Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế, các quan hệ kinh doanh, thương mại ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp. Sự gia tăng về số lượng, quy mô và tính chất gay gắt của các giao dịch thương mại tất yếu dẫn đến sự gia tăng các tranh chấp kinh tế. Khi các bên không thể tự thương lượng hoặc hòa giải, việc tìm đến cơ quan tài phán Nhà nước — Tòa án nhân dân — là phương thức phổ biến và mang tính bắt buộc thi hành cao nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án nhân dân được bảo đảm bằng quyền lực cưỡng chế của Nhà nước thông qua đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.

Tuy nhiên, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại giữa các cấp Tòa án và giữa Tòa án với các cơ quan, tổ chức tài phán khác vẫn còn tồn tại nhiều điểm chồng chéo, vướng mắc trong cả quy định lập pháp lẫn thực tiễn thi hành. Việc phân định chính xác thẩm quyền có ý nghĩa then chốt nhằm tránh sự đùn đẩy, chậm trễ thụ lý, bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật tố tụng dân sự.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án; làm rõ vị trí, vai trò của Tòa án; chỉ ra những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng; từ đó luận giải cơ sở lý luận và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và nâng cao chất lượng xét xử.

Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Phân tích nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại.
  2. Nghiên cứu thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật, chỉ ra những bất cập, hạn chế, vướng mắc trong thực thi pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp thương mại.
  3. Đề xuất một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành và thực tiễn giải quyết án kinh doanh, thương mại tại hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022.

Cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.

Cơ sở pháp lý nền tảng được tác giả khai thác bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013;
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (thay thế Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011);
  • Luật Thương mại năm 2005 (kế thừa và mở rộng từ Luật Thương mại năm 1997);
  • Luật Doanh nghiệp năm 2020 (so sánh với Luật Doanh nghiệp năm 2014);
  • Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014;
  • Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/09/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử.

Bên cạnh đó, tác giả kế thừa và đối chiếu kết quả từ các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trước đó, bao gồm:

  • Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Vân Anh (2020) về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại;
  • Luận văn thạc sĩ của Lê Ngọc Anh (2019) về thực tiễn áp dụng tại TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa;
  • Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Phương Linh (2010) về thực tiễn tại TAND quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội;
  • Bài viết của Nguyễn Duy Phương (2015) trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 1 (281);
  • Giáo trình và các tài liệu chuyên khảo: Sách "Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015" do Trần Anh Tuấn chủ biên (2017), Kỷ yếu hội thảo khoa học "Bình luận những điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành" của Trường Đại học Luật Hà Nội (2016).

Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được sử dụng kết hợp gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích từng chế định, quy định cụ thể của pháp luật tố tụng dân sự qua từng giai đoạn, từ đó tổng hợp, đánh giá ưu điểm và hạn chế của khung pháp lý hiện hành.
  • Phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế - xã hội: Áp dụng các kỹ thuật thống kê số liệu, đối chiếu, diễn giải, quy nạp và so sánh luật học nhằm làm rõ bản chất tranh chấp và thực trạng công tác thụ lý, xét xử vụ án kinh doanh, thương mại trên thực tế.

Nguồn dữ liệu thực chứng được trích xuất từ Báo cáo tổng kết công tác năm 2022 và phương hướng nhiệm vụ năm 2023 của Tòa án nhân dân tối cao, cùng các bản án thực tế (tiêu biểu là Bản án số 02/2023/KDTM-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Khái quát chung về tranh chấp thương mại và thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại

Chương I tập trung làm rõ hệ thống lý luận cơ bản về tranh chấp thương mại, các phương thức giải quyết tranh chấp và bản chất thẩm quyền tài phán của Tòa án nhân dân.

  1. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp thương mại:

    • Tác giả phân tích sự tiến triển trong quan niệm lập pháp từ Luật Thương mại 1997 (chỉ giới hạn trong vi phạm hợp đồng thương mại) đến Luật Thương mại 2005 (khoản 1 Điều 3 mở rộng thành mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại...) tương thích với khái niệm "kinh doanh" tại khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020.
    • 4 đặc điểm cốt lõi của tranh chấp thương mại được chỉ ra: (1) Căn cứ phát sinh mâu thuẫn gắn liền với hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận; (2) Chủ thể tham gia chủ yếu là thương nhân (ngoại trừ một số giao dịch đặc thù có sự tham gia của cá nhân, tổ chức không phải thương nhân theo quy định tại khoản 4 Điều 30 BLTTDS hoặc khoản 3 Điều 1 LTM 2005); (3) Nội dung tranh chấp liên quan trực tiếp đến quan hệ tài sản có giá trị lớn (mua bán, phân phối, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, cơ cấu vốn nội bộ công ty...); (4) Tính chất đa dạng, phức tạp và có thể liên đới nhiều mối quan hệ kinh tế đan xen.
  2. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại: Khóa luận so sánh 4 phương thức luật định:

    • Thương lượng: Do các bên tự dàn xếp, không qua bên thứ ba, bảo mật cao và tiết kiệm chi phí nhưng phụ thuộc hoàn toàn vào sự tự nguyện.
    • Hòa giải: Có bên thứ ba hỗ trợ kết nối, tìm tiếng nói chung; quyền định đoạt vẫn thuộc về các đương sự.
    • Trọng tài thương mại: Giải quyết thông qua Hội đồng trọng tài hoặc Trọng tài viên độc lập; phán quyết mang tính chung thẩm, bảo đảm bí mật kinh doanh và linh hoạt về lãnh thổ, nhưng chi phí cao và khâu thi hành có thể gặp khó khăn.
    • Tòa án nhân dân: Cơ quan xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước, tiến hành theo trình tự tố tụng nghiêm ngặt qua hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Phán quyết của Tòa án mang tính bắt buộc và được bảo đảm thi hành bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước.
  3. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án: Thẩm quyền của TAND trong giải quyết tranh chấp thương mại là quyền và phạm vi giới hạn do luật định cho phép Tòa án xem xét, thụ lý, giải quyết các vụ án, vụ việc theo thủ tục tố tụng và ban hành bản án, quyết định có hiệu lực thi hành.

Chương II: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam hiện nay

Chương II đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định theo 4 góc độ thẩm quyền dân sự và đánh giá số liệu thực tiễn thi hành giai đoạn 2018–2022.

  1. Thẩm quyền của Tòa án theo loại việc (Điều 30 BLTTDS 2015):

    • Khoản 1 Điều 30: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Tác giả chỉ ra bất cập lớn: việc xác định "mục đích lợi nhuận" trên thực tế rất phức tạp (ví dụ hợp đồng tư vấn kỹ thuật phục vụ cải tiến sản xuất). Đồng thời, tiêu chí "có đăng ký kinh doanh" theo hướng dẫn tại Công văn 212/TANDTC-PC ngày 13/09/2019 xác định tranh chấp giữa doanh nghiệp bảo hiểm với người mua bảo hiểm không đăng ký kinh doanh là quan hệ dân sự, gây ra sự bất hợp lý khi các bên đều tham gia giao dịch với ý chí kinh tế.
    • Khoản 2 Điều 30: Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức có mục đích lợi nhuận. Quy định này dễ xung đột với khoản 4 Điều 26 BLTTDS (tranh chấp dân sự về SHTT) do thiếu tiêu chí phân định rõ ràng giữa mục đích lợi nhuận và mục đích tiêu dùng/nghiên cứu thuần túy, trong khi hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP đã hết hiệu lực.
    • Khoản 3 Điều 30: Bổ sung tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp/cổ phần với công ty, thành viên công ty, giải quyết được khoảng trống pháp lý của BLTTDS 2004.
    • Khoản 4 Điều 30: Tranh chấp nội bộ công ty (giữa công ty với thành viên, giữa thành viên với nhau, giữa công ty với người quản lý). Luật Doanh nghiệp 2020 đã hạ tỷ lệ khởi kiện người quản lý của cổ đông/nhóm cổ đông xuống ít nhất 1% cổ phần phổ thông. Tuy nhiên, luật chưa bao quát dạng tranh chấp giữa thành viên với người quản lý công ty về điều hành nội bộ (minh chứng qua Bản án số 02/2023/KDTM-PT tại TAND TP. Đà Nẵng).
    • Khoản 5 Điều 30: Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác (như cơ quan quản lý cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh).
  2. Thẩm quyền của Tòa án theo cấp (Điều 35, 37 BLTTDS 2015):

    • TAND cấp huyện: Giải quyết sơ thẩm các tranh chấp thuộc khoản 1 Điều 30 BLTTDS (không có yếu tố nước ngoài). Thực tế một số nơi như TAND tỉnh Bình Dương đã thành lập Tòa Dân sự/Hình sự tại 6 đơn vị cấp huyện (Dầu Tiếng, Dĩ An, Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên, Thủ Dầu Một) để chuyên môn hóa.
    • TAND cấp tỉnh: Giải quyết sơ thẩm các tranh chấp tại khoản 2, 3, 4 Điều 30 hoặc tranh chấp phức tạp, có yếu tố nước ngoài (tài sản/đương sự ở nước ngoài hoặc cần ủy thác tư pháp) theo khoản 3 Điều 35. Bất cập xảy ra tại khoản 2 Điều 37 khi quy định TAND cấp tỉnh tự mình hoặc theo đề nghị lấy vụ án thuộc cấp huyện lên giải quyết nhưng thiếu tiêu chí định lượng về "tính chất phức tạp", dẫn đến tình trạng án tồn đọng tại cấp huyện.
  3. Thẩm quyền theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của đương sự (Điều 39, 40 BLTTDS 2015):

    • Theo lãnh thổ: Nguyên tắc chung là TAND nơi bị đơn cư trú, làm việc (cá nhân) hoặc có trụ sở (tổ chức); tranh chấp bất động sản thuộc thẩm quyền duy nhất của Tòa án nơi có bất động sản.
    • Theo sự lựa chọn của nguyên đơn (Điều 40): Cho phép nguyên đơn chủ động nộp đơn tại Tòa án nơi cư trú/trụ sở cuối cùng hoặc nơi có tài sản của bị đơn khi không rõ địa chỉ; TAND nơi có chi nhánh thực hiện giao dịch; TAND nơi thực hiện hợp đồng; hoặc TAND nơi có một trong các bất động sản đang tranh chấp.
  4. Số liệu thực tiễn thi hành: Theo Báo cáo tổng kết của TAND tối cao, năm 2022 toàn ngành Tòa án đã thụ lý 16.661 vụ việc kinh doanh thương mại, giải quyết/xét xử được 11.775 vụ việc (đạt tỷ lệ 70,67%). Trong đó:

    • Thụ lý sơ thẩm: 15.130 vụ việc (đã giải quyết 10.483 vụ việc).
    • Thụ lý phúc thẩm: 1.383 vụ việc (đã giải quyết 1.172 vụ việc).
    • Thụ lý giám đốc thẩm, tái thẩm: 148 vụ việc (đã giải quyết 120 vụ việc).
    • Thụ lý 240 đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (đã giải quyết 121 đơn, đạt 50,42%; ra quyết định tuyên bố phá sản với 58 doanh nghiệp, đình chỉ tiến hành thủ tục với 36 doanh nghiệp và 01 hợp tác xã).

Bảng tổng hợp tình hình thụ lý và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại qua các năm (2018–2022):

Năm Tổng số vụ việc TAND thụ lý và giải quyết Số vụ án kinh doanh, thương mại Tỷ lệ vụ án KDTM trên tổng số án (%)
2018 558.152 15.439 2,77%
2019 432.666 14.517 3,36%
2020 602.252 19.256 3,20%
2021 411.298 16.577 4,03%
2022 444.402 16.661 3,75%

Chương III: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại

Trên cơ sở nhận diện các điểm nghẽn, chương III đưa ra hai nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:

    • Kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS 2015: TAND tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết mới của Hội đồng Thẩm phán thay thế cho Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP đã hết hiệu lực, làm rõ tiêu chí xác định "mục đích lợi nhuận", căn cứ phân loại tranh chấp SHTT và tranh chấp nội bộ doanh nghiệp.
    • Thống nhất nội hàm khái niệm kinh doanh, thương mại: Rà soát và bảo đảm tính đồng bộ giữa Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp và Bộ luật Tố tụng dân sự trong việc xác định tư cách chủ thể tham gia quan hệ kinh tế.
    • Hoàn thiện quyền tự do lựa chọn Tòa án của đương sự: Bổ sung cơ chế rõ ràng cho phép các bên thỏa thuận lựa chọn Tòa án đối với các tranh chấp đặc thù như quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ.
    • Hoàn thiện quy định về thẩm quyền theo cấp: Ban hành hướng dẫn cụ thể về tiêu chí "vụ án có tính chất phức tạp" tại khoản 2 Điều 37 BLTTDS 2015 để TAND cấp tỉnh rút án lên giải quyết kịp thời, khắc phục tình trạng quá tải, ứ đọng án tại TAND cấp huyện.
  2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:

    • Tăng cường công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật: Tổ chức giải đáp trực tuyến, ban hành án lệ chuyên sâu về kinh doanh thương mại nhằm thống nhất quan điểm xét xử giữa các cấp Tòa án trên phạm vi toàn quốc.
    • Nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân: Chú trọng đào tạo chuyên sâu về tài chính, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế để đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ án thương mại phức tạp trong thời kỳ hội nhập.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được những kết quả và đóng góp học thuật thực chất:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về 4 phương thức giải quyết tranh chấp thương mại (thương lượng, hòa giải, trọng tài, Tòa án) và xác lập vị trí tài phán quyền lực công của hệ thống TAND.
  • Phân tích chi tiết thẩm quyền dân sự của Tòa án trên 4 phương diện: loại việc (Điều 30), theo cấp (Điều 35, 37), theo lãnh thổ (Điều 39) và theo sự lựa chọn của đương sự (Điều 40 BLTTDS 2015).
  • Nhận diện chính xác các khoảng trống pháp lý thực tế: việc hết hiệu lực của Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP; sự cứng nhắc của tiêu chí "có đăng ký kinh doanh" theo Công văn 212/TANDTC-PC; nguy cơ bỏ sót tranh chấp giữa thành viên với người quản lý công ty (dẫn chứng từ Bản án 02/2023/KDTM-PT); và tính thiếu định lượng của quy định cấp tỉnh rút án tại Điều 37.
  • Cập nhật chuỗi số liệu thực chứng giai đoạn 2018–2022 phản ánh tỷ lệ giải quyết án KDTM năm 2022 đạt 70,67% (11.775/16.661 vụ việc).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi mang tính khả thi nhằm hoàn thiện cơ chế phân định thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong bối cảnh cải cách tư pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tập trung phân tích thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các đạo luật liên quan tại Việt Nam. Do giới hạn về phạm vi và thời điểm nghiên cứu (năm 2023), tác giả chủ yếu khai thác số liệu thực tiễn công tác Tòa án giai đoạn 2018–2022 và các bản án công khai tiêu biểu. Đề tài chưa đi sâu phân tích toàn diện các quy định về thẩm quyền công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài hoặc bản án của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo dõi quá trình xây dựng, ban hành Nghị quyết mới của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thay thế Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP, cũng như nghiên cứu sâu hơn về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại xuyên biên giới và tác động của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Đất đai sửa đổi đối với thẩm quyền của Tòa án.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học, Luật Thương mại, Luật Kinh tế phục vụ học tập, nghiên cứu môn Luật Tố tụng dân sự và Pháp luật thương mại.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu pháp luật cần nguồn tài liệu tổng hợp hệ thống quy định pháp luật thực định và chuỗi số liệu xét xử án kinh doanh thương mại giai đoạn 2018–2022.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và người làm công tác thực tiễn pháp lý trong việc tra cứu, nhận diện thẩm quyền thụ lý, xây dựng đơn khởi kiện và phân định thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại có tranh chấp phức tạp về nội bộ công ty hay quyền sở hữu trí tuệ.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015, tranh chấp thương mại cần đáp ứng những điều kiện nào để thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án? Tranh chấp phải đáp ứng đồng thời hai điều kiện: phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại mà các bên đều có mục đích lợi nhuận; và các chủ thể tham gia tranh chấp đều phải là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.

2. Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/09/2019 hướng dẫn xác định loại việc đối với tranh chấp bảo hiểm như thế nào? Công văn 212/TANDTC-PC hướng dẫn: nếu người mua bảo hiểm có đăng ký kinh doanh thì tranh chấp giữa doanh nghiệp bảo hiểm với người mua bảo hiểm là tranh chấp kinh doanh, thương mại; nếu người mua bảo hiểm không có đăng ký kinh doanh thì vụ việc được xác định là tranh chấp dân sự.

3. Theo Điều 40 BLTTDS 2015, nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp trong những trường hợp cụ thể nào? Nguyên đơn được quyền lựa chọn Tòa án thụ lý khi: không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn (chọn nơi cư trú/trụ sở cuối cùng hoặc nơi có tài sản); tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức (chọn TAND nơi có chi nhánh); tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng (chọn TAND nơi thực hiện hợp đồng); tranh chấp có nhiều bị đơn ở các nơi khác nhau; hoặc tranh chấp liên quan đến nhiều bất động sản ở các địa phương khác nhau.

4. Tỷ lệ giải quyết án kinh doanh, thương mại của ngành Tòa án trong năm 2022 đạt kết quả ra sao? Trong năm 2022, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 16.661 vụ việc kinh doanh, thương mại và đã giải quyết, xét xử được 11.775 vụ việc, đạt tỷ lệ 70,67% (trong đó thụ lý sơ thẩm 15.130 vụ, giải quyết 10.483 vụ; thụ lý phúc thẩm 1.383 vụ, giải quyết 1.172 vụ; thụ lý giám đốc thẩm/tái thẩm 148 vụ, giải quyết 120 vụ).

5. Vướng mắc pháp lý lớn nhất liên quan đến việc hướng dẫn thi hành các quy định về thẩm quyền tại Điều 30 BLTTDS 2015 là gì? Vướng mắc lớn nhất là Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành BLTTDS cũ đã hết hiệu lực, trong khi TAND tối cao chưa ban hành Nghị quyết mới thay thế để hướng dẫn cụ thể về dấu hiệu "mục đích lợi nhuận", phân định thẩm quyền đối với tranh chấp sở hữu trí tuệ và tranh chấp nội bộ công ty.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Đắc Quyên đã nghiên cứu và hệ thống hóa toàn diện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án nhân dân. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các chế định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 kết hợp với chuỗi số liệu xét xử thực tế giai đoạn 2018–2022, công trình đã chỉ rõ những bất cập lập pháp và khoảng trống hướng dẫn thi hành. Các phương hướng, giải pháp hoàn thiện khung pháp luật và nâng cao năng lực đội ngũ Thẩm phán được đề xuất có giá trị thực tiễn rõ rệt, đóng góp tích cực cho tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam.