Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CAC VỤ ÁN TRANH CHAP KINH DOANH, THUONG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Khái niệm, đặc điểm của thủ tục giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân 1. Khái niệm thủ tục giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa an nhân dân 1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại Trong thời đại kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển về kinh tế, các giao dịch trong hoạt động KDTM ngày càng trở nên đa dạng, phong phú và phức tap.
Khi các doanh nghiệp ngày càng có điều kiện được thành lập với nhiều hình thức khác nhau trong nhiều ngành nghé khác nhau thì việc liên kết, hợp tác hay thậm chí là cạnh tranh với nhau cũng ngày càng trở nên phổ biến và đa dạng. Trong mối quan hệ này, bên cạnh những quyền và lợi ích có được, còn có những xung đột, bất đồng về vi phạm quyền lợi lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, từ đó thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh” hay “tranh chấp thương mại” là những thuật ngữ quen thuộc trong đời song kinh tế - xã hội ở các nước trên thé giới và được sử dụng phô biến, rộng rãi ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tô chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gởi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư van; kỹ thuật; li-xăng; dau tư; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyên hàng hóa, khách hàng bằng đường hàng không, đường biên, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật. Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hang hóa, cung ứng dịch vu, dau tư, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động thương mại được mở rộng bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi. Hướng tiếp cận này của Luật Thương mại cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã thể hiện sự tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. BLTTDS không sử dụng thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh” hay “tranh chấp thương mại” mà sử dụng thuật ngữ “tranh chấp về kinh doanh, thương mại”, cụ thể tại Điều 30 của Bộ luật này đã quy định băng cách liệt kê các loại tranh chấp được coi là các tranh chấp về KDTM thuộc thầm quyền giải quyết của Tòa án.
Cách dùng thuật ngữ “kinh doanh, thương mại” mang tính kế thừa, kết hợp, nhưng vì trong mồi tương quan giữa “kinh doanh” và “thương mại” thì thuật ngữ “kinh doanh” có nội hàm rộng hơn, dẫn đến khái niệm “tranh chấp kinh doanh” đã bao hàm cả khái niệm “tranh chấp thương mại”, nên có ý kiến cho răng, thuật ngữ này dài dòng, không cần thiết, thậm chí là không chính xác. Song, từ những nhận xét nêu trên thì sự kết hợp giữa “kinh doanh” và “thương mại” trong thuật ngữ này là nhằm mở rộng về mặt chủ thé tham gia vào các hoạt động KDTM, cũng tạo điều kiện thuận lợi dé phân biệt tranh chấp KDTM với các tranh chấp khác mà pháp luật có quy định, dé từ đó các cơ quan, tô chức giải quyết tranh chấp dé dàng áp dung đúng chế định của loại tranh chấp đó. Tranh chấp KDTM là một trong những hệ quả của hoạt động KDTM. Nó xuất hiện thường xuyên phổ biến trong hoạt động của nền kinh tế thị trường.
Đó là “những mâu thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa vụ, lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia quan hệ kinh doanh, thương mại”, là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế giữa các thương nhân, các chủ thé kinh doanh khác”. Như vậy, tranh chấp KDTM có thé hiểu đơn giản là những bất đồng, mâu thuẫn liên quan đến quyền và lợi ích của các chủ thé tham gia hoạt động KDTM (bao gồm các cá nhân, tô chức có đăng ký kinh doanh) từ các khoản đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, là kết quả của sự bất đồng chính kiến hay sự xung đột về quyền và lợi ích hợp pháp giữa các chủ thé ké từ khi tham gia, xác lập, thực hiện và chấm dứt các hoạt động KDTM. Theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, những tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm: - Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tô chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. - Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyên giao công nghệ giữa cá nhân, tô chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyên nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty. - Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thé, sáp nhập, hợp nhất, chia, tach, bàn giao tai sản của công ty, chuyền đổi hình thức tổ chức của công ty. - Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thâm quyền giải quyết của cơ quan, tô chức khác theo quy định của pháp luật. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Mỗi quan hệ trong hoạt động KDTM vừa mang tính xung đột vừa mang tính hợp tác.
Vì vậy khi xảy ra tranh chấp các bên luôn tìm cách nhanh chóng để giải quyết các xung đột, mâu thuẫn này dé sớm đưa hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình trở lại bình thường ôn định. Do đó, việc giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi các bên tranh chấp cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp phải tiến hành nhanh chóng, kin đáo, không làm anh hưởng đến nhau. Thuật ngữ “giải quyết” được hiểu là “làm cho không còn thành vấn đề nữa”. Giải quyết tranh chấp KDTM là việc các bên tranh chấp thông qua hình thức, thủ tục thích hợp tiến hành các giải pháp nhằm loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.
Hiểu theo cách đơn giản nhất, “giải quyết tranh chấp KDTM là tổng hợp các cách thức, biện pháp được các chủ thé quan hệ KDTM áp dụng hoặc thông qua một người thứ ba để loại bỏ các mâu thuẫn, bất đồng về lợi ích kinh tế phát sinh giữa họ”. Theo nghĩa rộng, giải quyết tranh chấp KDTM là một loại quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, trọng tài thương mại, hòa giải và một số văn bản pháp luật khác có liên quan. Hoạt động giải quyết tranh chấp KDTM là xóa bỏ các mâu thuẫn, bất đồng xung đột lợi ích giữa các bên tạo lập sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên tranh chap mong muốn; dam bảo lợi ích giữa các chủ thé kinh doanh, giữa các công dân trước pháp luật, góp phan thiết lập sự cân bằng, giữ gìn trật tự kỉ cương, pháp luật tạo nên một môi trường kinh doanh lành mạnh; ngoài ra việc giải quyết tranh chấp KDTM còn đánh giá được việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn kinh doanh, chỉ ra được những bất cập tạo định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động KDTM tạo ra một hành lang pháp lý vững mạnh. Việc giải quyết tranh chấp KDTM cần đáp ứng được một số yêu cầu như sau: Thứ nhất, là nhanh chóng, thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh thương mại.
Tính chất của các hoạt động KDTM là diễn ra liên tục theo một trình tự. Nếu giải quyết kéo dài sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạt động kinh doanh của các chủ thé, có thé bị ngừng tré, uy tín và năng lực cạnh tranh trên thị trường có thé bị giảm sút. Do đó yêu cầu giải quyết nhanh chóng, kịp thời là yêu cầu cần thiết cơ bản nhất của các chủ thé khi xảy ra các tranh chấp. Thứ hai, là khôi phục và duy tri các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong KDTM.
Vì khi xảy ra các tranh chấp các chủ thé sợ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình nên họ sẽ muốn có một phương thức giải quyết khách quan nhất. Thứ ba, là giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên. Bí mật kinh doanh là những thông tin hữu ích cần thiết để tạo nên những sự thành công, những thương hiệu nhất định. Các đối thủ cạnh tranh trên thương trường tim rất nhiều cách dé tiếp cận những thông tin đó.
Vì vậy, bất kỳ một doanh nghiệp, chủ thể nào muốn tôn tại lâu dài được bền vững trên thị trường thì cần bảo vệ những bí mật kinh doanh là điêu cân thiệt. Ngoài ra uy tín của các bên cũng là môi lo ngại khi giải quyét các 10 tranh chấp KDTM bởi hoạt động KDTM quan trọng chữ tín, nếu mất uy tín thì doanh nghiệp, cá nhân đó khó có thể phát triển được trên thị trường. Thứ tw, là kinh té ít tốn kém. Đây là yêu cầu cần thiết mà bat cứ chủ thé nào cũng đều cần.
Hiện nay, theo quy định của pháp luật, có tất cả 4 phương thức giải quyết tranh chấp KDTM phổ biến là: Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài thương mại va thủ tục tư pháp tại Tòa án, cụ thể: - Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp KDTM thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nao. - Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp KDTM với sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh.