CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VE GIẢI QUYÉT TRANH CHAP LIÊN QUAN DEN YEU CAU TUYEN BO VAN BAN CONG CHUNG VO HIEU 1. Khái quát về văn ban công chứng và văn ban công chứng vô hiệu 1. Khái niệm, đặc điểm của văn bản công chứng a) Khai niệm văn bản công chứng Theo luật La Mã, công chứng viên là người ghi chép, thư ký, tốc ký, người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của tòa án, hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy chuyên nhượng sở hữu. Theo cách giải thích trên, xét về nguồn gốc, công chứng là nghề sớm xuat hiện trong lịch sử loài người (từ thời La Mã cô đại), với vai trò ghi chép, soạn thảo văn bản và làm chứng [35].
Trên thế giới, định nghĩa về công chứng ở mỗi quốc gia, mỗi hệ thống pháp luật có nhiều cách hiểu khác nhau. Ví dụ: Theo Điều 2 của Luật công chứng số 39 năm 2014 của Trung Quốc, công chứng nghĩa là hoạt động được thực hiện bởi một tổ chức hành nghề công chứng, theo đơn đề nghị của một cá nhân hoặc pháp nhân hoặc tổ chức khác, theo đúng quy trình luật định để chứng nhận tính xác thực và hợp pháp của một hành vi pháp lý dân sự, một sự kiện pháp lý có thật hoặc một văn bản pháp lý quan trọng [36]. Theo báo cáo của Hiệp hội công chứng viên Hàn Quốc, “Công chứng là hệ thống lưu giữ chứng cứ dạng văn bản, nhằm ngăn ngừa tranh chấp và tạo điều kiện để thực hiện các quyền của cá nhân” [38]. Tại Pháp định nghĩa về công chứng như sau: “Bên cạnh việc là các viên chức hòa giải và phân xử các tranh chấp, và các viên chức đàm phán hoà bình khác, những người đưa ra các tư vấn công tâm cho các bên, cũng như là người soạn thảo một cách chí công vô tư theo ý chí của các bên, giúp cho các bên nhận thức được đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng mà họ ký kết, soạn thảo các cam kết này một cách rõ ràng, cung cấp cho họ bản chất xác thực của một hành động và sự phán đoán đáng tin cậy như là phương sách tối ưu, lưu giữ sự kiện và hd sơ của họ một cách trung thực, ngăn ngừa tranh chấp có thể xảy ra giữa các bên có thiện chí và loại bỏ những bên tham lam có mục đích và hy vọng thành công trong việc tạo nên những tranh chấp bất công.
Những chuyên viên tư vấn không vụ lợi, những người soạn thảo không thiên vị này như những thâm phán tự nguyện mà ràng buộc các bên tham gia hợp đồng một cách không thể hủy ngang là những công chứng viên. Thể chế này là chuyên môn nghề nghiệp của công chứng viên. Có thé nhận thấy, mặc di các nước trên thế giới quy đinh phạm vi bao hoam hoạt động công chứng không giống nhau nhưng những đặc điểm, nội dung, cơ bản trong hầu hết các định nghĩa về công chứng, đó là việc “xác thực”, “ghi chép lại bằng văn bản”, “lưu giữ” và “được thực hiện bởi công chứng viên”. Văn bản công chứng là giải pháp hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch từ đó phòng ngừa và hạn chế tranh chấp xảy ra.
Ở Việt Nam, công chứng được hình thành từ những năm 80 của thế kỷ XIX. Thuật ngữ “văn bản công chứng” được sử dụng lần đầu tiên tại thông tư số 858/QLTP ngày 15/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn các việc làm đảm bảo đúng quy định về thủ tục lập văn bản công chứng. Mặc đù mới chỉ dừng lại ở việc quy định các yêu cầu về thê thức của văn bản công chứng, quy định này đã đặt nền tang cho sự hình thành quy định về mặt hình thức của văn bản công chứng sau nay— một loại văn bản đặc thù. Hệ thống công chứng ở nước ta được xem là chính thức thành lập ké từ khi Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27-2-1991 về Công chứng nhà nước.
Tiếp đó, Chính phủ ban hành nghị định số 31/CP ngày 18-5-1996 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. Nhìn chung, hầu hết các quy định pháp luật trong thời kỳ này không có sự phân biệt rõ giữa hoạt động chứng thực và hoạt động công chứng văn bản nên trong quá trình giải quyết những tranh chấp phát sinh từ hai loại văn bản này, các tòa án thường có sự nhằm lẫn giữa các vụ án dân sự và việc dân sự liên quan đến văn bản công chứng và văn bản chứng thực. Đến năm 2000, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 mới bắt đầu có sự phân biệt giữa công chứng và chứng thực, tại Điều 2 của Nghị định có quy định: “1. Công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dan sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của nghị định này.
