mở đầu quá trình kết cấu lại nền kinh tế nước nhà. Trong những năm 1979-1980 nền kinh tế VN lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc. Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 6 (khoá V1) chỉ rõ “Tháng lợi của Cách mạng của nước ta thật là to lớn đồng thời những khó khăn Lỗ mà ta vượt qua cũng rất to lớn. Điều đặc biệt quan trọng là người lao động thiếu hang hái sản xuất” |26].
Trước tình hình đó, Đảng ta chủ trương chuyển dan sang cơ chế sản xuất hàng hoá với nhiều giải pháp theo trình tự bước đầu thừa nhận kinh tế hộ với nhiều thành phan, tiến tới cho các hộ xã viên mượn đất, sau đó ồn định thu mua lương thực, điều chỉnh giá mua nông sản, để rồi thực hiện mua theo giá thoả thuận, tiến tới bãi bỏ việc phân phối định suất nhằm hạn chế mức trích lập quỹ tập thể để tăng thu nhập cho xã viên và cuối cùng là sự thừa nhận kinh tế gia đình như một bộ phận hợp thành của kinh tế xã hội chủ nghĩa. Theo "Báo cáo tổng kết hợp tác xã nông nghiệp 1958-1990 định hướng hợp tác xã nông nghiệp thời kỳ sau 1990” thì thực hiện chủ trương khoán đến nhóm và người lao động, tháng 1 năm 1981 hộ gia đình nông dân trồng lúa được tự chủ ba khâu trong quá trình sản xuất nông nghiệp: gieo mạ, cấy trồng, chăm bón và thu hoạch. Hợp tác xã đảm nhiệm 5 khâu: làm đất, thủy lợi, bảo vệ thực vật, giống và phân hoá học. Quyền chi phối quá trình tái sản xuất vẫn thuộc về Ban quản lý hợp tác xã.
Mặc dù vậy, so với thời kỳ 1976-1980 năng suất lao động đã tăng 23,8%, sản lượng lương thực tăng 27%, diện tích cây công nghiệp tăng 62,1%, đàn bò tăng 33%, dan lợn tăng 22,1%. Bình quân lương thực đầu người năm sau cao hơn năm trước (1981: 273kg, 1985: 304kg). Tuy nhiên, Chỉ thị 100 ngày 5-4-1988 của Ban Bí thư về cơ chế khoán trong nông nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế do cơ chế tập trung quan liêu chưa được tháo gỡ, cơ chế quản lý nội bộ hợp tác xã, nhất là vai trò kinh tế hộ gia đình chưa được khẳng định. Bộ máy quản lý céng kénh, mức khoán giao động thiếu ổn định đã dần dần triệt tiêu động lực kinh tế mới được khơi dậy.
Hậu quả là hợp tác xã lại đứng trước nguy cơ mới. Năm 1987 sản lượng lương thực giảm gần | triệu tấn, mức Nhà nước huy động giảm gần 40 van tấn. Trong hai năm liền 1987-1988, nạn đói đã xảy ra ở một số vùng. Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được vai trò to lớn của nông nghiệp và xem xét kỹ hai vấn dé cơ bản đang dat ra để đẩy mạnh nông nghiệp phát triển.
Một, phải bảo đảm lợi ích kinh tế nông dân thì sản xuất nông nghiệp mới có động lực. Hai, vai trò của kinh tế hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp cũng như mối quan hệ kinh tế giữa kinh tế hộ gia đình và hợp tác xã phải được xác lập đúng. 16 Trước tình hình đó, nhằm khác phục những hạn chế của Chi thi 100, ngày 5 tháng 4 năm 1988, Bộ Chính trị khoá VI đã ra Nghị quyết 10 và sau đó là Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 6 khoá VI đã ra Nghị quyết với những chủ trương đúng đắn, kịp thời. Các nghị quyết này chủ yếu thúc đẩy quá trình giải phóng sức sản xuất, chuyển nên nông nghiệp tự cấp tự túc ở nhiều vùng sang sản xuất hàng hoá nhiều thành phan.
Nội dung của các nghị quyết này cũng nhằm thực hiện điều chỉnh một bước quan trọng về sở hữu tư liệu sản xuất, giao khoán ổn định lâu dài ruộng đất đến hộ gia đình nông dân, hoá giá các tư liệu sản xuất khác và cơ sở vật chất kỹ thuật của hợp tác xã trước đây mà tập thể quản lý kém hiệu quả. Khuyến khích nông dân mua sắm công cụ sản xuất và trâu bò cày kéo, khẳng định vai trò tự chủ của hộ gia đình, thực hiện cơ chế phân phối theo lao động và xóa bỏ chế độ theo công điểm và hiện vật. Xã viên hợp tác xã chỉ còn một nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng, sản phẩm còn lại được tự do lưu thông, thương mại hoá vật tư, khuyến khích sản xuất và làm giàu chính đáng. Các nghị quyết này của Đảng cũng lần đầu tiên thừa nhận sự tồn tại và khuyến khích phát triển kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân, Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng và được bình đẳng trước pháp luật [48, tr.
Từ những chủ trương đúng đắn đó của Đảng và Nhà nước, ở nước ta đã hình thành động lực kinh tế mới thúc đẩy phát triển sản xuất. Lợi ích kinh tế của người nông dân đã được coi trọng. Bước đầu giải quyết mối quan hệ ba lợi ích: Nhà nước, tập thể và người lao động, trong đó chú trọng lợi ích của người lao động. Kết quả là, theo một điều tra xã hội hoc ở tinh Hải Hung năm 1990 thì 97,4% nông dân được hỏi muốn giữ nguyên hoặc được nhận thêm ruộng khoán, trong đó muốn giữ nguyên là 52,3% và nhan thêm là 43,03% |25, tr.
Để nông nghiệp tiếp tục phát triển làm cơ sở phát triển toàn bộ nền kinh tế, Đảng và nhà nước ta đã nhận thức được là cần phải đặt sự phát triển nông nghiệp nông thôn theo sản xuất hàng hoá hướng tới quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước. Thực hiện nhất quán kinh tế nhiều thành phần, gắn sản xuất với thị trường, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, giải quyết được đầu vào và đầu ra để nông dân yên tâm với nhiệm vụ sản xuất. Có thể, có người cho rằng các chính sách về 17 nông nghiệp không hề liên quan đến việc ban hành Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình. Nhưng nhìn về bản chất thì chính các chính sách đúng dan của Dang va Nhà nước ta về nông nghiệp đã tạo tiền dé không những để xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình mà còn là tiền dé để xây dựng nhiều bộ luật khác như Bộ luật dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật TTHS.
Chính sách kinh tế đúng dan đối với doanh nghiệp nha nước Điểm mấu chốt trong chính sách kinh tế đối với doanh nghiệp nhà nước là xác lập quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của xí nghiệp nhằm phát huy mọi tiềm năng trên cơ sở giải phóng sức sản xuất. Từ Nghị quyết TW Đảng lần thứ 6 khoá VI năm 1979, Đảng đã chủ trương xác lập vai trò và quyền tự chủ kinh doanh của các xí nghiệp quốc doanh, khuyến khích lợi ích kinh tế của người lao động. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 và các văn bản của Chính phủ đã xác định mở rộng, quyền chủ động sáng tạo, xác lập quyền tự chủ cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, lấy đơn vị cơ sở làm trung tâm của quá trình cải tiến quản lý. Từ năm 1987 cơ chế quản lý kinh tế đối với doanh nghiệp nhà nước được đổi mới, bảo đảm cho các xí nghiệp kinh tế quốc doanh có quyền thực sự chuyển sang hoạch toán kinh doanh.
Hội nghị TW 3 khoá VI năm 1989 đã cụ thể một bước quan điểm này: Các xí nghiệp quốc doanh chuyển sang hoạt động tự chủ hoạch toán kinh doanh, đổi mới cơ chế san xuất kinh doanh bao đảm quyền tự chủ cho các đơn vị cơ sở. Chủ trương của Đảng về đối mới doanh nghiệp nhà nước đã được thể chế hoá bằng pháp luật mà trước hết cần phải kể đến Quyết định 217/HĐBT ngày 14-11-1987 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch và hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh và Quyết định ban hành những quy định bổ sung Quyết định 217/HDBT ngày 14-11-1987 của Hội déng Bộ trưởng ngày 2-12- 1989. Các văn ban này đã đánh dấu một bước ngoat quan trọng đối với các xí nghiệp quốc doanh từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hoạch toán kinh doanh XHCN, trên cơ sở được tự chủ sản xuất kinh doanh nhằm từng bước tháo sỡ những khó khan để thúc đầy sản xuất phát triển (48, tr. Dai hội Đảng toàn 18 quốc lần thứ VII năm 1991 vẫn tiếp tục khẳng định xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tạo điều kiện môi trường cho các doanh nghiệp phát triển.
Cũng như đối với nông nghiệp, vấn dé quan trọng nhất để các doanh nghiệp nhà nước phát triển là phải bao đảm được lợi ích của người lao động, kích thích họ sản xuất kinh doanh để họ thực sự làm chủ xí nghiệp gắn trách nhiệm và quyền lợi của họ vào xí nghiệp. Trước tình hình đó, Dang ta dé ra chính sách cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước nhằm đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, mở rộng tiềm năng, tạo khả năng cạnh tranh lành mạnh, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, thực sự chủ động trong hạch toán kinh tế. Chính sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thi trường có sự quản lý của Nhà nước Sau hơn 10 năm tìm tòi, thể nghiệm và tổng kết thực tiễn, Nghị quyết Đại hội VII của Dang đã khẳng định phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phải nói rằng tư tưởng đổi mới đã xuất hiện trong Nghị quyết TW 6 khoá V năm 1979 nhưng phải đến Đại hội VI bước ngoat về quan điểm đổi mới mới được khang định đó là VN có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhưng phải đi theo con đường phát triển hàng hoá.
Hội nghị TW lần thứ 6 khoá VI đã khẳng định tinh chất nhiều thành phần trong sản xuất hàng hoá ở nước ta, mỗi thành phần kinh tế được quy định bởi một hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, như vậy đa dạng hoá các hình thức sở hữu vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhiều thành phần kinh tế. Khi đất nước chuyển sang kinh tế hàng hoá thì sự phát triển kinh tế quốc dân phải thông qua cơ chế thị trường.