Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Chương 2: Chế định hòa giải ở cấp sơ thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay. Chương 3: Thực tiễn áp dụng và các kiến nghị hoàn thiện chế định hòa giải ở cấp sơ thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể. Khi cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo quy định của pháp luật chủ thể đó có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, pháp luật luôn bảo đảm quyền cho họ được thực hiện quyền tự định đoạt của các đương sự và tạo điều kiện để đương sự tự thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ việc dân sự dưới sự giúp đỡ của Tòa án.
Các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự trở thành chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Để tìm hiểu khái niệm chế định hòa giải trong tố tụng dân sự, trước tiên cần tìm hiểu khái niệm thuật ngữ “hòa giải”. Theo từ điển Tiếng Việt do Trung tâm Ngôn ngữ học trực thuộc Viện Khoa học xã hội biên soạn (1992), "Hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hay xích mích một cách ổn thỏa".Khái niệm này đề cập đến hành động và mục đích của hòa giải nhưng chưa nêu được các yếu tố như bản chất, nội dung và chủ thể của hòa giải. Trong từ điển pháp lý của Rothenberg: “Hòa giải (reconciliation) là hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bỏ một ít.
Còn từ điển luật học của Black cho rằng: “Hòa giải là sự can 7 thiệp, sự làm trung gian hòa giải, hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục, dàn xếp hoặc tranh chấp giữa họ.79] Định nghĩa của Rothenberg đã nêu được bản chất của hòa giải nhưng chưa nêu được hành vi, vai trò trung gian của bên thứ ba trong hòa giải. Điều này đã được khắc phục trong từ điển luật học của Black. Từ những khái niệm trên, cho thấy hòa giải có ba yếu tố. Thứ nhất, là phải có tranh chấp giữa hai bên.
Thứ hai, có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông qua việc mỗi bên nhượng bộ một ít. Thứ ba, trong quá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập để cho ý kiến tư vấn đồng thời công nhận thủ tục hòa giải thành giữa các bên trong tranh chấp.Nếu không có sự tham gia của bên thứ ba thì quá trình này không gọi là hòa giải mà là thương lượng giữa các bên. Trong tố tụng dân sự, bên thứ ba này chính là thẩm phán - đại diện cho Tòa án. Trong khoa học pháp lý cũng có nhiều quan điểm khác nhau về hòa giải.
Có quan điểm cho rằng :“Hòa giải là quá trình giải quyết tranh chấp, bất đồng giữa các bên. Trong quá trình hòa giải cần đến bên thứ ba với vai trò trung lập, làm trung gian giúp các bên tranh chấp giải quyết được những bất đồng và đạt được một thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và tự nguyện thực hiện những thỏa thuận đó.” Theo quan điểm này, hòa giải có mục đích giải quyết thành công tranh chấp.Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp hòa giải đều thành công. Khi đó, dù mâu thuẫn chưa được giải quyết hoàn toàn, nhưng các bên tranh chấp cũng có cơ hội hiểu rõ hơn nội dung tranh chấp, bày tỏ ý chí của mình với đối phương và cũng được nghe ý kiến của đối phương về vụ tranh chấp. Từ đó, hai bên có thể phần nào tìm đực tiếng nói chung và làm giảm mức độ mâu thuẫn.
8 Có quan điểm cho rằng: “Hòa giải là một biện pháp giải quyết các tranh chấp, theo đó, với sự giúp đỡ của một bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội.” Khái niệm này được nhiều người thừa nhận hơn cả, bởi đã thể hiện được bản chất, đặc điểm của hòa giải và vai trò của bên trung gian thứ ba trong hòa giải. Hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp, chủ thể trung tâm của hòa giải là bên trung gian giúp cho các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp, sự thỏa thuận về giải quyết tranh chấp do chính các bên tranh chấp quyết định. Như vậy, xem xét ở mức độ chung nhất thì :“Hòa giải là biện pháp giải quyết tranh chấp, mà theo đó các bên trong quá trình thương lượng có sự tham gia của bên thứ ba độc lập làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột, chấm dứt tranh chấp, bất hòa.” Hoạt động tố tụng dân sự là hoạt động của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tiến hành trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Quá trình tố tụng dân sự bao gồm: Khởi kiện, hòa giải, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Như vậy, dưới góc độ hoạt động tố tụng, hòa giải cũng là một dạng hoạt động do pháp luật quy định cho Tòa án tiến hành, nhằm giúp đỡ các bên đương sự hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình và hướng dẫn động viên các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc đang có tranh chấp. Dưới góc độ pháp luật, hòa giải được coi là chế định pháp luật, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ án dân sự. Theo chế định này, hòa giải là một 9 nguyên tắc, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Từ những phân tích trên: “Hòa giải trong tố tụng dân sự là việc các bên đương sự tự mình thương lượng, thỏa thuận về vụ việc sau khi Tòa án đã thụ lý vụ việc và hoạt động tố tụng do Tòa án trực tiếp tiến hành nhằm giúp các bên đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình, của đương sự mà họ đại diện, hướng dẫn, động viên các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định.” “Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự, là cơ sở để Tòa án tiến hành hòa giải và giúp đỡ các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau, bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, đúng đắn, phù hợp vớiquy định của pháp luật và đạo đức xã hội.
Đặc điểm chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự 1. Hòa giải là một nguyên tắc, thủ tục trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Hoạt động giải quyết vụ án dân sự của Tòa án phải tuân theo những nguyên tắc do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Tại chương II “Những nguyên tắc cơ bản” của BLTTDS có quy định về hòa giải trong tố tụng dân sự. Theo đó hòa giải là trách nhiệm của Tòa án nhằm giúp đỡ đương sự thỏa thuận với nhau.
Điều 10 và Điều 205 BLTTDS 2015 quy định hòa giải có tính bắt buộc phải tiến hành trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, trừ những vụ án không được tiến hành hòa giải hoặc không hòa giải được và ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo, nêu thấy có khả năng hòa giải thành thì tòa án cũng tiến hành hòa giải. 10 Hòa giải được pháp luật tố tụng dân sự quy định thuộc trách nhiệm của Tòa án, được Tòa án thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nhằm đảm bảo cho đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình. Thực hiện hòa giải cũng là việc tận dụng tối đa cơ hội rút ngắn quá trình tố tụng, nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc trong việc củng cố tình tương thân, tương ái, giữ gìn khối đoàn kết cộng đồng. Hòa giải là hoạt động do Tòa án tiến hành Trong hoạt động hòa giải, Tòa án xuất hiện không phải với tư cách một bên tham gia hòa giải mà là người tổ chức, bố trí cho các đương sự thương lượng thỏa thuận với nhau.
Với vai trò của mình, Tòa án giải thích cho các đương sự hiểu được quyền, nghĩa vụ pháp luật có liên quan đến tranh chấp cần hòa giải. Kết quả hòa giải do Tòa án tiến hành là những văn bản có tính chất pháp lý (biên bản hòa giải thành hoặc không thành), là cơ sở để tiếp tục các hành vi tố tụng tiếp theo. Sự có mặt của Tòa án trong hòa giải khẳng định vị trí trung gian của Tòa án trong việc hòa giải các vụ án dân sự. Đặc điểm này là dấu hiệu để phân biệt hòa giải trong tố tụng dân sự với hòa giải ngoài tố tụng dân sự và các trường hợp các đương sự hòa giải, cụ thể là: - Trong tố tụng dân sự hòa giải do Tòa án chủ động tổ chức và trực tiếp tham gia với vai trò giải thích, động viên các đương sự tự thỏa thuận.