Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình hội nhập quốc tế và xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thúc đẩy các giao lưu dân sự, kinh tế và thương mại phát triển đa dạng. Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng cũng như tính chất phức tạp của các tranh chấp dân sự đòi hỏi hệ thống tư pháp phải thiết lập hành lang pháp lý an toàn, cùng cơ chế giải quyết tranh chấp linh hoạt, hiệu quả nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.

Trong số các phương thức giải quyết tranh chấp dân sự (thương lượng, hòa giải, trọng tài, xét xử), hòa giải giữ vị trí trung tâm nhờ khả năng tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, giảm thiểu căng thẳng, tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả Nhà nước lẫn công dân, đồng thời góp phần củng cố khối đại đoàn kết cộng đồng. Mặc dù chế định hòa giải đã từng bước được ghi nhận trong các văn bản pháp luật trước đây (như Sắc lệnh số 85/SL năm 1950, Thông tư số 25/TATC năm 1974, các Pháp lệnh năm 1989, 1994, 1996 và Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004), thực tiễn áp dụng tại Tòa án cấp sơ thẩm vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập, quy định mâu thuẫn hoặc chưa rõ ràng. Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 ra đời với hiệu lực từ ngày 01/07/2016 đã có nhiều sửa đổi căn bản, đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu một cách toàn diện cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận về chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, trọng tâm là cấp sơ thẩm; phân tích có hệ thống các quy định của BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành; từ đó đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện chế định hòa giải ở cấp sơ thẩm.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chế định hòa giải, cụ thể là chế định hòa giải ở cấp sơ thẩm.
  2. Nghiên cứu, đánh giá chế định hòa giải ở cấp sơ thẩm và thực tiễn áp dụng trong tố tụng dân sự nhằm chỉ ra những nội dung, vấn đề còn thiếu sót, chưa phù hợp; từ đó đề ra các kiến nghị hoàn thiện chế định này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về hòa giải, hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh chế định hòa giải ở cấp sơ thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam, cùng thực tiễn thi hành và phương hướng hoàn thiện.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong mối tương quan so sánh với pháp luật của Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp và Đức.
    • Về thời gian: Tập trung vào giai đoạn hiện nay theo khung khổ BLTTDS năm 2015, có đối chiếu với các giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến trước năm 2015.
    • Về nội dung: Khóa luận giới hạn nghiên cứu chuyên sâu vào hoạt động hòa giải ở cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, coi pháp luật tố tụng dân sự nói chung và chế định hòa giải nói riêng là bộ phận của kiến trúc thượng tầng, vận động và phát triển phù hợp với cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ lịch sử. Nghiên cứu cũng quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xét xử ("Xét xử đúng là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn"), cùng nguyên tắc cơ bản về quyền tự định đoạt của đương sự trong quan hệ pháp luật dân sự.

Về mặt khái niệm, tác giả tiếp cận hòa giải từ nhiều góc độ: ngôn ngữ học (Từ điển Tiếng Việt 1992), luật học so sánh quốc tế (Từ điển pháp lý Rothenberg, Từ điển luật học Black's Law Dictionary) và khoa học pháp lý Việt Nam. Từ đó, hòa giải trong tố tụng dân sự được xác định là hoạt động do Tòa án trực tiếp tiến hành với sự tham gia của bên thứ ba trung lập (Thẩm phán) nhằm giúp các bên đương sự hiểu rõ quyền, nghĩa vụ, tự nguyện thương lượng, thỏa thuận giải quyết tranh chấp phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.

Yếu tố phương pháp / Dữ liệu Nội dung chi tiết trong khóa luận
Phương pháp luận chung Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; đường lối cải cách tư pháp của Đảng.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể Phân tích quy phạm, tổng hợp lý thuyết, diễn giải pháp lý, hệ thống hóa văn bản, so sánh luật học, logic học và nghiên cứu lịch sử pháp lý.
Hệ thống văn bản pháp luật BLTTDS năm 2015, BLDS năm 2015, BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), các Pháp lệnh năm 1989, 1994, 1996, Sắc lệnh 13/SL (1946), Sắc lệnh 85/SL (1950), Thông tư 25/TATC (1974); luật tố tụng dân sự của Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp, Đức.
Nguồn dữ liệu thực tiễn Báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), các công văn hướng dẫn nghiệp vụ của TANDTC (Công văn 81/KHXX, 120/KHXX, 124/KHXX, 43/KHXX, 16/KHXX/1999...), cùng các bài viết chuyên khảo trên Tạp chí TAND, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Kiểm sát, Báo Công lý.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Chương 1 xây dựng khung lý luận tổng quan về chế định hòa giải trong tố tụng dân sự, phân tích 5 đặc điểm pháp lý cơ bản:

  1. Hòa giải là một nguyên tắc, thủ tục tố tụng mang tính bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự (Điều 10, Điều 205 BLTTDS 2015).
  2. Hòa giải là hoạt động do Tòa án chủ động tổ chức và trực tiếp tiến hành với vai trò trung gian, giải thích và định hướng.
  3. Bản chất của hòa giải là sự thỏa thuận, định đoạt tự nguyện của chính các đương sự mà không bị cưỡng ép.
  4. Hòa giải phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định nhằm đảm bảo tính khách quan và hiệu lực pháp lý.
  5. Nội dung thỏa thuận không được trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.

Tác giả phân tích ý nghĩa của hòa giải trên ba phương diện: đối với Tòa án (tiết kiệm thời gian, giảm tải xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, nâng cao uy tín cơ quan tư pháp), đối với đương sự (hàn gắn mâu thuẫn, ngăn ngừa xung đột phát sinh), và đối với xã hội (giữ gìn trật tự an ninh, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật).

Về tiến trình lịch sử, tác giả chia sự phát triển của chế định hòa giải tại Việt Nam thành 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1945–1989: Hòa giải được quy định rải rác qua các Sắc lệnh (13/SL, 85/SL) và văn bản của TANDTC (Thông tư 25/TATC năm 1974). Tòa án chỉ lập biên bản hòa giải thành mà chưa ra quyết định công nhận sự thỏa thuận, dẫn đến tình trạng đương sự thay đổi ý chí và Tòa án vẫn phải mở phiên tòa xét xử.
  • Giai đoạn 1989–2005: Thời kỳ các Pháp lệnh (Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, Pháp lệnh vụ án kinh tế 1994, Pháp lệnh tranh chấp lao động 1996) và bước phát triển với BLTTDS 2004. Đã có quy định về thời hạn 15 ngày để các bên cân nhắc trước khi Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.
  • Giai đoạn từ 2005 đến nay: Sự hoàn thiện khung pháp lý với BLTTDS 2015, rút ngắn thời hạn ra quyết định công nhận thỏa thuận xuống còn 07 ngày và lồng ghép thủ tục hòa giải vào "Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải".

Chương 1 cũng mở rộng nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế:

  • Nhật Bản: Hòa giải do Hội đồng hòa giải tiến hành (gồm Thẩm phán và từ 2 hòa giải viên chuyên môn), tiếp xúc riêng với từng bên để bảo mật thông tin; biên bản hòa giải thành có giá trị như bản án không thể bác bỏ theo Điều 267 BLTTDS Nhật Bản.
  • Trung Quốc: Quy định hòa giải là nguyên tắc bắt buộc tại Điều 9 Luật TTDS 1991; bản hòa giải có hiệu lực ngay sau khi lập; một số trường hợp (như đoàn tụ hôn nhân, cấp dưỡng) chỉ cần ghi nhận vào biên bản.
  • Pháp: Thẩm phán có trách nhiệm hòa giải theo Điều 21 BLTTDS Pháp; phân định hòa giải tự nguyện và hòa giải theo sáng kiến của Thẩm phán ở cả cấp sơ thẩm (Điều 766, 767, 833, 840) và cấp phúc thẩm.
  • Đức: Mô hình hòa giải với sự hỗ trợ của chuyên gia tâm lý, ngôn ngữ; bắt buộc có luật sư tham gia; thời hạn hòa giải 21 ngày; Thẩm phán tiến hành hòa giải không được tham gia Hội đồng xét xử nếu hòa giải không thành.

