Chương 1: Khái quát về khuyến mại và pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại. Chương 2: Thực tiễn pháp luật và thi hành pháp luật vè khuyến mại ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Kiến nghị sửa đổi quy định của pháp luật về khuyến mại hướng đến sửa đôi Luật Thương mại năm 2005. CHUONG 1 KHAI QUAT VE KHUYEN MAI VA PHAP LUAT DIEU CHINH HOAT DONG KHUYEN MAI 1.
Khai quat vé khuyén mai 1. Khái niệm khuyén mại Khuyến mại là một trong các hoạt động xúc tiễn thương mại được quy định tại Mục 1 Chương IV Luật Thương mại năm 2005. Theo quy định tại Luật Thương mại năm 2005: Xúc tiễn thương mại là hoạt động thúc day, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lam thương mại. Theo cách hiểu thông thường xúc tiễn thương mại là hoạt động giới thiệu, thúc đây mua bán hàng hoá, dịch vụ dưới một số hoạt động cụ thể như khuyến mại, quảng cáo, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích phát triển việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ.
Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định". Có thé nói, khuyến mại là hoạt động nhằm mục đích thu hút sự quan tâm của khách hàng đối với hàng hoá, dịch vụ của mình trên thị trường băng cách tặng thêm cho khách hàng ngoài các lợi ích mà bản thân hàng hoá, dịch vụ mang lại. Đặc điểm của hoạt động khuyến mại Khuyến mại là công cụ kinh doanh quan trọng nhằm thúc đây việc tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ. Công cụ kinh doanh này có nhiều tác dụng và có thê áp dụng vào các công đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh của thương nhân như: giới thiệu sản phẩm mới, đưa sản phẩm xâm nhập vào thị trường, quá trình tạo lợi thế cạnh tranh với các thương nhân khác.
Khuyến ! Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại năm 2005 mại luôn giữ vai trò là một công cụ đắc lực và hiệu quả nhất dé thương nhân gia nhập và gia tăng thị phan trên thị trường. Căn cứ theo quy định của Luật Thương mại, khuyến mại có những đặc điểm sau: * Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại: Chủ thé thực hiện hành vi khuyến mại là thương nhân. Theo khoản 1 Điều 6 Luật thương mại năm 2005, thương nhân bao gồm “tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”. Để tạo nhiều cơ hội thương mại, pháp luật cho phép thương nhân có thé tự mình tổ chức thực hiện việc khuyến mại hoặc sử dụng dịch vụ khuyến mại do thương nhân khác cung cấp trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuyến mại.
Như vậy, thương nhân thực hiện khuyến mại gồm có thương nhân tự tô chức thực hiện khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại. * Mục dich cua khuyến mại Giống như các hoạt động xúc tiến thương mại khác, mục đích của khuyến mại là xúc tiễn bán hang và cung ứng dịch vụ. Dé thực hiện mục đích này, mục tiêu bao trùm mà khuyến mại hướng tới là tác động tới khách hàng, lôi kéo hành vi của khách hàng để họ mua sản phẩm, sử dụng dịch vụ, giới thiệu một sản phẩm mới hay kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hoá của doanh nghiệp, tăng lượng hàng đặt mua, qua đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hoá, dịch vụ. * Cách thức hoạt động khuyến mại Cách thức thực hiện xúc tiến thương mại của khuyến mại là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.
Dấu hiệu dành cho khách hàng những lợi ích nhất định để tác động tới thái độ và hành vi mua bán của họ là đặc trưng để phân biệt khuyến mại với các hình thức xúc tiến thương mại khác như quảng cáo, trưng bày giới thiệu hàng hoá, dịch vụ. - Đối tượng khách hàng được khuyến mại: Đối tượng khách hàng được khuyến mại không chỉ là người tiêu dùng mà còn có thể là các trung gian phân phối. - Loại lợi ích dành cho khách hàng: Lợi ích mà thương nhân dành cho khách hàng rất đa dạng, có thê là lợi ích vật chất (tiền, hàng hoá) hoặc phi vật chất (cung ứng dich vụ miễn phi.), tuỳ thuộc vào nhiều yếu tổ như mục tiêu của đợt khuyến mại, trạng thái cạnh tranh hay kinh phí dành cho khuyến mại. Điều kiện cần đảm bảo là tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại phải là những hàng hoá, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp.
Như vậy, bản chất của khuyến mại là hoạt động của thương nhân thông qua việc dành cho khách hàng những lợi ích nhất định với những công cụ đa dạng như quà tặng, hàng mẫu, giảm giá. nhằm mục tiêu kích thích, lôi kéo hành vi quyết định mua hàng, sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp, đích cuối cùng là tăng thị phần của doanh nghiệp trong thị trường hàng hoá, dịch vụ. Khái quát về hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động khuyến mại hiện nay 1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật khuyến mại Với tư cách là một bộ phận của pháp luật thương mại, pháp luật xúc tiễn thương mại là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động xúc tiễn thương mại của thương nhân.
Pháp luật khuyến mại là một bộ phận của pháp luật xúc tiễn thương mại hay rộng hơn, là một bộ phận của pháp luật thương mại, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình thương nhân tìm kiếm, thúc đây hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua việc dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Pháp luật khuyến mại có các đặc điểm cơ bản như sau: * Pháp luật khuyến mại là một bộ phận của pháp luật thương mại Với tư cách là một bộ phận của pháp luật thương mại, các quan hệ mà pháp luật khuyến mại điều chỉnh bao gồm: - Quan hệ sử dụng dịch vụ hình thành giữa thương nhân có nhu cầu thực hiện khuyến mại với thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại; - Quan hệ giữa thương nhân với người tiêu dùng, với các khách hàng của chương trình khuyến mại; - Quan hệ giữa thương nhân với cơ quan quan lý Nha nước có thâm quyên đối với hoạt động khuyến mai. * Nội dung của pháp luật khuyến mại bao gồm các quy định về chủ thê thực hiện khuyến mại, các hình thức khuyến mại, thủ tục thực hiện khuyến mại và các vấn đề khác liên quan đến quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại. - Các quy định về chủ thê thực hiện khuyến mại được hình thành từ việc xuất hiện các đối tượng có nhu cầu thực hiện các hoạt động nhằm thúc đây việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ của mình trên thực tế.
Các đối tượng này rất đa dạng và pháp luật đã khái quát quy định chủ thể thực hiện khuyến mại là các thương nhân và quy định các trường hợp thương nhân thực hiện khuyến mại. - Các quy định về hình thức khuyến mại ra đời do sự sáng tạo của thương nhân trong quá trình triển khai các cách thức nhăm thúc đây việc mua ban hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Các hình thức khuyến mại thực sự rất đa dạng. Trên cơ sở các cách thức triển khai trên thực tế, các nhà làm luật đã khái quát và dự liệu ra các hình thức khuyến mại phổ biến thường được thương nhân sử dụng để quy định trong Luật Thương mại.
Với mỗi hình thức khuyến mại khác nhau, pháp luật cũng yêu cầu thương nhân tuân thủ theo các quy định cụ thể khác nhau khi thực hiện. - Các thủ tục thực hiện khuyến mại được quy định dựa trên cơ sở mỗi hình thức khuyến mại đều mang đặc điểm và cách thức thực hiện khác nhau. Trên cơ sở đánh giá tác động của từng hình thức khuyến mại cụ thé, pháp luật 10 yêu cầu thương nhân phải tuân thủ và thực hiện các thủ tục được quy định tương ứng khi thương nhân lựa chọn thực hiện dưới từng hình thức cụ thê. - Các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại được đặt ra nhằm kiểm tra, kiểm soát và giám sát chặt chẽ hoạt động khuyến mại của các thương nhân.
Các cơ quan có thâm quyền thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại của thương nhân nhằm tránh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh giữa các thương nhân, tạo môi trường kinh doanh bình đăng và bảo đảm quyên, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng khi tham gia hoạt động khuyến mại của các thương nhân. Cầu trúc hình thức của pháp luật khuyến mai và vị trí của chế định pháp luật khuyến mai trong Luật thương mại năm 2005 * Quy định của pháp ludt về xúc tiễn thuong mại truớc khi ban hành Luat Thuong mại nam 2005 Nhận thức rõ vai trò của hoạt đóng xúc tiễn thương mại đối với sự phát triển của nền kinh tế, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản để điều chỉnh trong lĩnh vực này như: - Nghị định của Chính phủ số 194-CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 về hoạt động quảng cáo trên lãnh thé Việt Nam; - Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 390-TTg ngày 01 tháng 8 năm 1994 về việc ban hành Quy chế về hội chợ và triển lãm thương mại; - Thông tư số 5-TM/XNK của Bộ Thương mại ngày 25 tháng 2 năm 1995 hướng dẫn thực hiện Quy chế Hới chợ và trién lãm thương mại; - Thông tư số 37/NHTT-TT ngày 01 tháng 7 năm 1995 của Bộ Văn hóa Thông tin hướng dẫn thực hiện Nghị định số 194-CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam; - Thông tư liên Bộ số 1191-TTN/LB ngày 29 tháng 6 năm 1991 của Ủy ban Khoa học Nhà nước - Bộ Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch quy định về việc quản lý nhãn và quảng cáo sản phâm hàng hóa; 11 Sau đó, Luật Thuong mại đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 10 tháng 5 năm 1997, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1998. Đây là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp ly cao nhất từ trước đến nay quy định thông nhất về hoạt động thương mại trên lãnh thé Việt Nam.