Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn để ban hành Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình" do nghiên cứu sinh Phan Hữu Thư thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Tư pháp), bảo vệ năm 2001 thuộc chuyên ngành Luật kinh tế (mã số 5.05.15). Công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Hồng Hạnh và TS. Hoàng Thế Liên.
Về tính cấp thiết, công trình xuất phát từ chủ trương tiếp tục cải cách tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, trong đó trọng tâm là cải cách thủ tục tố tụng nhằm phục vụ công cuộc xây dựng và củng cố Nhà nước pháp quyền. Sau khi Quốc hội ban hành các Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1994 và 1995, các toà chuyên trách gồm Toà kinh tế (hoạt động từ ngày 01-07-1994), Toà lao động và Toà hành chính (hoạt động từ ngày 01-07-1996) được thành lập nằm trong cơ cấu thống nhất của hệ thống Toà án nhân dân chứ không tạo thành các hệ thống toà án độc lập riêng biệt. Cùng với đó, Nhà nước đã lần lượt ban hành bốn đạo luật tố tụng dưới hình thức pháp lệnh: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (29-11-1989), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (16-3-1994), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (20-4-1996) và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (20-4-1996).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: việc duy trì đồng thời nhiều pháp lệnh tố tụng riêng biệt bộc lộ nhiều điểm khiếm khuyết, thiếu đồng bộ, chồng chéo về quy định kỹ thuật tố tụng và phân định thẩm quyền, không còn đáp ứng được yêu cầu của các quan hệ pháp luật nội dung trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần. Việc ban hành nhiều bộ luật tố tụng riêng rẽ cho từng lĩnh vực sẽ gây chia cắt và khó khăn trong thực tiễn áp dụng của hệ thống toà án. Do đó, nhu cầu nghiên cứu có hệ thống các luận cứ lý luận và căn cứ thực tiễn để hợp nhất các quy định tố tụng phi hình sự thành một Bộ luật tố tụng chung thống nhất (lấy tên gọi chính thức là Bộ luật tố tụng dân sự - BLTTDS) là một đòi hỏi khách quan cấp bách.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:
- Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá, so sánh và tổng hợp thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình, luận án làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng một Bộ luật tố tụng chung có phạm vi điều chỉnh mở rộng bao gồm tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình.
- Thông qua quá trình làm rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất những ý kiến thiết thực để góp phần hoàn chỉnh Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự và mở ra những vấn đề mới để tiếp tục nghiên cứu trong tương lai.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là toàn bộ các cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng một bộ luật tố tụng chung có phạm vi điều chỉnh mở rộng sang nhiều lĩnh vực, khai thác những mâu thuẫn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật và sự thiếu đồng bộ giữa lý luận và thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung phân tích, đánh giá và so sánh việc thực hiện ba văn bản pháp luật tố tụng gồm Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (1989), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994) và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (1996); chưa mở rộng phạm vi điều chỉnh sang lĩnh vực tố tụng hành chính do tính chất đặc thù của quan hệ hành chính.
- Về chuyên ngành: Do luận án thuộc chuyên ngành Luật kinh tế, phạm vi nghiên cứu chú trọng nhiều hơn đến những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn áp dụng pháp luật kinh tế và tố tụng kinh tế.
- Về không gian và thời gian: Khảo sát thực tiễn lập pháp và hoạt động xét xử của hệ thống Toà án nhân dân tại Việt Nam từ năm 1945 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2001), trọng tâm là giai đoạn Đổi mới từ năm 1986 đến năm 2000.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong luận án, tác giả điểm lại các nền tảng tư tưởng, lý luận kinh tế - pháp lý và công trình nghiên cứu của các học giả trong nước và quốc tế:
- Montesquieu (1748) trong tác phẩm Tinh thần pháp luật: luận điểm về con người như một thực thể vật lý bị chi phối bởi các quy luật bất biến, nhưng với tư cách thực thể có trí tuệ thì không ngừng thay đổi luật do chính mình đặt ra; luật pháp phải được hình thành trong bối cảnh xã hội cho phép.
- Karl Marx: học thuyết hình thái kinh tế - xã hội về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; cơ sở kinh tế và chế độ sở hữu quyết định sự hình thành của kiến trúc thượng tầng chính trị - pháp lý.
- Viện Harvard về phát triển quốc tế: công trình Theo hướng rồng bay: cải cách kinh tế ở Việt Nam (tháng 6-1994) của nhóm tác giả GS. Dwight H. Perkins, GS. Dapice, GS. Haughton; phân tích sự thay đổi cơ chế kinh tế của Việt Nam từ năm 1989-1990 (thả nổi giá, xóa bỏ chỉ tiêu kế hoạch trừ nghĩa vụ nộp ngân sách, mở rộng quyền tự chủ doanh nghiệp), 5 yếu tố cần thiết cho kinh tế thị trường và các nhóm chính sách cải cách tài chính, thương mại, tư pháp.
- Henry Merryman: lý thuyết về mối quan hệ tương hỗ giữa luật thủ tục (tố tụng) và luật nội dung, xác định thủ tục là nền tảng thực hiện của nội dung, hướng dẫn, điều chỉnh quá trình giải quyết tranh chấp và trực tiếp định hình kết quả xét xử.
- Hager (1999): công trình The rule of Law - A lexicon for policy makers (Trung tâm Mansfield về các vấn đề Thái Bình Dương ấn hành); xác định 9 tiêu chí của Nhà nước pháp quyền gồm chủ nghĩa lập hiến, chính quyền bị điều chỉnh bởi pháp luật, hệ thống toà án độc lập, áp dụng pháp luật bình đẳng, minh bạch, bảo hộ quyền kinh tế, quyền tài sản và hợp đồng.
- PGS.TS. Lê Hồng Hanh: các nghiên cứu về nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kinh tế thị trường bằng pháp luật (bảo đảm quyền bình đẳng chủ thể, tự do hợp đồng, hoàn thiện quyền sở hữu, xác lập trách nhiệm tài sản) và định chế hợp đồng kinh tế trong cơ chế thị trường.
- TS. Trịnh Hồng Dương và TSKH. Đào Trí Úc: các bài viết chuyên luận về tính thống nhất của tổ chức cơ quan tư pháp và nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1992, vị trí của Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất và điều kiện bảo đảm tính ổn định, thống nhất của thủ tục tố tụng.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Toà án nhân dân tối cao: Một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự.
- Kỷ yếu Dự án VIE/94/003 (Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam): Báo cáo chuyên đề về các lĩnh vực của khung pháp luật kinh tế tại Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận riêng rẽ từng ngành luật nội dung hoặc chỉ đánh giá thực trạng từng pháp lệnh tố tụng chuyên biệt. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các luận cứ lý luận và thực tiễn để hợp nhất các thủ tục tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình vào trong một bộ luật thống nhất; giải quyết các xung đột kỹ thuật lập pháp giữa các đạo luật hiện hành; xác định rõ mối quan hệ giữa trách nhiệm chứng minh của đương sự và quyền năng của toà án trong tố tụng tư pháp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng trên các hệ thống lý thuyết, khái niệm và khung phân tích sau:
- Khung lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Chủ nghĩa Mác - Lênin: phân tích sự phát triển của quan hệ sản xuất, sự chuyển dịch từ chế độ công hữu thuần nhất sang nền kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu (Hiến pháp 1992 ghi nhận sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân), từ đó đòi hỏi kiến trúc thượng tầng pháp lý phải thiết lập thủ tục tố tụng bình đẳng để bảo vệ quyền tài sản hợp pháp.
- Lý thuyết Nhà nước pháp quyền: vận dụng các tiêu chí bảo hộ quyền công dân, quyền tự định đoạt dân sự, nguyên tắc toà án độc lập khi xét xử và áp dụng pháp luật bình đẳng, không phân biệt thành phần kinh tế.
- Khung phân tích về mối quan hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng: luật nội dung (Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Lao động, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp...) chỉ phát huy hiệu lực khi có công cụ thủ tục tố tụng tương thích, đồng bộ và logic.
- Khái niệm hệ thống Toà án nhân dân theo nghĩa rộng (toàn bộ hệ thống cơ quan xét xử nhân danh Nhà nước) và nghĩa hẹp (từng toà án cụ thể), cùng nguyên tắc tổ chức thống nhất của cơ quan xét xử.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Luận án thuộc hướng nghiên cứu định tính, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống với khảo sát thực tiễn xã hội học pháp luật.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm: rà soát, mổ xẻ nội dung các quy định trong Hiến pháp 1959, 1980, 1992, các đạo luật tổ chức toà án và văn bản pháp luật tố tụng hiện hành.
