LỜI MỞ ĐẦU 1.Tinh cấp thiết của việc nghiên cứu dé tài: Cùng với việc thực hiện chủ trương đôi mới quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, Việt Nam đang tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Mội trong những yêu câu của quá trình hội nhập này là bảo đảm tôn trọng và thực thi những quy định của các tổ chức quốc tế cũng như những cam kết trong các hiệp định ma Việt Nam là thành viên. Điều đó đòi hỏi Nhà nước ta phải doi mới hệ thống pháp luật. nhất là pháp luật kinh tế để dam bao sự tương thích của nó với pháp luật quốc tế và các nước trên thế giới.
Đại hội Đảng toàn quốc lân thứ X đã yêu cau: *.Chu động, tích cực hội nhap kinh tế sau hơn, day đủ hơn với khu vực và thé giới. Thực hiện có hiệu qua các cam kết với các nước, các tổ chức quốc tế về thương mại, đầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực khác.Chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện các cam kết sau khi nước ta gia nhập WTO. Khan trương doi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thông pháp luạt bao dam lợi ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông lệ quốc tế” [I9, tr. ^^" Trong lĩnh vực pháp luật về tài phán kinh tế, Pháp lệnh TTTM (được Uy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25/02/2003.
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2003), là một văn bản pháp luật được xây dựng trên cơ sở pháp điên hoá các văn bản pháp luật về trọng tài ở Việt Nam, có tiếp thu một số nội dung cơ bản của Luật Mau UNCITRAL. Pháp lệnh đã khác phục được những bất cập của các văn bản pháp luật về trọng tài trước đó, mà bước chuyển biến có tính đột phá là đã tạo ra được một mat bang pháp lý chung cho hoạt động của các Trung tâm Trọng tài trong nước và trong tài quốc tế ở Việt Nam; xây dựng được mối quan hệ ho trợ giữa Toa ấn và trọng tài: tạo ra được cơ chế bao đảm thi hành phán quyết trọng tài. Tuy nhiên, qua thời gian thi hành từ ngày 1/7/2003 đến nay cho thay, Pháp lệnh TTTM chưa phát huy được day du vai trò của mình trong đời sông Kinh te - xã hội. Nguyên nhàn cua tinh hình nay chủ yếu I¿ do: nhận thức của giới doanh nhân ve trọng tài chưa đây du; chat lượng đội ngũ TTV chưa cao; kinh nghiệm của các Tham phán trong việc thực hiện hỗ trợ trọng tài chưa nhiều: tổ chức và hoạt động của các TTTT còn nhiêu yếu kém và đặc biệt là các quy định pháp luật về TTTM chưa được hoàn thiện đến mức cần thiết.
Pháp lệnh TTTM 2003 với tư cách là nguôn pháp luật chủ yếu của pháp luật về TTTM đã bộc lộ không ít hạn chế, bất cập làm anh hưởng đếr hoạt động của TTTM ở nước ta trong thời gian qua. Trong khi do, thực tiền sôi động của hoạt động kinh doanh, thương mai trong nền kinh tế thị trường tat yeu dan đến việc tranh chap phát sinh ngày càng nhiều về số lượng, lớn về quy mô, đa dạng về nội dung và phức tạp về tính chất. Đồng thời, quá trình hội nhap kinh tế quốc tế với việc phải thực hiện đúng các nghĩa vụ quy định trong các hiệp định đa phương và song phương, tôn trọng tập quán thương mại quốc tế đòi hỏi pháp luật về TTTM phải được tiếp tục sửa đổi, bổ sung theo hướng “bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn định và minh bạch” [19, tr.I I4], dap ứng yêu cau của việc giải quyết các tranh chấp thương mại. Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về TTTM và thực trạng pháp luật TTTM, phát hiện ra những bất cập trong quy định pháp luật để từ đó de xuất những phương hướng.
giải pháp hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này là van de hết sức cân thiết hiện nay. De tài “Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam trong diéu kiện hội nhập quốc tế” được thực hiện là nhằm góp phần đạt được mục đích quan trọng đó. Tình hình nghiên cứu đề tài: Vấn đề pháp luật về trọng tài từ lâu đã được giới luật gia trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt, ở nước ta, khi Nghị định | 16/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ quy định ve to chức và hoạt động của trong tài kinh tế phi chính phủ đã to ra có nhiều bất cập và việc soạn thao Pháp lệnh TTTM dang được tien hành một cách khăn trương thì các nha Khoa học pháp lý của Việt Nam lại càng có nhiều bài viet, nghiên cứu ve van de nay.
TẾ, Nguyễn Am Hiểu có bai “Mor so đặc điểm cua pháp Thật trong tài phi chính phủ ở Việt Nam hiện nay” (Tap chí Nhà nước và pháp luật. Nguyễn Như Phát có bài “Pháp luật to tung và các hình thức to tụng kinh tế” (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11, 2001"), TS. Duong Thanh Mai có bài “Việc tiép nhận Luật Mau của UNCITRAL về Trọng tài thương mại Quốc tế ở một xố nước và việc vây dung Dự thao Pháp lệnh Trọng tài của Việt Nam ” (Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9, 1998); PGS. Dương Dang Huệ có bài “7rọng tài kính tê phi chính phú ở Việt Nam - Thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao liệu qua hoạt động của nó ” (Thông tin khoa học pháp lý - Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, số 5, 1999).
Các bài viết này đã dé cập đến trọng tài và pháp luật trọng tài ở nước ta trong thời gian trước khi có Pháp lệnh TTTM năm 2003, đồng thời đã dé xuất được nhiều yêu cầu có tính nguyên tác cũng như giải pháp có tính cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật trọng tài trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Sau khi Pháp lệnh TTTM được ban hành, PGS. Duong Dang Huệ đã có bài “Pháp lệnh Trọng tài thương mai năm 2003- Động luc mới cho su phat triển của trong tài phi chính phủ ở nước ta” [37], trong đó đã phân tích, bình luận một cách tông hợp vẻ các quy định của Pháp lệnh như một bước đột phá trong pháp luật ve trọng tài ở nước ta. Nguyen Chánh án Toà án nhân dân tối cao, nguyên Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam Pham Hưng có bài “Tố tung trọng tài trong Pháp lệnh Trọng tài thương mai” [40], trong đó chủ yếu trình bày về quy trình to tung trọng tài theo quy định của Pháp lệnh. Một số luận án thạc sĩ Luật học cũng đã nghiên cứu về pháp luật này ở nước ta như: “Ve pháp luật Trọng tài thương mại ở nước ta hiện nay” (Luận án của Nguyên Thị Thu Thuỷ, năm 2003); “Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003- Cơ sở pháp lý mới cho sự thành lập và hoạt dong có hiệu qua của Trọng tài thương mại Việt Nam” (Luan án của Huynh Thị Thanh Thao, nam 2003); “Vai trò của Toà án trong hoạt động giải quyết tranh chap thương mại bang trọng tài ở Việt Nam” (Luận án của Vũ Anh Dương.
nam 2006); “Phap luật giải quyết tranh chap thương mai bang hình thức trọng tài” (Luan án của Phạm Thi Phuong Thuy, năm 2004). Các luận án này đã dé cập đến những vấn de chung về TTTM như khái niệm, đặc điểm, bản chất của trọng tài và các quy định trong Pháp lệnh TTTM dưới góc độ là những điểm mới: ve thực trạng tổ chức và hoạt động giải quyết tranh chấp của các Trung tam TTTM trong nước, nguyên nhân của tình hình hoạt động yếu kém của các TTTT và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chúng. Riêng luận án thạc sĩ của Vũ Ánh Dương đã nghiên cứu TTTM ở một phạm vi hẹp nhưng lại là vấn dé mới làn dau tiên được quy định trong Pháp lệnh TTTM - van de mối quan hệ giữa Toa án và trọng tài và đã đề xuất một số kiến nghị cụ thể nhằm khác phục những điểm còn bất cập trong các quy định của pháp luật TTTM liên quan đến môi quan hệ quan trọng này. Cũng đã có một số luận án tiến sĩ Luật học nghiên cứu về tài phán kinh tế, trong đó có đề cập đến TTTM với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế như: “Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Đào Văn Hội, năm 2003; “Tai phan kinh tế ở nước ta hiện nay” của Trần Văn Trung, năm 2003.
Các luận án này đều có dé cập đến TTTM, nhưng dưới góc độ là một hình thức tài phán kinh tế tồn tại song song với tài phán Toà án. Vì vậy, nội dung các luận án chỉ dành một phân (ít hơn so với phần về tài phán Toà án) để nghiên cứu vẻ phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế bàng hình thức trọng tài. Đánh giá một cách tổng quát thì có thể nhận định rang, các bài viết va công trình nghiên cứu nói trên chi dé cập đến TTTM ở một phạm vi nhất định, như: đặc điểm của TTTM. moi quan hệ giữa Toa án và trọng tài, tài phán trọng tài, tố tụng trọng tài.hoặc đúc rút những điểm mới cua Pháp lệnh TTTM năm 2003.
Nhiều van de lý luận và thực tien quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại cũng như có ảnh hưởng rat lớn đến hiệu qua và chất lượng của các Trung tam TTTM ở nước ta như vấn dé về các yếu tố chi phối pháp luật và hoạt động của các Trung tâm TTTM van chưa được các nhà khoa học pháp lý dành cho sự quan tâm ngàng tam với ý nghĩa của no. Mat Khác, cũng chưa có công trình nào nghiên cứu việc hoàn thiện pháp luật TTTM dưới góc độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. vấn dé mà đề tài nghiên cứu, đến nay vân là vấn để còn mới trong khoa học pháp lý Việt Nam, cân phải được quan tâm tiếp tục giải quyết, 3. Mục dich và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích của luận án là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về TTTM, phát hiện những điểm còn hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về TTTM ở nước ta, dé xuất phương hướng, giai pháp hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này nham đáp ứng yêu cau của hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam đang tích cực tham gia.
Để dat được mục dich trên, luận án phải hoàn thành một số nhiệm vu cơ bản sau đây: - Nghiên cứu.