Chương 2: Chế định hòa giải ở cấp sơ thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay

Chương 2 đi sâu phân tích toàn diện các quy định thực định của BLTTDS năm 2015 điều chỉnh giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm:

1. Nguyên tắc hòa giải (Điều 10, Điều 205):

  • Hòa giải là trách nhiệm bắt buộc của Tòa án trước khi mở phiên tòa sơ thẩm. Việc không tiến hành hòa giải (trừ trường hợp luật cấm hoặc không thể hòa giải) bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và là căn cứ hủy án.
  • Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận; nghiêm cấm việc dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; Thẩm phán không được tiết lộ đường lối xét xử để ép buộc đương sự.
  • Nội dung thỏa thuận không được trái quy định của pháp luật (phù hợp Điều 123 BLDS 2015) và không trái đạo đức xã hội.

2. Phạm vi hòa giải:

  • Vụ án bắt buộc hòa giải: Toàn bộ các vụ án dân sự thuộc thẩm quyền sơ thẩm, trừ các trường hợp quy định tại Điều 206, Điều 207 hoặc vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn.
  • Vụ án không được hòa giải (Điều 206):
    • Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước (sở hữu toàn dân theo Điều 197, 198 BLDS 2015), nhằm chống thất thoát tài sản công.
    • Vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội (giao dịch vô hiệu tuyệt đối). Tuy nhiên, nếu các bên chỉ thỏa thuận về việc khắc phục hậu quả của giao dịch vô hiệu thì Tòa án vẫn tiến hành hòa giải.
  • Vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 207):
    • Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần 2 mà vẫn cố tình vắng mặt.
    • Đương sự không thể tham gia hòa giải vì lý do chính đáng.
    • Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
    • Một trong các đương sự có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
Phân loại theo Điều luật Trường hợp cụ thể Hệ quả pháp lý
Không được hòa giải (Điều 206 BLTTDS 2015) - Đòi bồi thường thiệt hại tài sản Nhà nước.
- Tranh chấp từ giao dịch vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.
Tòa án tuyệt đối không tổ chức phiên hòa giải; đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Không tiến hành hòa giải được (Điều 207 BLTTDS 2015) - Đương sự vắng mặt hợp lệ lần 2.
- Đương sự có lý do chính đáng không thể tham gia.
- Vợ/chồng mất năng lực hành vi trong vụ án ly hôn.
- Đương sự có đơn đề nghị không hòa giải.
Thẩm phán lập biên bản không hòa giải được; tiến hành phiên họp kiểm tra chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử.

3. Thành phần và trình tự phiên hòa giải (Điều 208, 209, 210, 211):

  • Thành phần: Thẩm phán chủ trì, Thư ký ghi biên bản, các đương sự/người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (bổ sung mới của BLTTDS 2015), người phiên dịch; đại diện tổ chức công đoàn (đối với vụ án lao động); đại diện cơ quan quản lý gia đình, trẻ em, Hội phụ nữ (đối với vụ án hôn nhân và gia đình).
  • Trình tự thực hiện (Điều 210):
    1. Thư ký báo cáo sự có mặt, vắng mặt; Thẩm phán kiểm tra căn cước, phổ biến quyền, nghĩa vụ và hậu quả pháp lý của hòa giải thành.
    2. Nguyên đơn trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu và đề xuất phương án hòa giải.
    3. Bị đơn trình bày ý kiến phản bác, yêu cầu phản tố và hướng giải quyết.
    4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến và yêu cầu độc lập (nếu có).
    5. Các chủ thể khác phát biểu ý kiến.
    6. Thẩm phán tóm lược các vấn đề đã thống nhất và chưa thống nhất, định hướng các bên thỏa thuận bổ sung và kết luận phiên họp.

4. Xử lý kết quả hòa giải:

  • Hòa giải thành (Điều 212, 213): Lập biên bản hòa giải thành. Sau thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản, nếu không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì Thẩm phán ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (QĐCNTT). Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà chỉ có thể bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
  • Hòa giải không thành: Tòa án lập biên bản hòa giải không thành; nếu có căn cứ tạm đình chỉ/đình chỉ (Điều 214, 217) thì xử lý theo quy định, nếu không thì ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp hòa giải thành một phần, phần thỏa thuận được ghi nhận và phần chưa thỏa thuận được đưa ra xét xử tiếp.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện chế định hòa giải ở cấp sơ thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS về hòa giải sơ thẩm tại hệ thống TAND, chỉ ra các kết quả đạt được cùng những tồn tại, hạn chế cụ thể:

1. Vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng:

  • Quy định tại khoản 1 Điều 207 chưa phân định rõ vị thế tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và không có yêu cầu độc lập khi họ vắng mặt lần thứ hai. Đối với người có yêu cầu độc lập, việc vắng mặt nên được coi là từ bỏ yêu cầu và đình chỉ yêu cầu đó, thay vì biến cả vụ án thành trường hợp "không tiến hành hòa giải được".
  • Sự tương thích giữa BLTTDS 2015 và BLDS 2015 về chủ thể "người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi" chưa được đồng bộ rõ nét trong các điều khoản về năng lực tham gia hòa giải.
  • Áp lực số lượng án và chỉ tiêu xét xử khiến một bộ phận Thẩm phán chưa đầu tư thời gian, kỹ năng để phân tích, thuyết phục đương sự; mô hình hòa giải trực tiếp hai bên cùng lúc đôi khi tạo ra căng thẳng, phản ứng tiêu cực.
  • Cơ sở vật chất tại nhiều Tòa án địa phương còn thiếu thốn, chưa bố trí được phòng hòa giải chuyên biệt, làm giảm tính trang nghiêm và yếu tố bảo mật thông tin.

2. Các phương hướng và nhóm kiến nghị hoàn thiện:

  1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về hòa giải vụ việc dân sự: Sửa đổi, bổ sung cụ thể khoản 1 Điều 207 BLTTDS theo hướng phân loại rõ hệ quả vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; bổ sung hướng dẫn áp dụng đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
  2. Xây dựng bộ phận chuyên trách về hòa giải vụ việc dân sự tại Tòa án: Nghiên cứu thành lập thiết chế hòa giải chuyên nghiệp bên cạnh Tòa án hoặc bộ phận hòa giải viên chuyên trách nhằm giảm tải cho Thẩm phán xét xử, học tập kinh nghiệm mô hình Hội đồng hòa giải của Nhật Bản và Hòa giải viên của Đức.
  3. Nâng cao trình độ, kỹ năng của người tiến hành hòa giải: Tăng cường đào tạo chuyên sâu cho Thẩm phán về tâm lý học, kỹ năng giao tiếp, nghệ thuật đàm phán và xử lý xung đột; xây dựng tiêu chí đánh giá thi đua gắn liền với tỷ lệ hòa giải thành.
  4. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị: Bố trí phòng hòa giải độc lập, thiết kế không gian đối thoại thân thiện, riêng tư, trang bị đầy đủ phương tiện phục vụ ghi nhận dữ liệu phiên họp.
  5. Một số khuyến nghị khác: Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật nâng cao ý thức tự giải quyết tranh chấp của người dân; tăng cường sự tham gia của luật sư, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong suốt quá trình hòa giải.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã mang lại những kết quả nghiên cứu khoa học cụ thể:

  • Hệ thống hóa toàn diện các luận cứ lý luận và lịch sử hình thành của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự Việt Nam từ năm 1945 đến sau khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực.
  • Khảo cứu có chiều sâu kinh nghiệm lập pháp của 4 quốc gia (Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp, Đức), chỉ ra các giá trị tiến bộ có thể tiếp thu như: mô hình hội đồng hòa giải đa thành phần, thủ tục gặp gỡ riêng từng bên để nắm bắt mâu thuẫn, và sự phân định độc lập giữa thẩm phán hòa giải với thẩm phán xét xử.
  • Chỉ ra các điểm mâu thuẫn, khoảng trống pháp lý của BLTTDS năm 2015 (tiêu biểu là bất cập tại khoản 1 Điều 207 về tư cách của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; sự chưa tương thích với BLDS năm 2015 về người có khó khăn trong nhận thức).
  • Đây là một trong những công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và chi tiết về chế định hòa giải ở cấp sơ thẩm ngay sau khi BLTTDS năm 2015 chính thức có hiệu lực thi hành (01/07/2016).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do được hoàn thành vào năm 2017 (thời điểm BLTTDS năm 2015 mới đi vào thực tiễn áp dụng được hơn một năm), số liệu thống kê thực tiễn xét xử sơ thẩm chưa bao quát được một giai đoạn dài hạn sau cải cách; phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong hòa giải tại Tòa án cấp sơ thẩm mà chưa mở rộng nghiên cứu đối chiếu sâu với hòa giải ở cấp phúc thẩm hoặc các cơ chế tiền tố tụng (hòa giải thương mại ngoài Tòa án, hòa giải cơ sở).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Đánh giá tác động thực tiễn dài hạn của BLTTDS năm 2015 đối với tỷ lệ hòa giải thành tại TAND các cấp.
    • Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng đạo luật chuyên biệt về hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về quy chế pháp lý và kỹ năng nghiệp vụ của đội ngũ hòa giải viên chuyên trách ngoài ngạch Thẩm phán.

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tài liệu học thuật có giá trị thiết thực đối với:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự tham khảo về mặt lý luận, phương pháp so sánh luật học và kỹ thuật lập pháp.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý trong việc nắm vững trình tự, thủ tục tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo BLTTDS năm 2015.
  • Các cơ quan nghiên cứu lập pháp, xây dựng chính sách tư pháp trong quá trình rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật tố tụng dân sự và hoàn thiện thiết chế hòa giải tại Tòa án.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo BLTTDS năm 2015, những vụ án dân sự nào Tòa án tuyệt đối không được tiến hành hòa giải?
Căn cứ Điều 206 BLTTDS năm 2015, có hai loại vụ án không được hòa giải: (1) Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước (sở hữu toàn dân); (2) Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.

2. Điểm bất cập tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS năm 2015 về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được tác giả phân tích như thế nào?
Điều 207 quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt hợp lệ lần hai thì vụ án không tiến hành hòa giải được. Tác giả chỉ ra quy định này chưa hợp lý vì chưa phân loại: đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, việc họ cố tình vắng mặt bản chất là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án phải đình chỉ giải quyết yêu cầu đó, chứ không nên coi là lý do khiến toàn bộ vụ án không thể tiến hành hòa giải.

3. Pháp luật Nhật Bản và Đức có điểm khác biệt nổi bật nào về chủ thể tiến hành hòa giải so với Việt Nam?
Tại Nhật Bản, hòa giải do một Hội đồng hòa giải tiến hành gồm Thẩm phán và từ hai hòa giải viên có chuyên môn sâu về lĩnh vực tranh chấp (như xây dựng, thương mại). Tại Đức, người hòa giải có thể là luật sư hoặc chuyên gia độc lập; nếu hòa giải tại Tòa án không thành thì Thẩm phán đã tham gia hòa giải sẽ không được tham gia xét xử vụ án đó. Ở Việt Nam, Thẩm phán thụ lý vụ án vừa là người trực tiếp chủ trì phiên hòa giải, vừa là người tiến hành xét xử nếu hòa giải không thành.

4. BLTTDS năm 2015 có điểm bổ sung mới nào về thành phần tham gia phiên hòa giải sơ thẩm?
Điều 209 BLTTDS năm 2015 bổ sung thành phần tham gia phiên họp bao gồm cả Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm sự tương thích với khoản 3 Điều 76 của Bộ luật này và nâng cao tính khách quan, minh bạch cho phiên hòa giải.

5. Thời hạn để Thẩm phán ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự sau khi hòa giải thành là bao lâu?
Căn cứ Điều 212 BLTTDS năm 2015, hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên họp hoặc một Thẩm phán được Chánh án phân công sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Hạnh đã luận giải một cách toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận, lịch sử và thực tiễn của chế định hòa giải ở cấp sơ thẩm theo quy định của BLTTDS năm 2015. Công trình phân tích sâu sắc các khía cạnh pháp lý từ nguyên tắc, phạm vi, thành phần, trình tự đến hệ quả pháp lý của kết quả hòa giải, đồng thời chỉ ra những điểm còn mâu thuẫn, bất cập trong các quy phạm thực định. Những kiến nghị hoàn thiện về lập pháp, tổ chức bộ phận hòa giải chuyên trách và nâng cao kỹ năng cho người tiến hành hòa giải có giá trị đóng góp tích cực cho tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam.