Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế" do nghiên cứu sinh Nguyễn Đình Thơ thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số: 62 38 50 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Ngọc Dũng và PGS. Dương Đăng Huệ, bảo vệ năm 2007.
Tính cấp thiết của luận án bắt nguồn từ bối cảnh Việt Nam thực hiện chủ trương đổi mới quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là việc chuẩn bị các điều kiện thực thi cam kết sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thực hiện các cam kết trong AFTA, APEC, ASEM. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nhấn mạnh yêu cầu khẩn trương đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm lợi ích quốc gia và tương thích với các quy định, thông lệ quốc tế.
Trong hệ thống tài phán kinh tế, Pháp lệnh Trọng tài thương mại (TTTM) được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25/02/2003 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2003) đã tạo lập mặt bằng pháp lý chung cho hoạt động trọng tài, tiếp thu một số nội dung cơ bản của Luật Mẫu UNCITRAL 1985, xác lập mối quan hệ hỗ trợ giữa Tòa án và Trọng tài, đồng thời tạo cơ chế thi hành phán quyết. Tuy nhiên, sau một thời gian thi hành, Pháp lệnh TTTM năm 2003 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập: nhận thức của giới doanh nhân chưa đầy đủ, chất lượng đội ngũ trọng tài viên (TTV) chưa cao, kinh nghiệm hỗ trợ trọng tài của thẩm phán còn ít, tổ chức và hoạt động của các trung tâm trọng tài (TTTT) còn yếu kém. Trong khi đó, các tranh chấp kinh doanh thương mại ngày càng tăng nhanh về số lượng, quy mô, tính chất phức tạp và đa dạng về nội dung. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật TTTM là yêu cầu cấp bách.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về TTTM, phát hiện các điểm hạn chế, bất cập của pháp luật thực định và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật TTTM Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về TTTM và pháp luật TTTM;
- Phân tích làm rõ những yếu tố chi phối chất lượng hoạt động của TTTM;
- Đánh giá đúng thực trạng pháp luật TTTM Việt Nam, qua đó tìm ra sự tương đồng và bất tương đồng giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế và các nước;
- Nghiên cứu làm rõ thực trạng hoạt động của các TTTT ở Việt Nam, tìm ra những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn giải quyết tranh chấp;
- Phát hiện những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật TTTM làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện;
- Đề ra các phương hướng, giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật TTTM đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, phục vụ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quy định pháp luật về TTTM, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động của TTTM. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các vấn đề cơ bản của pháp luật TTTM, thực trạng pháp luật thực định và thực tiễn hoạt động của các TTTT tại Việt Nam qua các thời kỳ (từ năm 1960 đến năm 2007), trọng tâm là giai đoạn thi hành Pháp lệnh TTTM năm 2003 trong mối liên hệ với các chuẩn mực quốc tế như Luật Mẫu UNCITRAL và Công ước New York năm 1958.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Vấn đề trọng tài và pháp luật trọng tài đã được nhiều học giả và nhà hoạt động thực tiễn quan tâm nghiên cứu qua các giai đoạn phát triển thể chế kinh tế tại Việt Nam:
Giai đoạn trước khi ban hành Pháp lệnh TTTM năm 2003:
- Nguyễn Am Hiểu với bài viết "Một số đặc điểm của pháp luật trọng tài phi chính phủ ở Việt Nam hiện nay" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật);
- Nguyễn Như Phát với công trình "Pháp luật tố tụng và các hình thức tố tụng kinh tế" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11, 2001);
- TS. Dương Thanh Mai với bài viết "Việc tiếp nhận Luật Mẫu của UNCITRAL về Trọng tài thương mại Quốc tế ở một số nước và việc xây dựng Dự thảo Pháp lệnh Trọng tài của Việt Nam" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 9, 1998);
- PGS. Dương Đăng Huệ với bài viết "Trọng tài kinh tế phi chính phủ ở Việt Nam - Thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nó" (Thông tin khoa học pháp lý - Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý Bộ Tư pháp, số 5, 1999).
Giai đoạn sau khi ban hành Pháp lệnh TTTM năm 2003:
- PGS. Dương Đăng Huệ với bài viết "Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 - Động lực mới cho sự phát triển của trọng tài phi chính phủ ở nước ta";
- Phạm Hưng (nguyên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, nguyên Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam) với bài viết "Tố tụng trọng tài trong Pháp lệnh Trọng tài thương mại";
- Các luận văn thạc sĩ luật học: "Về pháp luật Trọng tài thương mại ở nước ta hiện nay" của Nguyễn Thị Thu Thủy (2003); "Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 - Cơ sở pháp lý mới cho sự thành lập và hoạt động có hiệu quả của Trọng tài thương mại Việt Nam" của Huỳnh Thị Thanh Thảo (2003); "Vai trò của Tòa án trong hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài ở Việt Nam" của Vũ Ánh Dương (2006); "Pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài" của Phạm Thị Phương Thủy (2004);
- Các luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu về tài phán kinh tế có đề cập đến trọng tài: "Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" của Đào Văn Hội (2003); "Tài phán kinh tế ở nước ta hiện nay" của Trần Văn Trung (2003).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận TTTM ở từng góc độ riêng lẻ (tố tụng trọng tài, mối quan hệ giữa Tòa án và trọng tài, hoặc đặt trọng tài thứ yếu bên cạnh tài phán Tòa án). Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về TTTM và pháp luật TTTM Việt Nam dưới góc độ hội nhập kinh tế quốc tế kể từ khi Pháp lệnh TTTM năm 2003 ra đời; đồng thời chưa có công trình nào luận giải sâu sắc 7 yếu tố chi phối chất lượng hoạt động của TTTM để làm nền tảng xây dựng giải pháp lập pháp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; quán triệt các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng và cải cách hệ thống cơ quan tài phán kinh tế.
Về mặt lý thuyết và khái niệm:
- Bản chất của TTTM: Luận án tiếp cận TTTM như một phương thức giải quyết tranh chấp kết hợp hai yếu tố: yếu tố thỏa thuận (bản chất tư, quyền lực do các bên ủy nhiệm) và yếu tố tài phán (phán quyết có hiệu lực bắt buộc thi hành). Trọng tài không thực hiện quyền lực tư pháp nhà nước mà phán quyết mang tính đại diện cho ý chí của các bên.
- Khái niệm "hoạt động thương mại": Luận án phân tích sự dịch chuyển khái niệm từ phạm vi hẹp trong Luật Thương mại 1997 (chỉ gồm mua bán hàng hóa và dịch vụ thương mại) sang phạm vi rộng theo Luật Mẫu UNCITRAL 1985, Pháp lệnh TTTM 2003 và Luật Thương mại 2005 (bao gồm toàn bộ các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi của thương nhân).
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật và phương pháp tổng hợp để làm rõ nội dung, cấu trúc thể chế;
- Phương pháp luật học so sánh: So sánh pháp luật trọng tài Việt Nam với Luật Mẫu UNCITRAL 1985, Công ước New York 1958, cùng pháp luật trọng tài của các nước như Hoa Kỳ (Federal Arbitration Act 1925/1970, Quy tắc AAA 1926), Pháp, Philippines, Thái Lan, Trung Quốc (Luật Trọng tài 1994), Hàn Quốc;
- Phương pháp lịch sử - cụ thể: Phân tích sự tiến hóa của thể chế trọng tài qua các thời kỳ quản lý kinh tế tại Việt Nam;
- Phương pháp thống kê: Tổng hợp số lượng các vụ tranh chấp, tình hình tổ chức của các TTTT tại Việt Nam từ năm 1960 đến năm 2006.
Nguồn dữ liệu của luận án:
- Hệ thống văn bản pháp luật quốc gia: Nghị định 20/TTg (1960), Nghị định 54/CP (1975), Nghị định 75/CP (1975), Nghị định 62/HĐBT (1984), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989), Pháp lệnh Trọng tài kinh tế (1990), Nghị định 59/CP (1963), Nghị định 153/CP (1964), Quyết định 204/TTg (1993), Quyết định 114/TTg (1994), Nghị định 116/CP (1994), Pháp lệnh TTTM (2003), Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thương mại (2005), Luật Doanh nghiệp (2005);
- Văn bản quốc tế: Luật Mẫu UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế năm 1985, Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước ngoài;
- Báo cáo tổng kết thực tiễn hoạt động xét xử của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) và các Trung tâm Trọng tài kinh tế/thương mại địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Trọng tài thương mại và pháp luật Trọng tài thương mại
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về TTTM, quá trình hình thành, bản chất, ưu thế và các yếu tố chi phối tổ chức, hoạt động trọng tài:
-
Khái niệm và bản chất: Luận án phân tích hai hướng định nghĩa TTTM trong khoa học pháp lý: coi trọng tài là thiết chế giải quyết tranh chấp (thiên về hình thức tổ chức) và coi trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp (thiên về bản chất). Tác giả khẳng định định nghĩa TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp phản ánh chính xác nhất bản chất tài phán tư, trong đó hội đồng trọng tài (HĐTT) nhận quyền tài phán từ sự ủy nhiệm của các bên thông qua thỏa thuận trọng tài.
-
Bảy ưu thế của TTTM so với Tòa án và các phương thức khác:
- Bảo đảm bí mật kinh doanh và uy tín nghề nghiệp của các bên tranh chấp nhờ nguyên tắc xét xử kín;
- Giải quyết tranh chấp mang tính thân thiện, tạo điều kiện duy trì quan hệ hợp tác kinh doanh;
- Thủ tục tố tụng đơn giản, giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm thời gian (xét xử một cấp chung thẩm, không qua nhiều cấp xét xử như Tòa án);
- Tính linh hoạt cao, tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của các bên (lựa chọn TTV, quy tắc tố tụng, địa điểm, ngôn ngữ, luật áp dụng);
- Bảo đảm tính chính xác cao đối với các tranh chấp có tính chất kinh tế - kỹ thuật chuyên sâu do các bên được chọn chuyên gia phù hợp làm TTV;
- Không nhân danh quyền lực tư pháp nhà nước, phù hợp giải quyết tranh chấp giữa các bên có quốc tịch khác nhau;
- Phán quyết trọng tài có khả năng được công nhận và thi hành ở nước ngoài theo Công ước New York năm 1958 (tại thời điểm nghiên cứu có 137 quốc gia thành viên).
- Lịch sử phát triển thể chế trọng tài tại Việt Nam:
- Giai đoạn Trọng tài kinh tế (TTKT) Nhà nước (1960 - 1994): Thành lập theo Nghị định 20/TTg ngày 14/1/1960, hoàn thiện qua Nghị định 54/CP, Nghị định 75/CP (1975), Nghị định 62/HĐBT (1984), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989) và Pháp lệnh TTKT (1990). Bản chất của hệ thống này là cơ quan quản lý nhà nước kết hợp tài phán thuộc nhánh hành pháp, TTV là công chức nhà nước, thủ tục giống tố tụng tư pháp (có sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm). Hệ thống này chính thức giải thể ngày 01/7/1994 và chuyển giao thẩm quyền xét xử sang Tòa Kinh tế thuộc TAND.
- Giai đoạn Trọng tài kinh tế phi chính phủ (1994 - 2003): Thành lập theo Nghị định 116/CP ngày 05/9/1994, hoạt động dưới dạng tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Tính đến trước Pháp lệnh TTTM 2003, toàn quốc có 5 Trung tâm TTKT (Hà Nội, Thăng Long, Sài Gòn, Bắc Giang, Cần Thơ). Hạn chế cơ bản của giai đoạn này là thẩm quyền hẹp (chỉ giải quyết 3 loại tranh chấp: hợp đồng kinh tế, nội bộ công ty, mua bán cổ phiếu/trái phiếu), không có hình thức trọng tài vụ việc (ad-hoc), phán quyết không được cưỡng chế thi hành trực tiếp bởi cơ quan thi hành án mà phải khởi kiện lại ra Tòa án.
- Trọng tài giải quyết tranh chấp quốc tế: Hội đồng Trọng tài Ngoại thương (thành lập theo Nghị định 59/CP ngày 30/4/1963) và Hội đồng Trọng tài Hàng hải (thành lập theo Nghị định 153/CP ngày 05/10/1964) bên cạnh Phòng Thương mại Việt Nam. Đến năm 1993, hai hội đồng sáp nhập thành Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) theo Quyết định 204/TTg ngày 28/4/1993. Năm 1994, Quyết định 114/TTg mở rộng thẩm quyền của VIAC sang giải quyết cả các tranh chấp kinh doanh nội địa.
- Giai đoạn thi hành Pháp lệnh TTTM 2003: Xác lập khung pháp lý thống nhất cho trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc. Đến thời điểm nghiên cứu, cả nước có 6 TTTT hoạt động (VIAC, Hà Nội, Á Châu, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, và Trung tâm Trọng tài Quốc tế Thái Bình Dương thành lập tháng 8/2006; Trung tâm TTKT Bắc Giang đã chấm dứt hoạt động).
| Giai đoạn thể chế |
Văn bản pháp lý nền tảng |
Tính chất tổ chức |
Phạm vi thẩm quyền |
Hiệu lực thi hành phán quyết |
| TTKT Nhà nước (1960 - 1994) |
Nghị định 20/TTg (1960), Pháp lệnh TTKT (1990) |
Cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp |
Tranh chấp hợp đồng kinh tế quốc doanh, chỉ tiêu pháp lệnh |
Quyết định hành chính - tài phán bắt buộc, không cưỡng chế tư pháp |
| TTKT Phi chính phủ (1994 - 2003) |
Nghị định 116/CP (1994) |
Tổ chức xã hội - nghề nghiệp (Trung tâm TTKT) |
3 loại: Hợp đồng kinh tế, nội bộ công ty, cổ phiếu/trái phiếu |
Không có hiệu lực cưỡng chế trực tiếp; phải khởi kiện lại tại TAND |
| Trọng tài thương mại (2003 - 2007) |
Pháp lệnh TTTM (2003) |
Tổ chức phi chính phủ (gồm trọng tài quy chế và ad-hoc) |
Mọi tranh chấp phát sinh từ "hoạt động thương mại" |
Chung thẩm, thi hành trực tiếp theo pháp luật thi hành án dân sự |
- Bảy yếu tố chi phối chất lượng hoạt động của TTTM:
- Chế độ chính trị - kinh tế của mỗi quốc gia;
- Trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường;
- Mức độ hoàn thiện của pháp luật về TTTM và pháp luật liên quan;
- Truyền thống văn hóa và nhận thức của giới doanh nhân về TTTM;
- Yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế;
- Sự hỗ trợ và giám sát của Nhà nước (đặc biệt là Tòa án) đối với trọng tài;
- Phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn của đội ngũ TTV.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về Trọng tài thương mại
Chương 2 tập trung phân tích các quy định của Pháp lệnh TTTM năm 2003, đối chiếu với thực tiễn thực hiện và chỉ ra các điểm vướng mắc:
-
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài:
Pháp lệnh TTTM năm 2003 đã mở rộng thẩm quyền theo khái niệm "hoạt động thương mại" tại Khoản 3 Điều 2 với 14 nhóm hành vi thương mại cụ thể và quy định quét, tương thích với Luật Mẫu UNCITRAL 1985 và Luật Thương mại 2005. Tuy nhiên, ranh giới thẩm quyền giữa TAND và TTTM đối với một số tranh chấp dân sự có yếu tố sinh lợi hoặc tranh chấp liên quan đến người tiêu dùng vẫn chưa được phân định rõ ràng.
-
Quy định về thỏa thuận trọng tài:
Pháp luật hiện hành đã công nhận nguyên tắc hiệu lực độc lập của thỏa thuận trọng tài đối với hợp đồng chính. Tuy nhiên, quy định về hình thức thỏa thuận trọng tài bằng văn bản còn khắt khe; các trường hợp dẫn đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu (như người xác lập không có thẩm quyền, bị lừa dối, đe dọa) còn thiếu hướng dẫn cụ thể, dẫn đến việc Tòa án dễ dàng tuyên thỏa thuận trọng tài vô hiệu để thụ lý vụ án theo thẩm quyền tư pháp.
-
Tổ chức trọng tài và đội ngũ Trọng tài viên:
Quy định tiêu chuẩn TTV theo Pháp lệnh 2003 đã có sự mở rộng so với Nghị định 116/CP (bỏ yêu cầu 8 năm công tác liên tục kết hợp bắt buộc có bằng cử nhân luật). Tuy nhiên, cơ chế chỉ định, thay thế TTV, việc lập danh sách TTV tại các TTTT còn thiếu tính linh hoạt; quy định chưa cho phép TTV nước ngoài tham gia xét xử các tranh chấp tại Việt Nam một cách thuận lợi.
-
Mối quan hệ giữa Tòa án và Trọng tài trong tố tụng:
- Về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: HĐTT không có thẩm quyền tự mình ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà phải phụ thuộc vào TAND. Thủ tục yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời còn phức tạp, làm giảm tính kịp thời trong việc bảo toàn tài sản hoặc chứng cứ.
- Về thu thập chứng cứ và triệu tập nhân chứng: Trọng tài thiếu công cụ pháp lý để yêu cầu bên thứ ba cung cấp tài liệu hoặc buộc nhân chứng xuất trình lời khai nếu họ không tự nguyện.
- Về hủy phán quyết trọng tài: Căn cứ hủy phán quyết trọng tài quy định tại Điều 53, 54 Pháp lệnh TTTM 2003 còn tương đối rộng, tạo kẽ hở cho bên thua kiện lợi dụng yêu cầu Tòa án can thiệp sâu vào nội dung phán quyết, làm kéo dài thời gian thi hành.
- Thực trạng hoạt động của các tổ chức trọng tài:
Ngoại trừ VIAC duy trì mức thụ lý và giải quyết trung bình khoảng 20 vụ/năm và khẳng định được uy tín, các TTTT địa phương còn lại (Hà Nội, Á Châu, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Thái Bình Dương) hoạt động cầm chừng, số lượng vụ việc thụ lý rất ít. Nguyên nhân chính là do sự thiếu tin tưởng của cộng đồng doanh nghiệp, sự thiếu chủ động của các TTTT và những bất cập từ chính quy định của Pháp lệnh TTTM 2003.
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam
Chương 3 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp lập pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng TTTM trong bối cảnh hội nhập quốc tế:
- Quan điểm và định hướng hoàn thiện:
- Thể chế hóa đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chiến lược cải cách tư pháp;
- Bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn định và minh bạch của hệ thống pháp luật kinh tế;
- Nâng cao mức độ tương thích của pháp luật TTTM Việt Nam với Luật Mẫu UNCITRAL 1985, Công ước New York 1958 và thông lệ trọng tài quốc tế;
- Tôn trọng và bảo đảm tối đa quyền tự do định đoạt, tự do thỏa thuận của các bên đương sự trong việc lựa chọn phương thức tài phán;
- Phân định rõ chức năng hỗ trợ và giám sát của Tòa án đối với trọng tài theo hướng hỗ trợ tối đa, hạn chế can thiệp vào nội dung phán quyết.
- Các giải pháp cụ thể:
- Nâng cấp hình thức văn bản: Kiến nghị Quốc hội sớm ban hành Luật Trọng tài thương mại thay thế Pháp lệnh TTTM năm 2003 nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc và nâng cao vị thế của trọng tài;
- Mở rộng thẩm quyền trọng tài: Cho phép TTTM giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại và các tranh chấp khác mà pháp luật không cấm hoặc các bên có thỏa thuận lựa chọn trọng tài;
- Hoàn thiện chế định thỏa thuận trọng tài: Giải thích rộng rãi hình thức văn bản của thỏa thuận trọng tài (bao gồm dữ liệu điện tử, fax, telex, trao đổi đơn kiện); thu hẹp các trường hợp vô hiệu của thỏa thuận trọng tài nhằm bảo đảm giá trị ràng buộc của cam kết trọng tài;
- Mở rộng tiêu chuẩn và quyền lựa chọn TTV: Cho phép các chuyên gia nước ngoài, luật sư nước ngoài được hành nghề TTV tại Việt Nam; giảm thiểu các rào cản hành chính trong việc xét chọn và công nhận TTV;
- Tăng cường thẩm quyền của HĐTT: Trao quyền cho HĐTT được tự mình ra quyết định áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời cần thiết; quy định cơ chế hỗ trợ của Tòa án trong việc triệu tập nhân chứng và thu thập chứng cứ theo yêu cầu của HĐTT;
- Hoàn thiện quy định về hủy phán quyết trọng tài: Quy định chặt chẽ, cụ thể các căn cứ hủy phán quyết theo đúng tinh thần Điều 34 Luật Mẫu UNCITRAL; nghiêm cấm Tòa án xét xử lại nội dung tranh chấp;
- Nâng cao hiệu quả thi hành phán quyết trọng tài: Quy định thủ tục thi hành phán quyết trọng tài nhanh gọn, bình đẳng với bản án của Tòa án, tăng cường trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các đóng góp mới về khoa học pháp lý và thực tiễn:
- Về mặt lý luận:
- Luận chứng khoa học rằng TTTM đích thực chỉ có thể ra đời, tồn tại và phát huy vai trò trong các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định: tự do sở hữu, tự do kinh doanh, tôn trọng sự thỏa thuận của các nhà kinh doanh trong giải quyết tranh chấp. Luận giải nguyên nhân trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây chỉ tồn tại biến dạng là TTKT Nhà nước (cơ quan hành chính - tài phán).
- Làm rõ bản chất pháp lý của TTTM là phương thức tài phán tư dựa trên cơ sở ủy nhiệm quyền lực hợp đồng của các bên đương sự; phân tích có hệ thống 7 ưu thế nổi trội của TTTM.
- Xác định và phân tích 7 yếu tố chi phối chất lượng hoạt động của TTTM (chế độ chính trị - kinh tế; trình độ phát triển kinh tế; mức độ hoàn thiện pháp luật; truyền thống văn hóa và nhận thức doanh nhân; yêu cầu hội nhập; sự hỗ trợ của Nhà nước; phẩm chất đạo đức, chuyên môn của TTV), tạo khung lý thuyết để hoạch định chính sách.
- Về mặt thực tiễn và lập pháp:
- Phân tích có hệ thống những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật TTTM Việt Nam với pháp luật quốc tế (Luật Mẫu UNCITRAL 1985, Công ước New York 1958), xác định các điểm cần sửa đổi theo xu hướng nhất thể hóa pháp luật trọng tài;
- Phát hiện các điểm bất cập, vướng mắc thực tế của Pháp lệnh TTTM 2003 trong các chế định thỏa thuận trọng tài, cơ chế áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hủy phán quyết trọng tài và thi hành phán quyết;
- Đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng và các giải pháp lập pháp cụ thể phục vụ việc nâng cấp Pháp lệnh TTTM năm 2003 thành Luật Trọng tài thương mại, bảo đảm mở rộng thẩm quyền và bảo đảm quyền bình đẳng giữa thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án: Luận án tập trung nghiên cứu khung pháp luật TTTM tổng quát và thực trạng tổ chức, hoạt động của các TTTT tại Việt Nam trong giai đoạn thi hành Pháp lệnh TTTM 2003. Luận án chưa thể bao quát sâu các quy tắc tố tụng chi tiết đối với từng lĩnh vực thương mại chuyên biệt đặc thù (như trọng tài bảo hiểm hàng hải, trọng tài sở hữu trí tuệ, trọng tài xây dựng quốc tế FIDIC).
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định cụ thể khi dự thảo Luật Trọng tài thương mại được xây dựng và trình Quốc hội;
- Nghiên cứu cơ chế phối hợp chi tiết giữa Tòa án nhân dân và Hội đồng Trọng tài trong việc thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng và thi hành các biện pháp khẩn cấp tạm thời;
- Đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại Việt Nam sau khi gia nhập WTO và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các TTTT Việt Nam trên trường quốc tế.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, nâng cấp Pháp lệnh TTTM năm 2003 thành Luật Trọng tài thương mại, xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm tạo môi trường pháp lý tương thích với chuẩn mực quốc tế;
- Đối với giới doanh nhân và luật sư: Tài liệu giúp hiểu rõ bản chất, trình tự tố tụng và các ưu thế của TTTM để vận dụng hiệu quả trong quá trình đàm phán hợp đồng và xử lý tranh chấp kinh doanh;
- Đối với các cơ sở đào tạo luật học: Tài liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy các học phần Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế, Tư pháp quốc tế và Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định bản chất của Trọng tài thương mại là gì và khác gì so với Tòa án?
Luận án xác định TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính tài phán tư, kết hợp hai yếu tố: thỏa thuận và tài phán. Quyền lực của trọng tài là "quyền lực hợp đồng" hay "quyền lực đại diện" do các bên tranh chấp ủy nhiệm thông qua thỏa thuận trọng tài. Phán quyết trọng tài mang tính đại diện cho ý chí của các bên chứ không nhân danh quyền lực tư pháp của Nhà nước như Tòa án.
2. Tại sao trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung (1960 - 1994) ở Việt Nam không có Trọng tài thương mại đích thực?
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước chỉ huy nền kinh tế thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh. Doanh nghiệp nhà nước không có quyền tự do hợp đồng, tự do thỏa thuận và tự do định đoạt phương thức giải quyết tranh chấp. Hợp đồng kinh tế được ký kết nhằm phục vụ kế hoạch nhà nước nên khi phát sinh tranh chấp phải do cơ quan nhà nước (TTKT Nhà nước thuộc nhánh hành pháp) giải quyết để bảo đảm kỷ luật kế hoạch. Do thiếu quyền tự do kinh doanh và tự do hợp đồng nên TTTM phi chính phủ không có điều kiện ra đời và tồn tại.
3. Bảy ưu thế nổi bật của Trọng tài thương mại được luận án phân tích gồm những gì?
Bảy ưu thế gồm: (1) Bảo đảm bí mật kinh doanh và uy tín nghề nghiệp nhờ xét xử kín; (2) Tố tụng thân thiện, duy trì quan hệ hợp tác lâu dài; (3) Thủ tục đơn giản, xét xử một cấp nhanh gọn, tiết kiệm thời gian; (4) Tính linh hoạt cao, bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên; (5) Tính chính xác cao nhờ TTV có chuyên môn kỹ thuật sâu; (6) Không mang quyền lực tư pháp nhà nước, phù hợp tranh chấp quốc tế; (7) Phán quyết được công nhận và thi hành ở nước ngoài theo Công ước New York 1958.
4. Bảy yếu tố chi phối chất lượng hoạt động của Trọng tài thương mại theo luận án là gì?
Bảy yếu tố gồm: (1) Tính chất chế độ chính trị - kinh tế của quốc gia; (2) Trình độ phát triển của nền kinh tế; (3) Mức độ hoàn thiện của pháp luật TTTM và pháp luật liên quan; (4) Truyền thống văn hóa và nhận thức của giới doanh nhân; (5) Yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế; (6) Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với trọng tài; (7) Phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn của đội ngũ TTV.
5. Tình hình các Trung tâm Trọng tài tại Việt Nam tính đến thời điểm nghiên cứu (2006 - 2007) được luận án ghi nhận như thế nào?
Sau khi Pháp lệnh TTTM 2003 có hiệu lực, cả nước có 6 TTTT hoạt động: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), TTTT Hà Nội, TTTT Á Châu, TTTT TP. Hồ Chí Minh, TTTT Cần Thơ và TTTT Quốc tế Thái Bình Dương (thành lập tháng 8/2006). Trung tâm TTKT Bắc Giang đã chấm dứt hoạt động. Ngoài VIAC giải quyết trung bình khoảng 20 vụ/năm, các trung tâm còn lại hoạt động rất hạn chế và số lượng vụ việc thụ lý không đáng kể.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đình Thơ là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử và thực trạng pháp luật TTTM Việt Nam sau khi ban hành Pháp lệnh TTTM năm 2003. Tác giả đã làm sáng tỏ bản chất tài phán tư của trọng tài, hệ thống hóa 7 ưu thế và 7 yếu tố chi phối chất lượng hoạt động trọng tài trong nền kinh tế thị trường. Dựa trên việc phân tích những bất cập của pháp luật thực định và đối chiếu với Luật Mẫu UNCITRAL 1985, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp có giá trị khoa học nhằm nâng cấp Pháp lệnh TTTM 2003 thành Luật Trọng tài thương mại, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.