Điều này buộc người phải thi hành án dân sự phải chấp hành bản án và quyết định dân sự có hiệu lực thi hành, thể hiện sự tuân thủ của công dân đối với nảm án, quyết định của Tòa án và quyền lực của nhà nước.
- Thứ hai, thi hành án dân sự tập trung vào việc thực hiện các quyết định của Tòa án có tính chất tải sản như quyết định dân sự, tịch thu tài sản, hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài 9 thương mại. Trong quá trình này, quyền tự định đoạt của các bên đương sự luôn được tôn trọng và bảo vệ. Tức là, các bên có quyền tự quyết định về việc thi hành án dân sự trong phạm vi của pháp luật. Thậm chí, họ có thể thỏa thuận về cách thi hành án dân sự theo đúng ý muốn của họ, miễn là không vi phạm quy định của pháp luật.
Điều này nhấn mạnh tính công bằng và tôn trọng đối với quyền tự quyết định của các bên trong quan hệ dân sự, đồng thời đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch trong quá trình thi hành án dân sự. Trước ngày 01/7/2003, đối tượng thi hành án dân sự ở nước ta chỉ chỉ hạn chế trong phạm vi “các bản án và quyết định dân sự của Tòa án” [40, Điều 3]. Tuy nhiên, kể từ ngày 01/7/2003, đối tượng thi hành án dân sự đã được mở rộng để bao gồm cả “quyết định giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại Việt Nam” [41, Điều 57].