Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Pháp luật Kinh tế của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023, người hướng dẫn khoa học: ThS. Cao Thanh Huyền) mang tên: "Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam".

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển kinh tế thị trường, dịch vụ logistics đóng vai trò là ngành dịch vụ đa dạng, tổng hợp các khâu giao nhận, kho vận và vận tải đa phương thức, kết nối thương mại hàng hóa quốc tế. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới về Chỉ số Hiệu quả Logistics (LPI) năm 2018 ghi nhận Việt Nam xếp thứ 39/160 quốc gia, tăng 25 bậc so với năm 2016 và xếp thứ 3 trong khu vực ASEAN. Ngành logistics Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm từ 14% đến 16%, góp phần đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2022 lên 616,30 tỷ USD (tăng 14,06% so với cùng kỳ năm 2021). Nhằm định hướng phát triển ngành, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển ngành dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 với 06 mục tiêu và 60 nhiệm vụ cụ thể.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, tính đến năm 2022, Việt Nam có hơn 4.000 doanh nghiệp logistics đang hoạt động. Tuy nhiên, khối doanh nghiệp nội địa phần lớn có quy mô nhỏ, hạn chế về vốn, nhân lực và kinh nghiệm vận hành quốc tế. Ngược lại, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm lĩnh khoảng 80% thị phần logistics tại Việt Nam. Mặc dù thu hút nguồn vốn ngoại lớn, thực tiễn gia nhập thị trường của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) vẫn gặp nhiều trở ngại pháp lý, nổi bật là các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính, quản lý nhà nước và khoảng trống pháp lý trong dịch vụ logistics thương mại điện tử.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Mục tiêu nghiên cứu:
    • Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và cơ sở pháp lý về sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của NĐTNN tại Việt Nam.
    • Phân tích vai trò, vị trí của dịch vụ logistics; đánh giá thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của NĐTNN tại Việt Nam để nêu bật những bất cập, hạn chế còn tồn tại.
    • Đề xuất phương hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của NĐTNN tại Việt Nam.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ logistics, hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics của NĐTNN tại Việt Nam và pháp luật điều chỉnh.
    • Nêu và đánh giá những bất cập, hạn chế trong các quy định pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của NĐTNN tại Việt Nam.
    • Đưa ra các định hướng và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý và thực thi.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận bao gồm: (i) Những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ logistics và pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh logistics của NĐTNN; (ii) Các quy định pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan (WTO, EVFTA, CPTPP...); (iii) Thực tiễn hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics của NĐTNN tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại thị trường Việt Nam; phạm vi thời gian bao quát tiến trình phát triển của ngành logistics và cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật thực định đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết và pháp lý dựa trên sự kết hợp giữa các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế và các công trình khoa học chuyên ngành:

  • Hệ thống văn bản pháp luật quốc gia: Luật Thương mại năm 2005 (Điều 233 đến Điều 240 điều chỉnh trực tiếp dịch vụ logistics); Luật Đầu tư năm 2020 (khoản 19 Điều 3, Điều 4, Điều 7, Điều 9, Điều 22, Điều 24, Điều 26); Luật Doanh nghiệp năm 2020 (khoản 21 Điều 4); Bộ luật Dân sự năm 2015; các luật chuyên ngành gồm Bộ luật Hàng hải năm 2015, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung), Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Luật Đường sắt năm 2017. Các văn bản dưới luật gồm: Nghị định số 163/2017/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 140/2007/NĐ-CP), Nghị định số 31/2021/NĐ-CP, Nghị định số 10/2020/NĐ-CP, Nghị định số 160/2016/NĐ-CP, Nghị định số 92/2016/NĐ-CP.
  • Cam kết và Điều ước quốc tế: Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
  • Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: phương pháp phân tích luật học (phân tích quy phạm và cấu trúc điều luật), phương pháp so sánh luật học (đối chiếu Nghị định 163/2017/NĐ-CP với Nghị định 140/2007/NĐ-CP và cam kết WTO), phương pháp tổng hợp và đánh giá thực tiễn.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ các báo cáo chính thức của Ngân hàng Thế giới (Báo cáo LPI 2018), Bộ Công Thương (Diễn đàn Logistics Việt Nam 2022), Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD); kế thừa kết quả nghiên cứu từ các luận văn thạc sĩ luật học (Bùi Thái Hà 2012, Hà Thị Lan 2019, Phạm Hồng Hạnh 2019, Tường Thanh Thảo 2017, Vũ Thị Nhung 2009) và các bài báo khoa học trong, ngoài nước (ThS. Tạ Thị Thùy Trang 2018, Ruth Banomyong và cộng sự 2015, Duane Morris 2018).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về kinh doanh dịch vụ logistics và pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chương 1 tập trung hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về dịch vụ logistics, hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài và khung pháp lý điều chỉnh:

  • Khái niệm và đặc điểm logistics: Khóa luận phân tích logistics dưới nhiều lăng kính: góc độ khoa học, góc độ quản trị chuỗi cung ứng, góc độ WTO và góc độ pháp lý. Luật Thương mại năm 2005 (Điều 233) xác định logistics là hoạt động thương mại tổng hợp gồm nhiều công đoạn liên kết (nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, đóng gói...). Về phân loại, logistics được tiếp cận theo hình thức tổ chức (1PL - tự cung tự cấp, 2PL - thuê dịch vụ đơn lẻ, 3PL - dịch vụ trọn gói tích hợp, 4PL - quản trị toàn bộ chuỗi cung ứng, 5PL - logistics thương mại điện tử dựa trên hệ thống điện tử); theo quá trình vận hành (logistics đầu vào, logistics đầu ra, logistics thu hồi); và theo danh mục tại Điều 3 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP.
  • Nhà đầu tư nước ngoài và hoạt động kinh doanh: Căn cứ khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020, NĐTNN được xác định dựa trên tiêu chí quốc tịch (cá nhân) hoặc nơi đăng ký thành lập (tổ chức). Tác giả tổng thuật lịch sử phát triển logistics từ quân sự trước năm 1850 đến ứng dụng công nghệ container (thập niên 1960 - 1970), công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và blockchain từ đầu thập niên 2000. Tại Việt Nam, quá trình phát triển trải qua các mốc: giai đoạn 1954 - 1975 (quản lý phân tán, phục vụ chiến tranh); năm 1970 (thành lập Cục kho vận kiêm Tổng Công ty giao nhận Ngoại thương và Công ty giao nhận đường bộ); năm 1976 (hợp nhất thành Viettrans); từ 1986 đến nay (mở cửa thu hút đầu tư, hướng tới mục tiêu năm 2025 đóng góp 8-10% GDP).
  • Khung pháp lý điều chỉnh: Khái niệm pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của NĐTNN được xác định là tổng thể các quy phạm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh khi NĐTNN kinh doanh logistics tại Việt Nam. Khung pháp lý này bao gồm 4 nội dung cốt lõi: quy định về điều kiện đầu tư/kinh doanh; quy định về hợp đồng dịch vụ logistics; quy định về quản lý nhà nước; quy định về giải quyết tranh chấp thương mại.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng các quy định pháp luật thực định, đối chiếu giữa quy định quốc gia với các cam kết quốc tế và chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý:

  • Điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài theo Nghị định số 163/2017/NĐ-CP:
    • Điều kiện chung: Phải đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật chuyên ngành đối với từng dịch vụ cụ thể và tuân thủ các quy định về thương mại điện tử nếu cung ứng dịch vụ qua phương tiện điện tử (khoản 2 Điều 4).
    • Điều kiện cụ thể theo Cam kết WTO (khoản 3 Điều 4): Ràng buộc về tỷ lệ sở hữu vốn góp, hình thức đầu tư và các điều kiện kỹ thuật kèm theo.
Phân nhóm dịch vụ logistics Tỷ lệ vốn góp NĐTNN tối đa Hình thức đầu tư / Điều kiện bổ trợ
Vận tải hàng hóa đường biển (trừ nội địa) Không quá 49% Thành lập công ty vận hành đội tàu treo cờ VN; thuyền viên nước ngoài không quá 1/3 định biên; Thuyền trưởng hoặc Thuyền phó thứ nhất phải là công dân VN.
Xếp dỡ container (hỗ trợ vận tải biển) Không quá 50% Thành lập doanh nghiệp, góp vốn/mua cổ phần hoặc Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC).
Xếp dỡ container (các phương thức khác, trừ sân bay) Không quá 50% Thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp.
Dịch vụ thông quan (hỗ trợ vận tải biển) Phải có vốn góp của NĐT trong nước Thành lập doanh nghiệp, góp vốn/mua cổ phần hoặc Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC).
Dịch vụ logistics khác (môi giới, kiểm định, lấy mẫu...) Phải có vốn góp của NĐT trong nước Thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp.
Vận tải đường thủy nội địa & đường sắt Không quá 49% Thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp.
Vận tải hàng hóa đường bộ Không quá 51% Thành lập DN, góp vốn/mua cổ phần hoặc BCC; 100% lái xe phải là công dân Việt Nam.
Vận tải hàng không Theo luật chuyên ngành Tuân thủ Luật Hàng không dân dụng 2006 và Nghị định số 92/2016/NĐ-CP.
Phân tích và kiểm định kỹ thuật Giới hạn theo lộ trình Phải có vốn NĐT trong nước sau 3 năm; không hạn chế vốn sau 5 năm (kể từ khi tư nhân được phép kinh doanh); không kiểm định/cấp chứng nhận phương tiện vận tải; hạn chế theo khu vực an ninh quốc phòng.
  • Phân tích các bất cập pháp lý then chốt:
    1. Bất cập về định danh "Điều kiện kinh doanh": Tác giả chỉ rõ việc Điều 4 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP dùng tên gọi "Điều kiện kinh doanh" là chưa chuẩn xác. Bản chất các giới hạn về tỷ lệ sở hữu vốn góp, hình thức đầu tư tại Điều 4 là "Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài" theo Điều 9 Luật Đầu tư năm 2020, chứ không phải "Điều kiện đầu tư kinh doanh" theo Điều 7.
    2. Mâu thuẫn với Phụ lục IV Luật Đầu tư năm 2020: Luật Đầu tư năm 2020 đã bãi bỏ ngành nghề dịch vụ logistics ra khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Việc văn bản dưới luật vẫn duy trì các điều kiện kinh doanh chung đối với toàn chuỗi tạo ra sự chồng chéo và gia tăng chi phí tuân thủ.
    3. Sai lệch về chủ thể áp dụng điều kiện: Khi NĐTNN thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam, chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ là tổ chức kinh tế đó, còn NĐTNN đóng vai trò góp vốn. Quy định gắn điều kiện kinh doanh trực tiếp vào NĐTNN là chưa tách bạch về tư cách pháp lý.
    4. Quyền lựa chọn điều ước quốc tế thuận lợi: Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP cho phép NĐTNN được chọn áp dụng điều kiện tại điều ước quốc tế có lợi nhất khi có sự xung đột quy định, tạo sự linh hoạt trong hội nhập.
  • Thực trạng hợp đồng dịch vụ logistics (Điều 235 đến Điều 240 Luật Thương mại năm 2005):
    • Pháp luật trao cho thương nhân quyền hưởng thù lao và các chi phí hợp lý khác, nhưng Luật Thương mại năm 2005 chưa định nghĩa rõ thế nào là "chi phí hợp lý" phát sinh (tiền cầu đường, lưu bãi, bảo quản phát sinh ngoài dự kiến), dễ dẫn đến tranh chấp.
    • Quyền thực hiện khác chỉ dẫn của khách hàng vì lợi ích khách hàng (điểm b khoản 1 Điều 235) mang tính định tính cao, thiếu tiêu chí định lượng rủi ro.
    • Quyền cầm giữ và định đoạt hàng hóa (Điều 239): Thương nhân có quyền cầm giữ hàng hóa và định đoạt sau 45 ngày kể từ ngày thông báo nếu khách hàng không trả nợ. Tuy nhiên, luật thiếu cơ chế bảo đảm thông báo đến tận tay khách hàng; thiếu quy định xử lý khi giá trị định đoạt hàng hóa cao hơn khoản nợ (trách nhiệm hoàn trả phần dôi dư) hoặc khi số tiền thu được không đủ bù đắp nợ.
    • Nghĩa vụ thực hiện công việc trong "thời hạn hợp lý" (điểm d khoản 1 Điều 235) chưa có hướng dẫn cụ thể về mặt thời gian và căn cứ xác định.

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Trên cơ sở định hướng mở cửa thị trường, tương thích với cam kết quốc tế và tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, tác giả đưa ra các kiến nghị:

  • Chuẩn hóa kỹ thuật lập pháp và thống nhất hệ thống pháp luật: Sửa đổi Điều 4 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP theo hướng chuyển đổi tên gọi và nội dung từ "điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics" thành "điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài", đảm bảo đồng bộ với Điều 9 Luật Đầu tư năm 2020 và Phụ lục IV của luật này.
  • Rà soát, cắt giảm điều kiện kinh doanh không cần thiết: Tiếp thu kiến nghị của VCCI để bãi bỏ điều kiện kinh doanh đối với các dịch vụ mang tính thương mại thông thường trong chuỗi logistics (như dịch vụ làm thủ tục hải quan, dịch vụ đại lý thuế) do thị trường tự điều tiết chất lượng thông qua cạnh tranh.
  • Nới lỏng tỷ lệ sở hữu nước ngoài (FOL): Tham khảo khuyến nghị của OECD về việc từng bước nâng trần sở hữu vốn của NĐTNN lên đến 100% trong trung và dài hạn đối với các phân ngành logistics thông thường, dịch vụ kho bãi, ứng dụng công nghệ cao không ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh.
  • Sửa đổi, bổ sung quy định về hợp đồng logistics trong Luật Thương mại năm 2005: Định nghĩa rõ danh mục "chi phí hợp lý"; bổ sung quy định cụ thể về phương thức gửi thông báo cầm giữ tài sản, quy trình định đoạt tài sản và cơ chế thanh toán phần tiền chênh lệch giữa giá trị tài sản cầm giữ và nghĩa vụ nợ; làm rõ tiêu chí xác định "thời hạn hợp lý".

Kết quả và đóng góp của khóa luận

  1. Kết quả nghiên cứu chính:
    • Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ pháp lý quốc gia (Luật Thương mại 2005, Luật Đầu tư 2020, Bộ luật Dân sự 2015) và các cam kết quốc tế (WTO, EVFTA, CPTPP) điều chỉnh hoạt động logistics của NĐTNN tại Việt Nam.
    • Làm rõ sự bất cập giữa việc Luật Đầu tư năm 2020 bãi bỏ dịch vụ logistics khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện với việc Nghị định số 163/2017/NĐ-CP vẫn áp đặt các rào cản dưới tên gọi "điều kiện kinh doanh".
    • Phân tích chi tiết bảng tỷ lệ sở hữu nước ngoài (FOL) theo 9 nhóm phân ngành dịch vụ logistics và cơ chế áp dụng điều ước quốc tế thuận lợi theo khoản 4 Điều 4 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP.
    • Nhận diện các lỗ hổng lập pháp trong chế định hợp đồng logistics tại Luật Thương mại năm 2005, bao gồm khái niệm "chi phí hợp lý", quy trình thực hiện quyền cầm giữ và định đoạt hàng hóa tại Điều 239.
  2. Đóng góp của khóa luận:
    • Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu tiếp cận dịch vụ logistics của NĐTNN dưới góc độ kết hợp giữa pháp luật thương mại và pháp luật đầu tư (xác định yếu tố đầu tư đi trước và chi phối hoạt động thương mại).
    • Đóng góp luận cứ khoa học để phân định rõ ràng giữa "điều kiện tiếp cận thị trường" (áp dụng cho NĐTNN ở giai đoạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư) và "điều kiện đầu tư kinh doanh" (áp dụng cho tổ chức kinh tế ở giai đoạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp).
    • Đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể, có tính khả thi nhằm sửa đổi Nghị định số 163/2017/NĐ-CP và Luật Thương mại năm 2005, hỗ trợ thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia theo Quyết định số 200/QĐ-TTg.

Hạn chế và hướng phát triển đề tài

  • Hạn chế của đề tài: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu ở góc độ phân tích pháp luật thực định và khung chính sách hiện hành tại Việt Nam đến thời điểm năm 2023. Do khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân, đề tài chưa thể đi sâu vào khảo sát thực chứng định lượng trên diện rộng về số lượng hồ sơ cấp phép thực tế hoặc phân tích chuyên sâu các bản án, phán quyết trọng tài thương mại quốc tế liên quan đến tranh chấp logistics tại Việt Nam.
  • Hướng phát triển đề tài:
    • Nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư (ISDS) trong lĩnh vực dịch vụ logistics theo các FTA thế hệ mới (EVFTA, CPTPP).
    • Nghiên cứu khung pháp lý điều chỉnh các mô hình logistics hiện đại như E-logistics (logistics thương mại điện tử xuyên biên giới), logistics xanh (Green Logistics) và logistics tuần hoàn (Reverse Logistics) nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại Quốc tế, Quản trị Logistics và Chuỗi cung ứng, Kinh tế Quốc tế.
  • Nội dung tham khảo hữu ích:
    • Bảng đối chiếu tỷ lệ sở hữu nước ngoài và điều kiện tiếp cận thị trường của NĐTNN trong từng phân ngành dịch vụ logistics theo Cam kết WTO và Nghị định 163/2017/NĐ-CP.
    • Lập luận phân tích về sự xung đột giữa Luật Đầu tư năm 2020 và Nghị định số 163/2017/NĐ-CP đối với việc định danh điều kiện kinh doanh.
    • Các phân tích pháp lý về chế định hợp đồng dịch vụ logistics tại Luật Thương mại năm 2005 (quyền cầm giữ hàng hóa, chi phí hợp lý).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ sở hữu vốn góp tối đa của nhà đầu tư nước ngoài trong các phân ngành logistics theo Nghị định 163/2017/NĐ-CP và cam kết WTO được quy định như thế nào?

Theo khoản 3 Điều 4 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, tỷ lệ vốn góp của NĐTNN được quy định cụ thể:

  • Dịch vụ vận tải hàng hóa đường biển (trừ nội địa): Không quá 49% vốn điều lệ; thuyền viên nước ngoài không quá 1/3 định biên; Thuyền trưởng hoặc Thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam.
  • Dịch vụ xếp dỡ container (hỗ trợ vận tải biển và các phương thức khác, trừ sân bay): Không quá 50% vốn điều lệ.
  • Dịch vụ vận tải hàng hóa đường thủy nội địa và đường sắt: Không quá 49% vốn điều lệ.
  • Dịch vụ vận tải hàng hóa đường bộ: Không quá 51% vốn điều lệ và 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.
  • Dịch vụ thông quan và các dịch vụ logistics khác (môi giới, kiểm định, lấy mẫu...): Phải có vốn góp của nhà đầu tư trong nước.

2. Tại sao khóa luận cho rằng tên gọi "Điều kiện kinh doanh" tại Điều 4 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP là chưa phù hợp với Luật Đầu tư năm 2020?

Khóa luận chỉ ra hai lý do chính:

  1. Xét về bản chất, các quy định tại Điều 4 (giới hạn tỷ lệ sở hữu vốn, hình thức đầu tư, năng lực đối tác) đồng nhất với quy định về "Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài" theo Điều 9 Luật Đầu tư năm 2020, chứ không phải "Điều kiện đầu tư kinh doanh" theo Điều 7.
  2. Luật Đầu tư năm 2020 đã bãi bỏ ngành nghề kinh doanh dịch vụ logistics ra khỏi Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (Phụ lục IV). Do đó, việc văn bản dưới luật vẫn dùng thuật ngữ "điều kiện kinh doanh" gây ra mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật và tạo sự lúng túng khi áp dụng.

3. NĐTNN có quyền gì khi các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có quy định khác nhau về điều kiện kinh doanh logistics?

Căn cứ khoản 4 Điều 4 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, trong trường hợp NĐTNN thuộc đối tượng áp dụng của các điều ước quốc tế có quy định khác nhau về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, NĐTNN được quyền lựa chọn áp dụng điều kiện đầu tư quy định tại một trong các điều ước quốc tế đó nhằm tối ưu hóa quyền lợi và thuận lợi khi gia nhập thị trường.

4. Pháp luật hiện hành quy định về quyền cầm giữ và định đoạt hàng hóa của thương nhân logistics như thế nào và có điểm vướng mắc gì?

Theo Điều 239 Luật Thương mại năm 2005, thương nhân có quyền cầm giữ một lượng hàng hóa nhất định và chứng từ liên quan để đòi nợ đến hạn, nhưng phải thông báo cho khách hàng. Sau 45 ngày kể từ ngày gửi thông báo, nếu khách hàng không thanh toán nợ, thương nhân có quyền định đoạt hàng hóa. Vướng mắc pháp lý được khóa luận chỉ ra là: luật chưa có cơ chế đảm bảo thông báo gửi đi đến được tận tay khách hàng; chưa có quy định bắt buộc hoàn trả phần tiền chênh lệch cho khách hàng nếu giá trị hàng hóa định đoạt cao hơn khoản nợ, cũng như chưa có hướng dẫn giải quyết khi số tiền thu được không đủ trả nợ.

5. Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ đặt ra các chỉ tiêu phát triển logistics nào đến năm 2025?

Quyết định số 200/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển ngành dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 đề ra 06 mục tiêu và 60 nhiệm vụ cụ thể, trong đó có các chỉ tiêu:

  • Tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 8% - 10%.
  • Tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15% - 20%.
  • Tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50% - 60%.
  • Chi phí logistics giảm xuống tương đương 16% - 20% GDP.
  • Xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) trên thế giới đạt từ 50 trở lên.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa đã hoàn thành việc nghiên cứu có hệ thống về thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Công trình đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa pháp luật thương mại và pháp luật đầu tư, đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn giữa Nghị định số 163/2017/NĐ-CP với Luật Đầu tư năm 2020 và các khoảng trống trong Luật Thương mại năm 2005. Những định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật do tác giả đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, thúc đẩy phát triển thị trường logistics quốc gia theo các cam kết quốc tế.