- Phương pháp so sánh luật học: đối chiếu các quy định về thẩm quyền, thời hạn, chứng cứ, hoà giải, thành phần hội đồng xét xử giữa ba pháp lệnh tố tụng (dân sự, kinh tế, lao động) và tham khảo kinh nghiệm cải cách tố tụng của một số quốc gia.
- Phương pháp lịch sử pháp lý: phân kỳ quá trình phát triển của pháp luật tố tụng Việt Nam qua các giai đoạn (1945-1989 và 1989-2001) để rút ra tính kế thừa.
- Phương pháp khảo sát, thăm dò thực tiễn: sử dụng dữ liệu điều tra xã hội học và khảo sát ý kiến thực tiễn của những người áp dụng pháp luật, giới doanh nghiệp và cơ quan tư pháp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu thực tế bao gồm:
- Các văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000.
- Số liệu Báo cáo tổng kết công tác ngành Toà án năm 1998 và 1999 của Toà án nhân dân tối cao.
- Kết quả khảo sát của Sở Tư pháp Hà Nội đối với 300 doanh nghiệp nhà nước và tư nhân.
- Số liệu điều tra xã hội học nông thôn tại tỉnh Hải Hưng năm 1990.
- Báo cáo số liệu kinh tế - thương mại từ Tổng cục Thống kê và tài liệu Dự án VIE/94/003.
- Các văn bản Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự từ Dự thảo I đến thời điểm luận án hoàn thành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tính tất yếu khách quan và cơ sở lý luận của việc xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình
Chương 1 tập trung phân tích các tiền đề kinh tế, chính sách, pháp luật và các luận cứ lý luận khẳng định tính tất yếu của việc hợp nhất pháp luật tố tụng.
Về tiền đề kinh tế - xã hội, tác giả phân tích sự chuyển dịch từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình này hình thành nhiều hình thức sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân). Điểm mốc Đổi mới từ năm 1986, bắt đầu từ cơ chế khoán trong nông nghiệp và tự chủ doanh nghiệp năm 1989. Kết quả điều tra xã hội học năm 1990 tại tỉnh Hải Hưng cho thấy 97,4% nông dân muốn giữ nguyên hoặc nhận thêm ruộng khoán (52,3% muốn giữ nguyên, 43,03% muốn nhận thêm). Trên bình diện thương mại, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng nhanh: năm 1991 xuất khẩu đạt 2,08 tỷ USD, nhập khẩu đạt 2,388 tỷ USD; đến năm 1993 xuất khẩu đạt 3 tỷ USD, nhập khẩu đạt 2,505 tỷ USD.
Sự đa dạng hoá các quan hệ sở hữu đòi hỏi công cụ tư pháp bảo vệ bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Tuy nhiên, tâm lý e ngại khởi kiện tại toà án của các doanh nghiệp diễn ra phổ biến do lo sợ thủ tục phiền hà, án phí cao và ảnh hưởng uy tín thương mại.
| Thái độ đối với phương thức giải quyết tranh chấp |
Tỷ lệ lựa chọn (%) |
| Tự hoà giải |
72,5% |
| Hoà giải thông qua trọng tài |
65,8% |
| Khởi kiện ra Toà án |
33,3% |
| (Nguồn số liệu: Kết quả điều tra của Sở Tư pháp Hà Nội đối với 300 doanh nghiệp nhà nước và tư nhân) |
|
Bên cạnh đó, số liệu thụ lý vụ án thực tế phản ánh sự chênh lệch lớn giữa các loại tranh chấp được đưa ra xét xử:
| Loại vụ án sơ thẩm thụ lý |
Năm 1998 |
Năm 1999 |
Biến động |
| Án dân sự |
114.244 vụ |
129.215 vụ |
Tăng 14.971 vụ |
| Án kinh tế |
1.282 vụ |
1.280 vụ |
Giảm 2 vụ |
| (Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết ngành Toà án năm 1999 của Toà án nhân dân tối cao) |
|
|
|
Điển hình tại địa bàn Hà Nội, nơi có hơn 2.000 doanh nghiệp hoạt động, năm 1995 Toà kinh tế mới thụ lý giải quyết 16 vụ án kinh tế. Tình trạng này bắt nguồn từ tâm lý e ngại kiện tụng và xu hướng hành chính hoá, hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự trong thời gian dài. Ngoài ra, phán quyết của trọng tài phi chính phủ thiếu cơ chế cưỡng chế thi hành hiệu quả, đòi hỏi thủ tục tư pháp phải thể chế hoá việc công nhận và thi hành.
Về tiền đề chính sách và pháp luật, sự ra đời của Hiến pháp 1992 (các điều 15, 16, 24, 25) cùng các đạo luật nội dung lớn như Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Lao động, Luật Thương mại, Luật Đất đai 1993, Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty đã tạo cơ sở vật chất - pháp lý đồng bộ, đòi hỏi đạo luật tố tụng tương ứng.
Về cơ sở lý luận, tác giả khẳng định cải cách thủ tục tố tụng là khâu trọng tâm của cải cách tư pháp. Vận dụng quan điểm của Henry Merryman, thủ tục tố tụng không thuần túy là kỹ thuật mà là nền tảng thực hiện luật nội dung. Luận án xác định các quan điểm xây dựng bộ luật:
- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân;
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền theo 9 tiêu chí của Hager (1999);
- Định hướng và đón đầu nền kinh tế tri thức và công nghệ thông tin;
- Mở rộng phạm vi điều chỉnh sang các quan hệ kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình; tạm thời chưa đưa tố tụng hành chính vào bộ luật chung;
- Thiết kế thủ tục chung thống nhất song hành cùng các thủ tục đặc thù (ly hôn, đình công, phá sản doanh nghiệp, tuyên bố mất tích/chết);
- Mở rộng thẩm quyền cho toà án cấp huyện, bỏ thủ tục sơ chung thẩm tại Toà án nhân dân tối cao, áp dụng thủ tục rút gọn;
- Xác định thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân của thẩm phán và địa vị pháp lý của thư ký phiên toà;
- Tính thống nhất trong tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân theo Hiến pháp 1992 (Điều 127 đến 134) và Luật tổ chức Toà án nhân dân 1992: thống nhất về tiêu chuẩn bổ nhiệm thẩm phán, quyền năng giám đốc xét xử của Toà án nhân dân tối cao, nguyên tắc xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật, và chế định hội thẩm tham gia xét xử sơ thẩm.
Chương 2: Thực trạng, thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình và yêu cầu hoàn thiện
Chương 2 đánh giá toàn diện hệ thống quy phạm tố tụng qua hai giai đoạn lịch sử và chỉ ra các vướng mắc thực tiễn:
- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989: Hoạt động xét xử chủ yếu dựa vào các văn bản dưới luật, thông tư, chỉ thị hướng dẫn nghiệp vụ của Toà án nhân dân tối cao; thiếu vắng đạo luật tố tụng mang tính pháp điển; tranh chấp cá nhân ít được giải quyết qua con đường tư pháp do duy trì cơ chế bảo vệ quyền lợi bằng biện pháp hành chính và hình sự.
- Giai đoạn từ năm 1989 đến nay: Đánh dấu bước tiến bằng việc ban hành Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (1989), tiếp đó là Pháp lệnh tố tụng kinh tế (1994) và lao động (1996). Tuy nhiên, các pháp lệnh này bộc lộ sự phân tán, thiếu đồng bộ:
- Phần quy định chung: thời hạn, thời hiệu, tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án quy định không thống nhất giữa các pháp lệnh, dẫn đến tình trạng án bị huỷ do vi phạm thủ tục.
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm quy định thiếu nhất quán: vụ án dân sự, lao động, hành chính gồm 1 thẩm phán và 2 hội thẩm nhân dân; trong khi vụ án kinh tế lại quy định gồm 2 thẩm phán và 1 hội thẩm. Thực tiễn áp dụng tỷ lệ 1 thẩm phán - 2 hội thẩm tại cấp sơ thẩm bộc lộ nhược điểm: khi nghị án theo nguyên tắc đa số, ý kiến chuyên môn đúng đắn của thẩm phán có thể bị phủ quyết bởi 2 hội thẩm thiếu kiến thức pháp lý chuyên sâu, dẫn đến sai sót nghiệp vụ làm bản án bị xét xử lại nhiều lần.
Về thực tiễn áp dụng, tác giả chỉ ra bốn nhóm vướng mắc lớn:
- Sự phân định không rõ ràng về mặt thẩm quyền giữa Toà dân sự và Toà kinh tế: ranh giới giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự, giữa tranh chấp thương mại và tranh chấp tài sản thuần tuý rất mờ nhạt, dẫn đến tình trạng đùn đẩy hoặc tranh chấp thẩm quyền giải quyết giữa các toà chuyên trách.
- Sự vắng mặt quy định về bồi thường thiệt hại dân sự trong vụ án kinh tế và lao động: khi phát sinh thiệt hại dân sự gắn liền với tranh chấp kinh tế hoặc tranh chấp lao động, toà án thiếu cơ sở pháp lý tố tụng để giải quyết gộp trong cùng một vụ án, buộc đương sự phải khởi kiện qua nhiều vụ án khác nhau làm kéo dài thời gian.
- Bất cập về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh: các pháp lệnh hiện hành chưa phân định ranh giới giữa trách nhiệm chứng minh của đương sự và quyền hạn thu thập chứng cứ của toà án; toà án còn mang nặng tính can thiệp điều tra thay đương sự, tạo tâm lý ỷ lại và làm giảm tính khách quan.
- Vướng mắc trong chế định hoà giải: thủ tục công nhận sự thoả thuận của các đương sự, thời điểm phát sinh hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận và cơ chế bảo đảm thi hành còn nhiều điểm mâu thuẫn, chưa khuyến khích được giải quyết tranh chấp qua thương lượng.
Chương 3: Xây dựng Dự thảo BLTTDS - những thành quả và những vấn đề tiếp tục hoàn thiện
Chương 3 tổng kết tiến trình xây dựng Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện:
- Phân tích quá trình soạn thảo từ Dự thảo I, cơ cấu các phần, các chương và những thành quả đã đạt được trong việc pháp điển hoá các quy định tố tụng phi hình sự.
- Các kiến nghị hoàn thiện cụ thể:
- Về phạm vi điều chỉnh: khẳng định Bộ luật tố tụng dân sự phải bao quát toàn diện các quan hệ tranh chấp về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình. Tạm thời chưa đưa tố tụng hành chính vào phạm vi điều chỉnh của bộ luật này do đối tượng tranh chấp là quyết định hành chính mang tính quyền lực nhà nước, nhưng cần xem đây là hướng nghiên cứu lâu dài.
- Bổ sung thủ tục đặc thù: thiết kế phần thủ tục riêng giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình (như công nhận thuận tình ly hôn), thủ tục giải quyết việc tuyên bố mất tích, tuyên bố chết, thủ tục phá sản doanh nghiệp và giải quyết đình công.
- Chuẩn hoá khái niệm và thuật ngữ pháp lý: thống nhất việc sử dụng tên gọi "Bộ luật tố tụng dân sự" để chỉ bộ luật tố tụng chung điều chỉnh các lĩnh vực phi hình sự; rà soát và chuẩn hoá các thuật ngữ tố tụng, tránh sự đa nghĩa giữa các phần.
- Hoàn thiện chế định chứng cứ và chứng minh: chuyển hóa nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh thành trách nhiệm chính của đương sự; toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp cụ thể do luật định hoặc theo yêu cầu chính đáng của đương sự khi họ không thể tự thu thập.
- Kiện toàn chế định hoà giải: xác lập rõ ràng thủ tục hoà giải tại toà án, bảo đảm tính tự nguyện thực chất của đương sự; quy định hiệu lực thi hành dứt điểm của quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự.
- Hoàn thiện bộ máy và người tiến hành tố tụng: cá thể hoá quyền hạn, trách nhiệm của thẩm phán gắn liền với chế định bồi thường thiệt hại cho công dân khi xảy ra oan sai; quy định rõ ràng vị trí, chức năng, quyền và nghĩa vụ tố tụng của thư ký phiên toà.
- Cải tiến quy trình xét xử: xây dựng thủ tục rút gọn đối với các tranh chấp đơn giản, chứng cứ rõ ràng, giá ngạch thấp; mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho Toà án nhân dân cấp huyện; xoá bỏ thủ tục sơ thẩm đồng thời chung thẩm tại Toà án nhân dân tối cao.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Là công trình khoa học pháp lý đầu tiên trình bày một cách có hệ thống, toàn diện các cơ sở lý luận và thực tiễn để ban hành một bộ luật tố tụng có phạm vi điều chỉnh mở rộng bao gồm dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình.
- Luận giải khoa học việc xác định phạm vi điều chỉnh theo nghĩa rộng của Bộ luật tố tụng dân sự; đề xuất thống nhất chuẩn hoá hệ thống khái niệm, thuật ngữ dùng trong toàn bộ dự thảo văn bản luật.
- Giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn tồn tại tranh luận: làm rõ nội hàm nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh; xác định lại địa vị và hiệu lực pháp lý của chế định hoà giải tư pháp; xác định vai trò, chức năng kiểm sát xét xử của Viện kiểm sát nhân dân; vai trò tham gia xét xử của hội thẩm nhân dân; trình tự kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm và việc thể chế hoá thủ tục rút gọn.
- Đề xuất các giải pháp lập pháp tháo gỡ vướng mắc thực tiễn: cơ chế phân định thẩm quyền giữa các toà chuyên trách trong cùng hệ thống Toà án nhân dân; cơ chế giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự trong vụ án kinh tế và lao động.
- Lần đầu tiên đề xuất đưa phần thủ tục riêng giải quyết các vụ việc phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình vào cơ cấu của Bộ luật tố tụng chung.
- Đề xuất hệ thống kiến nghị, giải pháp hoàn thiện văn bản Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự phục vụ trực tiếp cho hoạt động của Ban soạn thảo và Tổ biên tập.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Luận án thuộc chuyên ngành Luật kinh tế (mã số 5.05.15), do đó phần phân tích thực tiễn ưu tiên tập trung sâu hơn vào các vướng mắc của pháp luật kinh tế và tố tụng kinh tế; chưa phân tích sâu toàn diện các khía cạnh kỹ thuật của mọi ngành luật khác.
- Công trình không tham vọng giải quyết toàn bộ các vấn đề kỹ thuật lập pháp chi tiết của từng điều luật trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự mà tập trung vào các căn cứ nền tảng mang tính nguyên tắc lý luận và thực tiễn.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Luận án mở ra hướng nghiên cứu lâu dài về việc xây dựng một bộ luật tố tụng tư pháp hợp nhất chung cho toàn bộ các quan hệ phi hình sự, bao gồm cả việc nghiên cứu khả năng tích hợp thủ tục tố tụng hành chính vào bộ luật chung trong tương lai.
- Tiếp tục nghiên cứu, dự báo và đề xuất các quy định tố tụng đón đầu các tranh chấp mới phát sinh từ nền kinh tế tri thức, giao dịch mua bán qua mạng và ứng dụng công nghệ thông tin.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Ban soạn thảo, Tổ biên tập và các cơ quan tham gia quy trình lập pháp của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong quá trình hoàn thiện Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đội ngũ thẩm phán, thư ký toà án, kiểm sát viên, luật sư, trọng tài viên: cung cấp cơ sở phân tích thực tiễn để giải quyết các vướng mắc về thẩm quyền toà án, thu thập chứng cứ, áp dụng thủ tục hoà giải và phân định tranh chấp kinh tế - dân sự.
- Doanh nghiệp và cán bộ pháp chế: cung cấp bức tranh thực tế về các phương thức giải quyết tranh chấp (tự hoà giải, trọng tài, toà án), hỗ trợ việc lựa chọn cơ quan tài phán bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật kinh tế, Luật Dân sự và Tố tụng dân sự: tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao về lịch sử lập pháp tố tụng Việt Nam, so sánh pháp luật và lý luận cải cách tư pháp.
Các phần nội dung đáng tham khảo chuyên sâu gồm:
- Tiểu mục 2.2 của Chương 2: Phân tích 4 nhóm vướng mắc thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng (thẩm quyền, bồi thường thiệt hại, chứng cứ - chứng minh, hoà giải).
- Tiểu mục 3.2 của Chương 3: Hệ thống kiến nghị hoàn thiện phạm vi điều chỉnh, khái niệm, thuật ngữ và các chế định cụ thể của Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án đề xuất xây dựng một Bộ luật tố tụng chung thay vì ban hành các bộ luật tố tụng riêng rẽ cho từng lĩnh vực kinh tế, lao động, dân sự?
Luận án chỉ ra rằng hệ thống Toà án nhân dân tại Việt Nam được tổ chức thống nhất theo Hiến pháp 1992, các toà chuyên trách (Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động) nằm trong cùng một cơ cấu toà án chứ không phải là các hệ thống toà án độc lập. Việc duy trì nhiều đạo luật tố tụng riêng biệt gây ra sự chia cắt không cần thiết, tạo ra sự mâu thuẫn về thời hạn, thời hiệu, thành phần hội đồng xét xử và khó khăn trong việc phân định thẩm quyền. Do đó, việc xây dựng một thủ tục tố tụng chung thống nhất cho các lĩnh vực phi hình sự bảo đảm tính ổn định, đồng bộ của hệ thống tư pháp và phù hợp với nguyên tắc bình đẳng của các chủ thể trước pháp luật.
2. Dữ liệu thực tiễn nào trong luận án phản ánh tâm lý e ngại kiện tụng của doanh nghiệp tại Toà án kinh tế?
Luận án dẫn chứng kết quả khảo sát của Sở Tư pháp Hà Nội trên 300 doanh nghiệp nhà nước và tư nhân: 72,5% doanh nghiệp chọn tự hoà giải, 65,8% chọn hoà giải qua trọng tài, trong khi chỉ có 33,3% chọn khởi kiện ra Toà án. Dữ liệu thực tế năm 1995 tại Hà Nội (với hơn 2.000 doanh nghiệp hoạt động) Toà kinh tế chỉ thụ lý 16 vụ án. Báo cáo tổng kết ngành Toà án năm 1999 cũng cho thấy toà sơ thẩm thụ lý 129.215 vụ án dân sự, trong khi án kinh tế chỉ đạt 1.280 vụ (giảm 2 vụ so với năm 1998). Nguyên nhân là doanh nghiệp ngại sự phiền hà, mức án phí cao và lo ngại ảnh hưởng uy tín kinh doanh.
3. Quan điểm của tác giả về việc có đưa thủ tục tố tụng hành chính vào Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự hay không?
Tác giả đề xuất trước mắt chưa nên đưa tố tụng hành chính vào phạm vi điều chỉnh của Bộ luật tố tụng dân sự. Lý do là quan hệ pháp luật hành chính mang tính chất chấp hành - điều hành, đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan công quyền, mang tính đặc thù khác biệt với quan hệ bình đẳng, tự thoả thuận giữa các đương sự trong tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động. Tuy nhiên, luận án ghi nhận việc mở ra hướng nghiên cứu lâu dài để có thể tiến tới xây dựng một bộ luật tố tụng tư pháp chung bao gồm cả hành chính trong tương lai.
4. Đề xuất của tác giả về việc thay đổi tỷ lệ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử sơ thẩm dựa trên cơ sở nào?
Thực tiễn áp dụng các pháp lệnh tố tụng cho thấy nhiều bản án sơ thẩm bị huỷ, sửa nhiều lần xuất phát từ cơ cấu Hội đồng xét xử gồm 1 thẩm phán và 2 hội thẩm nhân dân. Khi nghị án theo nguyên tắc biểu quyết đa số, quan điểm của 2 hội thẩm (vốn không có chuyên môn nghiệp vụ sâu) có thể phủ quyết ý kiến đúng luật của thẩm phán chuyên trách. Do đó, để nâng cao chất lượng xét xử và giảm thiểu án huỷ, tác giả đề xuất đối với một số loại việc phức tạp cần thay đổi tỷ lệ thành 2 thẩm phán và 1 hội thẩm.
5. Luận án chỉ ra sự bất cập căn bản nào giữa trách nhiệm của đương sự và Toà án trong việc thu thập chứng cứ?
Theo các pháp lệnh hiện hành, ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh của đương sự và trách nhiệm của toà án chưa được xác định minh bạch. Toà án thường can thiệp quá sâu vào việc chủ động điều tra, thu thập chứng cứ thay cho các bên, biến hoạt động tố tụng thành mang tính thẩm cứu nặng nề, làm triệt tiêu tính chủ động của đương sự và tạo tâm lý ỷ lại vào cơ quan xét xử. Tác giả kiến nghị cần xác lập rõ nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về đương sự; toà án chỉ hỗ trợ xác minh, thu thập chứng cứ trong các trường hợp luật định khi đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự thu thập được.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Phan Hữu Thư là công trình nghiên cứu hệ thống các cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ yêu cầu xây dựng một Bộ luật tố tụng chung cho các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình tại Việt Nam thời kỳ đổi mới. Luận án đã làm rõ sự cần thiết phải tích hợp các thủ tục tố tụng phân tán thành một thể thống nhất, phân tích toàn diện các vướng mắc thực tiễn qua hơn mười năm áp dụng các pháp lệnh tố tụng chuyên biệt. Kết quả nghiên cứu và hệ thống kiến nghị của luận án đã đóng góp các luận cứ khoa học vào tiến trình soạn thảo, hoàn thiện Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự của Nhà nước.