Chứng thực là việc Uy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hop đẳng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của nghị định này. ” Quy định này phân biệt giữa công chứng và chứng thực căn cứ vào chủ thể thực hiện mà không căn cứ đối tượng được chứng nhận. Khái niệm văn bản công chứng được đề cập đầu tiên tại Điều 4 Luật công chứng 2006, theo đó quy định: “/. Hợp đồng, giao dich bằng văn bản da được công chứng theo quy định của Luật này gọi là văn bản công chứng.
Văn bản công chứng bao gốm các nội dung sau đây: a) Hợp đông, giao dịch; b) Lời chứng của công chứng viên”. Có thê nói, Điều 4 Luật công chứng 2006 dù chưa đưa ra khái niệm văn bản công chứng cụ thể nhưng quy định này cũng có thể coi là đặt nền móng để hoàn thiện chế định về văn bản công chứng sau này. Đến năm 2014, khái niệm văn bản công chứng chính thức được ghi nhận tại khoản 4 điều 2 Luật công chứng 2014: “Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, ban dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật công chứng”. Với quy định này, có thê thấy nhà làm luật định nghĩa văn bản công chứng theo phương pháp liệt kê, theo đó Văn bản công chứng bao gồm 03 nhóm văn bản: Hợp đồng, giao dịch và bản dịch được công chứng viên chứng nhận.
Theo quan điểm của Ths Nguyễn Khắc Cường, định nghĩa pháp lý trên là chưa thống nhất với Điều 116 BLDS 2015. Theo quy định này, “Giao địch dân sự là hợp đông hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”, như vậy, giao dịch dân sự đã bao gồm hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương, trong khi đó khái niệm văn bản công chứng vừa đề cập đến hợp đồng, giao dịch là chưa phù hợp [15]. Tuy nhiên, tác giả không hoàn toàn đồng ý với kiến nghị của Ths Nguyễn Khắc Cường khi gom chung “Hợp đồng, giao dịch” thành “giao dịch dân sự” dé cho rằng có sự mâu thuẫn giữa hai luật. Theo ý kiến của tác giả, khái niệm “giao địch dân sự” chi là khái niệm chung để quy định về chủ thé có năng lực hành vi dân sự khi tham gia giao dịch dân sự, do vậy cụm từ “giao dịch dân sự” có tính trừu tượng, khái quát chung, nhưng khi xác định thế nào là văn bản công chứng buộc phải định nghĩa rõ văn bản công chứng là loại văn bản như thế nào, tồn tại trên thực tế đưới các dạng gi.
Do đó định nghĩa “Văn bản công chứng” theo phương pháp liệt kê quy định tại khoản 4, Điều 2, Luật công chứng là phù hợp. Căn cứ các phân tích trên, để xác định được thé nao là văn bản công chứng, tác gia cho rằng phải đồng thời đáp ứng cả 02 điều kiện sau: - Tén tại dưới hình thức văn bản: Hợp đồng, giao dịch, ban dịch. Trong đó, khái niệm Hợp đồng được định nghĩa theo Điều 385 của BLDS 2015 “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”; “giao dịch” được hiểu là các giao dich dân sự không bao gồm hợp đồng và bản dich được hiểu là giấy tờ/văn ban được dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; và; - Văn bản đã được công chứng: được hiểu là Văn bản đã được Công chứng viên chứng nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội. b) Đặc điểm văn bản công chứng Văn bản công chứng có những đặc điểm riêng phân biệt với các loại văn bản khác như văn bản chứng thực hay văn bản có người làm chứng thông thường.
Xuất phát từ các quy định của pháp luật về văn bản công chứng, có thé thấy văn ban công chứng là loại văn ban đặc thù mang những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, văn bản công chứng đảm bảo tính chính xác về thông tin, điều kiện giao kết hợp đồng, giao dịch cúa chủ thé: Hoạt động chính của công chứng viên là chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, bản dịch bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật bắt buộc phải công chứng hoặc cá nhân, tô chức tự nguyện yêu cầu công chứng (điều 2 Luật công chứng 2014). Chính vì vậy, mọi thông tin về chủ thé thé hiện trong văn bản công chứng đều phải đảm bảo tính hợp pháp và chính xác về thông tin, điều kiện của chủ thể đó khi giao kết hợp đồng giao dịch. Chủ thể tham gia ký kết hợp đồng giao dịch có thể là thể nhân hoặc pháp nhân. Đối với chủ thể là cá nhân thì phải đảm bảo chủ thé đó có năng lực hành vi dân sự day đủ còn đối với chủ thé là pháp nhân thì phải đảm bảo có năng lực pháp luật khi tham gia giao kết hợp đồng giao dịch.
Chủ thé tự nguyện xác lập giao dịch mà không bị lừa đối de doa ép buộc, nội dung hợp đồng giao dịch công chứng phải đúng theo yêu cầu của chủ thể tham gia mà không trái quy định của pháp luật. Thứ hai, văn bản công chứng bảo đảm tuân thủ về mặt hình thức. Như đã phân tích tại phần khái niệm văn bản công chứng, một văn bản công chứng phải được tồn tại dưới hình thức “văn bán”.